TỐ CÁO Nhà Nước CHXHCNVN vi phạm Nhân quyền trước ĐHĐ LIÊN HIỆP QUỐC

 

               THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI GENÈVE NGÀY 14.9.2012

               Trước Hội đồng Nhân quyền LHQ ở Genève : Ông Võ Văn Ái tố cáo Hà Nội vi phạm các nhân quyền cơ bản, đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, các bloggers Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và ký giả Hoàng Khương

 

 

GENÈVE, ngày 14.9.2012 (QUÊ MẸ) – Vào chiều ngày thứ sáu, 14.9.12, trước cuộc họp khoáng đại của Hội đồng nhân quyền LHQ ở Genève, ông Võ Văn Ái đã lên tiếng tố cáo Hà Nội vi phạm các nhân quyền cơ bản, đặc biệt các quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do biểu tình, tự do lập hội.

 

Ông Võ Văn Ái phát biểu tại Hội trường LHQ ở Genève – Hình Quê Mẹ

Đây là khóa họp lần thứ 21 của Hội đồng nhân quyền LHQ tại điểm 3 của Nghị trình về Thăng tiến và bảo vệ các nhân quyền, dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, kể cả quyền phát triển.

 

Nhân danh Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, kết hợp với Tổ chức Hành động Chung cho Nhân quyền, Ông Võ Văn Ái đã phát biểu như sau :

 

Thưa Ông Chủ tịch,

 

Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam và Tổ chức Hành Động Chung Cho Nhân quyền, xin được nói lên mối âu lo trước muôn nghìn hành động đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam chống lại xã hội dân sự.

 

 Thoát khỏi cái nhìn của cộng đồng thế giới, Việt Nam tiếp tục đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong âm thầm nhưng thường trực. 20 Ban Đại diện của Giáo hội lo giúp đỡ dân chúng đói nghèo, thế nhưng mọi thành viên và Phật tử của các Ban Đại diện bị sách nhiễu và hăm dọa mỗi ngày. Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ, bị giam cầm không lý do gần 30 năm, hiện vẫn bị quản chế trong ngôi chùa ở thành phố Hồ Chí Minh. Ngài không được sinh hoạt tôn giáo và bị cấm cố chẳng được đi đâu, đặc biệt ngày chủ nhật, là ngày có những cuộc biểu tình hằng tuần chống xâm lược Trung quốc.

 

Công an Đà Nẵng vặn tay, đánh đập HT Thích Thanh Quang, và Htr. Lê Công Cầu, đầu tóc bạc bên phải – Hình Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc tế.

Ở thành phố Đà Nẵng, Phật tử cấm không được cử hành các đại lễ Phật giáo chỉ vì họ thống thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, là giáo hội bị nhà nước cố kết là “tổ chức phản động, bất hợp pháp và chống đối nhà nước”. Tháng tám vừa qua, 2012, Hòa thượng Thích Thanh Quang và ông Lê Công Cầu bị những người mặc thường phục đánh đập trước sự chứng kiến của sĩ quan công an. Thay vì can thiệp hay lắng nghe lời kêu than, công an còn bắt ông Lê Công Cầu về đồn thẩm vấn.

 

Mặt khác, Việt Nam đàn áp các bloggers và ký giả, nhìn bề ngoài coi như hợp pháp nhưng trái chống với luật pháp quốc tế. Dựa vào sự buộc tội “hổ lốn” nhà cầm quyền Việt Nam bóp nghẹt mọi tiếng nói không ăn nhịp với nhà nước.

 

Nhà báo chống tham nhũng Hoàng Khương vừa bị kết án 4 năm tù hôm 7.9 vừa qua vì tội “tham nhũng”, thực tế chỉ vì ông ta viết những bài trên báo Tuổi Trẻ tố cáo công an giao thông tham nhũng.

 

Các bloggers Nguyễn Văn Hải (bút danh Điếu Cày), Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần đang chờ bị xét xử về tội “tuyên truyền chống phá Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (điều 88 Luật Hình sự), nhưng trong thực tế họ chỉ đòi hỏi tôn trọng nhân quyền và dân chủ qua các bài viết của họ.

 

Phiên xử họ được công bố vào tháng Tư 2012, nhưng đã hoãn tới ba lần vì những phản ứng quốc tế, và nay hoãn lại vô thời hạn.

 

Từ trái qua phải Tạ Phong Tần, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải – Hình của Dân Làm Báo

 

Những vụ việc nói trên trong bao nhiêu chuyện khác, cho thấy một Nhà nước pháp quyền chưa hiện hữu tại Việt Nam. Mọi công dân đều có thể bị kết tội một cách huyễn hoặc, bị kết án trước khi đưa ra xử, mọi công dân chỉ được quyền câm lặng. Chúng tôi xin cung cấp Hội đồng Nhân quyền LHQ một danh sách 180 tù nhân vì lương thức và tù nhân chính trị.

 

Thưa Ông Chủ tịch,

 

Việt Nam phải chấm dứt ngay những vi phạm hiển nhiên về tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, và bảo đảm quyền được xét xử công minh cũng như tuân thủ quy tắc không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án (điều 9 trong bộ Luật Tố tụng hình sự).

 

Chúng tôi yêu cầu Hội đồng Nhân quyền LHQ kêu gọi Việt Nam ngưng ngay mọi hình thức đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trả tự do tức khắc cho Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ. Áp dụng Quyết Nghị về tự do ngôn luận trên Internet của Hội đồng Nhân quyền LHQ, các bloggers Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần phải được tức khắc trả tự do.

 

Xin cám ơn Ông Chủ tịch.TỔNG KẾT CUỘC CHIẾN

LTS: Cuộc chiến Việt Nam đã xem như chấm dứt được ba mươi bảy năm nhưng vẫn còn để lại những “Hội Chứng Việt Nam” trong lòng tất cả con dân nước Việt. Cho đến ngày nay, kể cả những người từng tham dự cuộc chiến, cầm súng chiến đấu vẫn không nhận chân được vấn đề là bản chất của cuộc chiến Việt Nam? Chiến tranh Việt Nam có phải là cuộc chiến để giành độc lập dân tộc như Cộng Sản Việt Nam vẫn rêu rao tuyên truyền? Thật vậy, đồng bào miền Bắc nhất là các đảng viên đoàn viên bị nhồi nhét tuyên truyền “Bác Hồ” là người yêu nước và đảng Cộng sản Việt Nam có công giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp. Trong khi đó, Đồng bào trong Nam thì chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh ý thức hệ để ngăn chặn làn sóng đỏ, bảo vệ miền Nam tự do. Đối với đa số quần chúng nhân dân thì hiểu đơn giản là cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn. Thật vậy, đối với quần chúng và nhất là giới nghệ sĩ thì đó là một cuộc nội chiến tương tàn “Ba mươi năm nội chiến từng ngày …” nồi da xáo thịt “Người chết hai lần … thịt da nát tan …!” khiến 4 triệu đồng bào Việt Nam ở miền Bắc đã hi sinh cho một cuộc chiến vô nghĩa. Sở dĩ CSVN còn tồn tại tới giờ này vì đa số đảng viên CS tuy thất vọng về tập đoàn lãnh đạo Việt gian CS nhưng vẫn còn biện minh, bám víu vào luận điểm cho rằng HCM và đảng CSVN có công giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Một khi biết rõ sự thật lịch sử thì họ sẽ cùng với toàn dân đứng lên chuyển đổi lịch sử trong nay mai.

     Chính vì vậy, chúng ta phải tìm hiểu bản chất của cuộc chiến hay nói cách khác, hiểu rõ ý đồ của các thế lực quốc tế toan tính những gì trên xương máu mồ hôi và nước mắt của toàn dân Việt Nam, từ đó chúng ta mới thấy rõ toàn bộ vấn đề. Để hiểu rỏ bản chất cuộc chiến Việt Nam, với tư cách một người nghiên cứu lịch sử trên quan điểm dân tộc, chúng tôi chỉ đưa ra những nhận định trung thực không nhằm mục đích tuyên truyền cho một chế độ nào, một đảng phái chính trị nào. Chúng ta cùng lược duyệt các sự kiện lịch sử trọng yếu, các hiệp ước quốc tế liên quan đến Việt Nam đối chiếu với thực tế chính trị sau đây:

- Hiệp Ước Patenôtre 1884 ký kết ngày 6-6-1884 giữa triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp qui định Nam Kỳ Tự trị và Pháp chính thức áp đặt chế độ bảo hộ Bắc và Trung Việt Nam.

- Ngày 9-3-1945, Quân Phiệt Nhật lật đổ Thực dân Pháp. Ngày 11-3-1945, Cơ Mật Viện triều Nguyễn họp khẩn cấp và ra tuyên bố “Huỷ bỏ Hiệp ước 1884 và Khôi phục chủ quyền cuả  Việt Nam”. Ngày 12-3-1945, Cao Miên tuyên bố độc lập và ngày 15-4-1945, Lào tuyên bố độc lập. Ngày 8-5-1945, Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố chương trình Hưng Quốc, lá cờ “Quẻ Ly” được chọn làm quốc kỳ và bài “Đăng Đàn” của triều đình nhà Nguyễn được chọn làm quốc ca.

- Ngày 17-8-1945, Tổng hội giáo giới tổ chức cho công chức Hà Nội biểu tình để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc biểu tình diễn hành qua các đường phố thì cán bộ CS trương cờ đỏ sao vàng biến cuộc biểu tình của công chức thành biểu tình ủng hộ mặt trận Việt Minh. Ngày 19-8-1945, biểu tình lớn tại nhà hát lớn Hà Nội, mặt trận Việt Minh xuất hiện cùng với cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi. Việt Minh “Cướp Chính quyền”, chiếm các công sở trong thành phố. Ngày 22-8-1945, Mặt Trận Việt Minh chính thức xuất hiện tại Hà Nội và Sài Gòn. Vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị. 

- Ngày 2-9-1945, Hồ Chí  Minh độc “Tuyên ngôn Độc lập” và trình diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hà Nội. Ngày 11-11-1945, Đảng CS Đông Dương tuyên bố tự giải tán để trở thành “Nhóm Nghiên cứu Mác Xít”.

- Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh ký kết hiệp ước sơ bộ với Pháp cho phép quân Pháp đổ bộ vào Bắc bộ thay thế quân đội Trung Hoa hậu thuẫn cho Việt Nam Quốc Dân Đảng để rảnh tay tiêu diệt đối thủ là VNQD. Ngày 19-12-1946, Chiến tranh Việt Pháp bùng nổ bắt đầu từ Hà Nội. 

- Ngày 5-6-1948 công bố bản Tuyên ngôn Vìệt Pháp trên chiến hạm Duguay-Trouin tại vịnh Hạ Long giữa Cao Ủy Pháp Émile Bollaert và Thủ tướng Lâm thời Nguyễn văn Xuân. Tuyên ngôn vịnh Hạ Long minh định Pháp quốc thừa nhận Việt Nam là một quốc gia Độc lập và thống nhất trong Liên Hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết.

-. Ngày 14-1-1950, nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc chính thức thừa nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ngày 31-1-1950, Liên bang Sô Viết thừa nhận Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chính thức đứng vào hàng ngũ các nước cộng sản nên Trung Quốc bắt đầu công khai viện trợ vũ khí tối tân cho VNDCCH.

-. Ngày 7-2-1950, Hoa Kỳ, Anh quốc thừa nhận quốc gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa CS xuống Đông Nam Á. Kể từ thời điểm này, cuộc chiến Việt Nam không còn là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mà đã trở thành cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa 2 hệ thống tư tưởng: Chủ nghĩa CS và chủ nghĩa Tư Bản của thế giới tự do.

-. Ngày 20-7-1954, Ký kết thỏa ước ngưng bắn giữa Giữa Pháp và Việt Minh. Tuyên bố chung kết Hội nghị Genève qui định các điều khoản chính trị về việc tạm thời chia đôi đất nước và tổ chức Tổng tuyển cử được Anh, Pháp, Ai Lao, Trung Quốc, Liên Sô, Cambodia và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận. Tuyên bố Chung kết không được thi hành vì Hoa Kỳ không thỏa thuận và không hỗ trợ Tuyên bố Chung này. Ngay khi các bên vừa đặt bút ký kết hiệp định, Ngoại trưởng Trần văn Đỗ khóc và tuyên bố Chính phủ Quốc Gia Việt Nam phản đối việc ký kết hiệp định đình chiến trái với nguyện vọng độc lập và thống nhất của dân tộc Việt Nam cũng như sự lạm quyền của Tổng tư lệnh Pháp tự ý ấn định ngày tổng tuyển cử… Tuy nhiên, Việt Nam cũng cố gắng hoan nghênh mọi nỗ lực để tái lập hòa bình và không dùng võ lực để cản trở việc thi hành hiệp định”.

- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Cộng tuyên bố quyền làm chủ biển Đông. Ngày 14-9-1958, Thủ tướng VNDCCH gửi thư cho Thủ tướng quốc vụ viện Chu Ân Lai “Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

- Mao Trạch Đông tuyên bố trắng trợn ý đồ xâm chiếm Miền Nam Việt Nam như sau: Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”. CSVN nhận chỉ thị phát động cuộc chiến tranh “Giải phóng” miền Nam VN. Tháng 4 năm 1959, Ủy ban Trung ương đảng họp lần thứ 15 quyết định dùng vũ lực xâm chiếm miền Nam Ngày 20-12-1960: Hà Nội công bố Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam do LS Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch. 

- Ngày 27-1-1973 Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã ký HIỆP ĐỊNH CHẤM DỨT CHIẾN TRANH VÀ TÁI LẬP HÒA BÌNH TẠI VIỆT NAM Hiệp Định Hòa Bình Paris nhằm “kết thúc chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam”. Vào lúc ký hiệp định, VNCH kiểm soát 75% lãnh thổ và 85% dân số.

Điều 15 qui định “Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Nam và Miền Bắc, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào, thời gian thống nhất sẽ do Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam đồng thỏa thuận.

 TNG KT CUC CHIN TRANH VIT NAM  

    Việt Nam với bờ biển dài như hình chữ S nhìn ra biển Đông Thái Bình Dương, khống chế toàn bộ hải trình từ Đông sang Tây và ngược lại nên được xem như “ngã tư giao thương quốc tế”. Ngoài vị trí “địa lý chiến lược” hết sức quan trọng, Việt Nam còn có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một hải phận rộng 1 triệu km2 với trữ lượng dầu hỏa tiềm tàng đã khiến các cường quốc luôn tìm mọi cách xâm chiếm, can thiệp vào Việt Nam. Lịch sử cận đại chứng minh khu vực Đông Nam Á nói chung và Đông Dương nói riêng là một khu vực địa lý-chính trị và quân sự nên cuộc chiến tranh ở Việt Nam kéo theo cả Đông Dương (Việt, Miên, Lào) và cả khối Đông Nam Á trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo ở vùng này.

    Ngày 3-2-1930 Hồ Chí Minh thành lập đảng CSVN đến tháng 10-1930 theo chỉ thị của Cộng sản quốc tế đổi tên là đảng Cộng Sản Đông Dương. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh thực dân Pháp. Ngày 11-3-1945, Cơ Mật Viện triều Nguyễn họp khẩn cấp và ra tuyên bố “Huỷ bỏ Hiệp ước 1884 và Khôi phục chủ quyền cuả  Việt Nam”. Ngày 12-3-1945, Cao Miên tuyên bố độc lập và ngày 15-4-1945, Lào tuyên bố độc lập. Như vậy, Việt Nam trên nguyên tắc đã chính thức độc lập kể từ ngày 11-3-1945 với chính phủ Trần Trọng Kim đầu tiên trong lịch sử. Cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp mà Cộng Sản phát động dưới danh nghĩa giải phóng các dân tộc Việt Miên Lào trong thực chất là để bành trướng chủ nghĩa  Cộng Sản, nhuộm đỏ cả Đông Dương để mở đường cho Trung Cộng tiến xuống Đông Nam Á. Ngày 14-1-1950, Trung Quốc công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 31-1-1950 Liên Sô công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa là nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á nên ngày 7-2-1950, Anh, Hoa Kỳ và các nước tự do công nhận chính phủ quốc gia Bảo Đại. Hồ Chí  Minh lãnh đạo chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chính thức đứng vào hàng ngũ Cộng Sản nên cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc đã trở thành chiến tranh ý thức hệ giữa Cộng Sản và tư bản, đưa dân tộc Việt Nam vào thế khốn cùng. Để lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân, ngày 11-11-1945, đảng Cộng Sản Đông Dương giải tán rồi thành lập đảng Lao Động (16-3-1951) trá hình của đảng  Cộng Sản để lãnh đạo phong trào Việt Minh. 

    Ngày 2-6-1948, thành lập chính phủ Trung Ương Lâm thời do Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng, ban hành Hiến chương Lâm thời của nước Việt Nam, chọn quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ và bài “Thanh niên Hành khúc” sau khi đã đổi lời của Lưu Hữu Phưóc làm quốc ca. Ngày 5-6-1948 công bố bản Tuyên ngôn Vìệt Pháp gọi là Tuyên ngôn vịnh Hạ Long minh định Pháp quốc thừa nhận Việt Nam là một quốc gia Độc lập và thống nhất trong Liên Hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết.

    Từ tháng 8-1945 đến 1-1946, Hồ Chí Minh đã gửi 8 bức thư cho TT Harry S Truman và bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi HK xin được công nhận và giúp ngăn quân đội Pháp trở lại Đông Dương. Thế nhưng, toán OSS cơ quan tình báo chiến lược của Hoa Kỳ ở Đông Dương do Thiếu tá Thomas More và Đại úy Patty sống cùng với Hồ Chí Minh trong hang Pắc Pó đã báo cáo Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Ái Quốc, nhận chỉ thị của Đệ tam quốc tế CS nên vẫn sinh hoạt đảng, hát quốc tế ca, học tập chủ nghĩa Mác Lê. Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã không công nhận chính phủ Hồ Chí Minh. Nếu là bất cứ người Việt Nam nào thì vận mệnh đất nước Việt Nam đã thay đổi ngay từ lúc đó, nếu không độc lập ngay thì cũng hưởng qui chế chế độ Ủy trị của Liên Hiệp Quốc. Đặc biệt là sau thế chiến lần thứ hai, với sự ra đời của Liên Hiệp Quốc và nhất là chủ trương giải thực của Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt đã mở đầu cho phong trào dân tộc tự quyết của các quốc gia Đông Nam Á. Indonesia tuyên bố độc lập ngày 17 tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Philippines năm 1946, Burma giành lại độc lập từ tay người Anh năm 1948 và Pháp chính thức rút khỏi Đông Dương sau hiệp định Genève 20-7-1954. Người Anh đã trao lại độc lập cho Malaya năm 1957 và sau đó là Singapore, SabahSarawak năm 1963 trong khuôn khổ Liên bang Malaysia.

    Từ thực tế lịch sử trên, nếu Hồ Chí Minh không đem chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam thì đất nước chúng ta đã độc lập mà không phải hy sinh oan uổng hàng triệu người Việt Nam vô tội cho tham vọng xâm lược bành trướng của Cộng sản. Chính Cộng Sản Việt Nam đã phản bội kháng chiến để thỏa hiệp với thực dân Pháp, ký kết hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia đôi đất nước trong lúc cao trào kháng chiến của toàn dân đang trên đà thắng lợi. Chính phủ quốc gia Việt Nam không đặt bút ký kết hiệp định Genève để phản đối sự cấu kết giữa Cộng sản và thực dân Pháp chia đôi đất nước. Nguồn sử liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam sau này cho biết Trung ương đảng đã nhận chỉ thị của đảng Cộng Sản Trung Quốc ký kết chia đôi đất nước. Ngay khi vừa ký hiệp định, Cộng Sản Việt Nam đã chỉ thị cho 85 ngàn đảng viên chưa bị lộ rút vào hoạt động bí mật, chôn giấu hơn 1 vạn súng và nhiều điện đài. Đến năm 1955, bộ máy chỉ đạo của đảng từ xứ ủy, tỉnh ủy đến huyện ủy đã được sắp xếp xong và chuyển hướng hoạt động bí mật chờ thời cơ.

    Ngày 8-9-1954, Liên minh Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization gọi tắt là SEATO) được thành lập bao gồm 8 nước là Australia, Pháp, Anh, New Zealand, Pakistan, Philippine, Thái Lan và Hoa Kỳ để ngăn chặn sự xâm lược của chủ nghĩa Cộng Sản xuống Đông Nam Á. Ngày 20-11-1954, Thủ tướng Pháp Mendès France viếng thăm Hoa Kỳ xác nhận: “Chấm dứt sự kiểm soát của Pháp về kinh tế, thương mại và tài chánh tại Việt Nam : Chuyển giao quân đội Quốc gia cho Việt Nam, chuyển giao trách nhiệm huấn luyện quân đội quốc gia cho Hoa Kỳ và rút hết quân đội Viễn chinh Pháp ra khỏi Việt nam ”. Ngày 9-8-1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố chính phủ của ông không ký hiệp định nên không bị ràng buộc bởi hiệp định Genève và việc bầu cử không thể  thực hiện được “Chừng nào mà chế độ Cộng Sản chưa cho phép người dân Việt nam được hưởng những quyền tự do dân chủ và những quyền căn bản của con người.”. 

    Ngay sau khi vừa đặt bút ký hiệp định Genève, Ban chấp hành trung ương đảng Lao Động trá  hình của đảng Cộng Sản Việt Nam đã họp để chuẩn bị sách lược đấu tranh thống nhất đất nước. Các cơ sở đảng để lại sau hiệp định có nhiệm vụ phát động nhân dân đấu tranh chính trị đòi hiệp thương giữa 2 miền Nam Bắc, thực hiện tổng tuyển cử, phong trào hòa bình Sài Gòn Chợ Lớn đòi các quyền tự do dân chủ… Để đối phó với các hoạt động nằm vùng này, giữa năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm cho phát động chiến dịch “Tố Cộng” trên toàn quốc. Trước những thiệt hại nặng nề này, Cộng Sản Việt Nam quyết định tiến hành khủng bố và ám sát những viên chức địa phương, những giáo viên có lập trường quốc gia. Theo báo cáo của tòa Đại sứ HK thì cuối năm 1960 đã có 700 viên chức Việt Nam Cộng Hòa bị sát hại. Tháng giêng năm 1959, đảng Lao Động (CSVN) ra nghị quyết kết hợp đấu tranh chính trị với lực lượng vũ trang, chuyển người và vũ khí vào miền Nam. Tháng 3 năm 1959, chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt Việt Nam Cộng Hòa trong tình trạng chiến tranh.

    Sau khi Trung Cộng đánh chiếm Tây Tạng năm 1959, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore.Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …” nên tháng 4 năm 1959, Ủy ban Trung ương đảng họp lần thứ 15 quyết định dùng vũ lực xâm chiếm miền Nam. Ngày 20-12-1960, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam do LS Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch được thành lập với chiêu bài “Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập, tiến tới thống nhất tổ quốc”. Đầu năm 1961, quân đội giải phóng Miền Nam Việt nam hoạt động mạnh với 3 thành phần gồm đội quân chủ lực là binh sĩ miền Bắc và cán bộ tập kết trở về, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ hoạt động hiệu qủa ở miền Nam. Chính phủ Hoa Kỳ đưa ra sách lược chống du kích do sir Robert Thompson người Anh cố vấn cho chính phủ Ngô Đình Diệm, đồng thời gia tăng quân số, vũ khí với sự giúp đỡ của cố vấn Hoa Kỳ. Giữa năm 1961, kinh tế gia Eugene Staley được phái sang cố vấn chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thành lập Ấp Chiến lược để tách rời dân chúng ra khỏi sự kiểm soát khống chế của quân Cộng sản. Ngày 11-10-1961, Thống tướng Maxwell Taylor được TT Kennedy cử sang nghiên cứu tình hình nghiêm trọng của VN về phúc trình lên TT là để ngăn chặn quân xâm nhập từ miền Bắc qua biên giới Lào cần ít nhất là 3 sư đoàn quân chiến đấu Mỹ. Bản phúc trình của bộ trưởng quốc phòng Mac namara và bộ trưởng Ngoại giao Dean Rush đều nhấn mạnh trách nhiệm của Hoa Kỳ là phải bảo vệ Việt Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản. Bản phúc trình viết “… Chúng ta phải chuẩn bị để đưa lực lượng chiến đấu Hoa Kỳ vào Việt Nam nếu điều đó cần thiết để thành công. Tùy theo hoàn cảnh, có thể quân đội Hoa Kỳ cũng phải đánh vào nguồn xâm lược ở Bắc Việt”.  

     Trước tình hình này, TT Ngô Đình Diệm ban bố tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc ngày 15-10-1961. Ngày 3-2-1962, thành lập ủy ban trung ương đặc trách ấp chiến lược do cố vấn Ngô Đình Nhu chỉ huy. Theo báo cáo kết qủa 1 năm thực hiện đã lập xong 5.917 ấp chiến lược qui tụ 8 triệu dân. Bộ chỉ huy yểm trợ Quân sự Hoa Kỳ (MACV) được thành lập, số cố vấn quân sự tăng từ 700 lên 12.000 người vào giữa năm 1962.

    Ngày 23-7-1962, Hiệp định Trung lập Lào được ký kết, phe tả đã đưa Pathet Lào vào chính phủ liên hiệp để không cho Hoa Kỳ can thiệp vào tình hình Lào. Đồng thời, quân Cộng sản vẫn sử dụng đường mòn Hồ Chí Minh ở phiá Đông do phe Pathet Lào kiểm soát để chuyển vận ồ ạt vũ khí đạn dược vào chiến trường miền Nam. Từ năm 1962, đường mòn được mở rộng để cho những đoàn xe tải dài từ 50 đến 75 dặm (miles) di chuyển vào ban đêm dưới sự bảo vệ của trên 70 ngàn quân chính qui Cộng sản. Mỗi tháng có thể chuyển được 8 ngàn quân và 10 ngàn tấn vũ khí đạn dược cung ứng cho nhu cầu chiến trường ngày càng ác liệt.

    Trong khi quân Cộng sản quấy rối khắp nơi thì tình hình chính trị miền Nam có nhiều rối loạn kể từ cuối năm 1960 với cuộc đảo chánh của tư lệnh lực lượng nhảy dù. Cuộc đảo chánh do các đảng phái quốc gia tổ chức tuy thất bại nhưng chứng tỏ sự suy yếu của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ngay từ khi về nhận chức Thủ Tướng, ông Ngô Đình Diệm đã được sự ủng hộ nồng nhiệt của quân đội quốc gia và 1 triệu đồng bào di cư. Chính sự ủng hộ này khiến TT Ngô Đình Diệm và nhất là cố vấn Ngô Đình Nhu có những tính toán chủ quan sai lầm dẫn đến sự sụp đổ của nền đệ nhất Cộng Hòa. Việc dẹp Bình Xuyên là cần thiết nhưng dẹp luôn các giáo phái khác và các đảng phái quốc gia nhất là áp dụng triệt để dụ số 10 ngăn cấm hoạt động của một số hội đoàn, các tôn giáo đã gây nên sự chia rẽ trong hàng ngũ quốc gia. Ngày 7-7-1963, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã tự vẫn trong tù để lại di chúc “Lịch sử” đắng cay cho những người quốc gia: “Ðời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do”.

    Đầu tháng giêng năm 1963, Cộng quân tấn công ấp Bắc gây tiếng vang bất lợi cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại quốc hội Hoa Kỳ. Theo phúc trình của phái bộ  quân sự  Mỹ  Macv thì Cộng quân kiểm soát được gần một nửa dân số và lãnh thổ về ban đêm. Ngày 15-12-1964, bộ trưởng quốc phòng Mac Namara phải sang Việt Nam thị sát tình hình. Một kế hoạch có tên là Oplan 34A áp dụng biện pháp mạnh để thuyết phục Hà Nội vì lợi ích của chính họ mà từ bỏ ý định xâm lược miền Nam. Kế  hoạch chưa thi hành thì vụ Maddox xảy ra. Hạm trưởng chiến hạm Maddox loan báo chiến hạm bị các tiểu đĩnh của Cộng Sản dự định tấn công ngoài hải phận quốc tế từ ngày 2 đến 4 tháng 8-1964. Ngày 5-8-1964, sau cuộc họp với lãnh tụ lưỡng đảng quốc hội, TT Hoa Kỳ Johnson ra lệnh oanh tạc Bắc Việt. Nghị  quyết “Vịnh Bắc Việt” được quốc hội thông qua ngày 7-8 với đa số phiếu tuyệt đối ở hạ viện và 88-2 ở thượng viện cho phép quân đội HK được tham chiến mở đầu cho thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất tại Việt Nam từ 1965 đến 1973.

    Trước khi có những biện pháp quyết liệt, ngày 13-8 TT Johnson đã nhờ trung gian Seaborn trong phái đoàn Canada gặp Phạm văn Đồng một lần nữa để nhắc lại đề nghị của Mỹ hồi tháng 6 về việc “nhận viện trợ hay bị tàn phá?” thì Phạm văn Đồng nhẹ nhàng nhắc Seaborn rằng lần sau trở lại với những đề nghị mới của Mỹ nên dựa trên căn bản hiệp định Genève. Sau khi quân Cộng sản tấn công phi trường Pleiku ngày 7-2-1965, máy bay Mỹ từ đệ thất hạm đội tấn công cơ sở quân sự ở Đồng Hới. Chiến dịch “Sấm Rền” với hàng trăm phi cơ tấn công các kho đạn, các cầu đường ở miền Bắc.

     Sau khi đưa ra các đề nghị không được Cộng Sản Việt Nam chấp nhận, ngày 8-3-1965 hai tiểu đoàn Thủy quân lục chiến đổ bộ Đà Nẵng để giữ an ninh cho phi trường. Cộng Sản Việt Nam tuy tuyên bố mạnh nhưng cũng hiểu rõ quyết tâm của Hoa Kỳ nên Phạm văn Đồng mới bắn tiếng đề nghi Hoa Kỳ thương thuyết trên căn bản hiệp định Genève. Khi Hoa Kỳ leo thang oanh tạc miền Bắc thì quốc tế Cộng Sản phải vận động tuyên truyền cho phong trào phản chiến trên toàn thế giới chống chiến tranh. Ngày 16-10-1965, những cuộc biểu tình chống chính sách Mỹ tại VN được tổ chức đồng loạt tại London, Copenhagen, Stockholm, Brussels, Rome và 40 thành phố ở Hoa Kỳ.

    Tính đến cuối năm 1965 thì số quân Mỹ tham chiến là 175 ngàn. Chi phí chiến tranh cũng tăng lên đến 2,9% của ngân sách quốc gia. Ngày 29-9-1967, Tổng Thống Johnson đọc diễn văn ở San Antonio hứa ngưng oanh tạc nếu Cộng Sản Việt Nam không lợi dụng việc ngưng oanh tạc để đưa thêm người và vũ khí vào miền Nam. Hà Nội bác bỏ đề nghị có điều kiện này để chờ tình hình bầu cử TT Hoa Kỳ năm 1968 sẽ thuận lợi hơn. Tình hình chiến sự năm 1967 cho thấy quân Cộng Sản đã không đương đầu được với lực lượng cơ động “Tìm và diệt” của quân đồng minh. Tuy đạt được vài thắng lợi nhưng sau đó bị tiêu diệt nên lực lượng bị tiêu hao dần. Chính vì vậy, Cộng Sản Việt Nam quyết định đốt giai đoạn phát động “Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa” để giành thắng lợi quyết định trước khi ngồi vào bàn hội nghị. Lợi dụng dịp tết Mậu Thân, Hà Nội kêu gọi hưu chiến 48 giờ. Chính phủ VNCH tuân thủ lệnh hưu chiến cho quân đội công chức về quê ăn tết. Ngày 30-1-1968, Hà Nội ra lệnh tổng tiến công Mậu Thân trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 11-2-1968, Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh Tổng Động viên. Ngày 24-2-1968, quân lực Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm thành phố Huế. Theo thống kê thì 4.954 binh sĩ VNCH tử trận, 3.895 binh sĩ Hoa Kỳ và các nước đồng minh và 14.300 thường dân bị chết oan. Về phiá Cộng Sản đã thú nhận thất bại nặng nề vì “đánh giá cao lực lượng mình, đánh giá thấp lực lượng địch và do tư tưởng nóng vội muốn giành thắng lợi lớn, kết thúc chiến tranh nhanh nên nhiều vùng nông thôn giải phóng của ta trước đây bị địch chiếm. Mục tiêu của cuộc tổng tiến công và tổng nổi dậy không đạt được đầy đủ. Lực lượng của ta bị tổn thất nhiều với 111.306 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và chính trị ở miền Nam đã hy sinh và bị thương…”. Sau cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân, về phương diện quân sự thì hầu như toàn bộ lực lượng quân giải phóng bị tiêu diệt. Về phương diện chính trị cũng hoàn toàn thất bại vì nhân dân miền Nam không những không ủng hộ mà còn chán ghét ghê tởm hành động dã man của cộng quân. Nếu đồng minh Hoa Kỳ và VNCH biết khai thác thời cơ, huy động các sư đoàn chủ lực thiện chiến như lực lượng nhảy dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt Động quân tung ra những trận đánh thẳng vào miền Bắc thì tình hình có thể đã thay đổi. 

    Sự kiện tòa đại sứ Mỹ bị tấn công và hơn 3 ngàn quân nhân Mỹ tử thương đối với nhân dân và quốc hội Mỹ là một tổn thất hết sức nặng nề về mặt tâm lý. Người dân bất bình với chính quyền Johnson vì danh dự bị tổn thương, đời sống khó khăn hơn vì phải đóng thuế thêm 10% cho ngân sách quốc phòng. Ngay trong đảng dân chủ, TT Johnson bị nhóm chủ hòa phê phán chỉ trích. Ngày 31-10-1968, TT Johnson tuyên bố ngưng các cuộc tấn công trên lãnh thổ Bắc Việt trừ khu vực dưới vĩ tuyến 20 và đề nghị mở hòa đàm với Bắc Việt. Đồng thời TT Johnson tuyên bố sẽ không ứng cử và cũng không chấp nhận đảng dân chủ đề cử để hậu thuẫn cho Phó TT Humphrey tranh cử Tổng Thống. Ứng cử viên Mac Govern của đảng dân chủ với lập trường chủ hòa, sẵn sàng lập chính phủ liên hiệp với Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam nên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không chịu tham gia hòa đàm. Trong khi ứng cử viên Nixon của đảng Cộng Hòa với lập trường cứng rắn tuyên bố úp mở rằng đã có kế hoạch bí mật để chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã thắng cử với đa số phiếu cử tri đoàn (302/191) và 43,3%/ 42,7% số phiếu cử tri.

    Sau khi TT Nixon nhậm chức ngày 20-1-1969, thì phiên họp chính thức đầu tiên giữa “Hai phe, bốn bên” bắt đầu ngày 25-1-1969 với sự tham dự của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa. Trong bài diễn văn ngày 14-5-1969, TT Nixon xác định quân đội Hoa Kỳ và quân đội Cộng Sản Bắc Việt đồng thời rút khỏi miền Nam Việt Nam và Hà Nội phải ngưng mọi cuộc tiếp viện về người và vũ khí cho Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Cộng Sản Việt Nam chủ trương vừa đánh vừa đàm để khai thác thời cơ bầu cử TT Hoa Kỳ sẽ tạo lợi thế cho họ. Về phía Hoa Kỳ, Nixon tiếp tục chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh. Ngày 8-6-1969, TT Hoa Kỳ Nixon họp với TT Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu tại Midway loan báo sẽ rút 25 ngàn quân nhân Mỹ khỏi VN trước tháng 8. Để mở đầu cho kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh, bộ trưởng quốc phòng HK yêu cầu quốc hội chuẩn chi 156 triệu mỹ kim để tăng cường khả năng chiến đấu của quân đội Việt nam Cộng Hòa. Hoa Kỳ chuyển giao phi cơ, chiến hạm, máy bay trực thăng, xe quân sự đủ loại, hơn 1 triệu khẩu súng M 16 cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng tăng quân số từ 850 ngàn lên khoảng 1 triệu binh sĩ. Ngày 15-11-1969, hơn 250 ngàn người biểu tình tuần hành tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn cùng với các cuộc biểu tình khác ở Pháp, Tây Đức và Anh. Đây là cuộc biểu tình phản chiến lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

    Ngày 9-1-1971, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ Henry Kissinger bí mật đến Bắc Kinh đã thảo luận với Chu Ân Lai về vấn đề Việt Nam: “Nhân danh tổng thống Nixon, tôi xin thông báo với Thủ tướng một cách trịnh trọng nhất rằng trước hết, chúng tôi sửa soạn rút quân hoàn toàn ra khỏi Đông Dương và ấn định ngày giờ rút quân, nếu có một cuộc ngưng bắn và phóng thích tù binh của chúng tôi.  Thứ đến, chúng tôi sẽ để cho giải pháp chính trị của Nam Việt Nam tự diễn biến và phó mặc cho một mình người Việt… Điều chúng tôi yêu cầu là một khoảng thời gian chuyển tiếp giữa sự rút quân và diễn biến chính trị.  Không phải là để chúng tôi có thể trở lại Việt Nam mà chúng tôi để cho dân tộc Việt Nam và dân tộc các nơi khác ở Đông Dương tự quyết định lấy số phận của họ… Hôm qua, tôi đã thưa với Thủ tướng, và tôi muốn nhắc lại rằng, nếu sau khi quân đội Mỹ rút lui hoàn toàn,  mà các dân tộc Đông Dương thay đổi chính quyền của họ, Hoa Kỳ sẽ không can thiệp.”. Trong một thông điệp gửi đến người dân Mỹ liên quan tới chiến tranh Việt Nam, ngày 7 tháng 4 năm 1971, Tổng thống Nixon đã nói: “Vấn đề rất đơn giản đó là như thế này: chúng ta sẽ rời khỏi Việt Nam theo cách mà – bởi những hành động của chính chúng ta – cố ý chuyển giao đất nước cho những người Cộng sản? Hay là chúng ta sẽ rời khỏi theo cách, cho người miền Nam Việt Nam một cơ hội hợp lý để tồn tại như là những người tự do? Kế hoạch của tôi sẽ chấm dứt sự tham gia của người Mỹ theo cách sẽ cung cấp cho miền Nam cơ hội đó. Và một kế hoạch khác sẽ kết thúc nó một cách vội vàng và trao chiến thắng cho những người Cộng sản”.

     Ngày 21-2-1972, TT Nixon viếng thăm Trung Quốc. Trong cuộc họp đầu tiên với Chu Ân Lai ngày hôm sau 22-2-1972, tổng thống Nixon đề cập ngay đến vấn đề Việt Nam: “Nếu tôi ngồi vào bàn với bất cứ nhà lãnh đạo nào của Bắc Việt Nam, và cùng nhau bàn bạc về việc đình chiến và nhận lại tù binh của chúng tôi, tất cả người Hoa Kỳ sẽ được rút ra khỏi Việt Nam trong sáu tháng kể từ ngày đó…  Chúng tôi đã đề nghị rút hết người Hoa Kỳ, mà không để cái “đuôi” đàng sau – như cách nói của Thủ tướng – và ngưng bắn trên toàn Đông Dương, miễn là chúng tôi lấy lại được tù binh.  Sau đó, chúng tôi sẽ để cho dân chúng ở đó tự quyết định.”. Kết qủa chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Nixon năm 1972, đã giúp Hoa Kỳ chấm dứt sự tham gia trong chiến tranh Việt Nam không phải là cách mà Tổng thống Nixon, Hoa Kỳ và nhiều người Việt mong đợi. Thế nhưng chuyến đi này của Tổng thống Nixon đã đã làm thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu cũng như lập ra một trật tự thế giới mới. 

Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Bắc Kinh. Photo hôm 25-2-1972courtesy National Archives & Records Administration.

Thông cáo chung được ký kết tại Thượng Hải ngày 28 tháng 2, trong đó hai nước cam kết đi đến bình thường hóa, cùng nhau hợp tác trao đổi trên nhiều lĩnh vực. Hoa Kỳ công nhận Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc và hai bên cam kết giải quyết vấn đề Đông Dương trong đó có chiến tranh Việt Nam. 

    Chuyến công du của TT Nixon đã tạo ra những chuyển biến lịch sử, Hoa Kỳ đã thành công trong việc phân hóa hàng ngũ Cộng Sản để Trung Quốc trở thành đồng minh với Hoa Kỳ. Để thực hiện điều này, Hoa Kỳ đã bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc  nên không phủ quyết cuộc bỏ phiếu của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 25-10-1971 theo đó, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) được giữ ghế đại biểu Trung Quốc thay Trung Hoa Dân Quốc.  Chính vì quyền lợi của Hoa Kỳ và quyền lợi cá nhân của Nixon, ông ta đã hy sinh quyền lợi của đồng minh” nên muốn TT Nguyễn văn Thiệu ký vào bản hiệp định trước ngày bầu cử TT Hoa Kỳ. Để thuyết phục Việt Nam Cộng Hòa, TT Nixon đã viết thư cho TT Thiệu ngày 16-10-1972 cam kết “Trong thời kỳ tiếp theo cuộc đình chiến, Ngài có thể hoàn toàn an tâm là chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho chính phủ của Ngài sự yểm trợ đầy đủ nhất, kể cả viện trợ kinh tế và bất cứ viện trợ quân sự nào phù hợp với những điều khoản của hiệp định… Tôi cam kết với ngài rằng bất cứ sự bội tín nào về phiá họ cũng sẽ bị chúng tôi lên án khắt khe nhất và nó sẽ có hậu qủa trầm trọng nhất… Tôi tin chắc rằng đó là giải pháp tốt nhất mà chúng ta có thể đạt được và cũng là giải pháp đáp ứng được điều kiện tuyệt đối của tôi là Việt Nam Cộng Hòa phải được tồn tại là một quốc gia tự do…”. Ngày 26-10-1972, sau khi đến Sài Gòn thuyết phục chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ký vào hiệp định bị TT Nguyễn văn Thiệu cương quyết từ chối nhưng khi trở về Hoa Thịnh Đốn, ngoại trưởng Henry Kissinger tuyên bố “Hòa bình đang ở trong tầm tay”. Người dân Mỹ tin rằng đã có một giải pháp để chấm dứt chiến tranh nên đại đa số người dân Hoa Kỳ đã bầu cho Nixon với tỷ lệ 60,7% so với 37,5% cho Mac Govern. Trong khi đó, đảng dân chủ thắng lớn với 76 dân biểu và 8 Thượng nghị sĩ phản chiến vào quốc hội.

    Sau khi thắng cử thì Nixon cương quyết hơn nên ra lệnh tiến hành chiến dịch oanh tạc Linebacker II lớn nhất trong chiến tranh VN ngày 27-12-1972, tập trung vào khu vực Hà Nội, Hải Phòng để buộc Hà Nội phải đi đến thỏa hiệp. Hà Nội đã bắn 1.200 hỏa tiễn Địa không do chuyên viên Liên Sô điều khiển, hạ 15 B52 và 15 phi cơ khác, 93 phi công chết hay mất tích. Sau đó, ngày 17-1-1973, TT Nixon gửi thêm lá thư cam kết cụ thể với TT Thiệu như sau “Tự do độc lập của nước VNCH vẫn luôn luôn là mục tiêu trọng đại trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Tôi đã theo đuổi mục tiêu này trong suốt cuộc đời chính trị của tôi… Tôi xin nhắc lại những cam kết đó như sau: Thứ nhất, Hoa Kỳ công nhận chính phủ của Ngài là chính phủ duy nhất hợp pháp ở miền Nam Việt Nam. Thứ hai, Hoa Kỳ không công nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ miền Nam và thứ ba, Hoa Kỳ sẽ phản ứng mãnh liệt nếu nếu bản hiệp định bị vi phạm”. Sau khi Việt Nam Cộng Hòa đồng ý ký, TT Nixon đã gửi ngay 1 lá thư ca tụng TT Nguyễn văn Thiệu như sau “Thưa TT, Với lòng can đảm và kiên trì, Ngài đã bảo vệ được quyền lợi của dân tộc Việt Nam trong công cuộc theo đuổi mục tiêu duy trì tự do và độc lập”. Cuối cùng, Hiệp định chấm dứt chiến tranh và Tái lập Hòa bình tại Việt Nam được ký kết tại Paris giữa Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Vào thời điểm ký kết hiệp định 27-1-1973, VNCH kiểm soát 75% lãnh thổ và 85% dân số. Ngày 29-3-1973, các đơn vị cuối cùng của Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam.

    Một biến cố khác xảy ra đã tác động trực tiếp vào sự suy vong của miền Nam Việt Nam. Ngày 6-10-1973, Khối Ả Rập bất ngờ tấn công Do Thái đang cử hành “Lễ Đền tội Yum Kippur”. Quân Do Thái bị thảm bại nên TT Nixon cho thiết lập cầu không vận tiếp liệu cho Do Thái. Do Thái phản công, sau hơn 3 tuần, khối Ả rập phải ký hiệp định đình chiến. Sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho Do Thái khiến khối Ả Rập tức giận, OPEC quyết định giảm mức sản xuất khiến giá dần thô tăng gấp 4 lần đồng thời các nước Abu Dhabi, Libyia, Saudi Arabia, Algeria và Kuwait cấm vận, cắt đứt dầu hỏa xuất cảng sang Hoa Kỳ. Chính phủ Nixon phải áp dụng chính sách khắc khổ nên nên người dân bất mãn và Việt Nam Cộng Hòa chịu hậu quả trầm trọng của cuộc chiến này. Quân viện của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa tài khóa 1972-1973 là 2,1 tỷ dollars, sau khi Hoa Kỳ bị cấm vận dầu lửa, quân viện giảm xuống còn 1 tỷ 2 và tài khóa 1974-1975 là 1 tỷ. Tháng 8 năm 1974, mức chuẩn chi 1 tỷ cho Việt Nam Cộng Hòa bị cắt xuống còn 700 triệu dollars. Khi TT Nixon xin quốc hội viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa thì quốc hội chỉ chuẩn chi 313 triệu Mỹ kim. Như vậy, quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa từ 2,1 tỷ bị, số tiền bị cắt 1,4 tỷ được chuyển sang cho Do Thái nên quân viện Do Thái tăng lên 1,5 tỷ cũng cắt còn 700 triệu trong năm này.

    Chính sách của Hoa Kỳ trong thực tế được quyết định bởi một “Thế Lực Ngầm”, đó là một tập hợp của các tài phiệt như Rockfeller, Ford foundation … mà hầu hết do vốn của các doanh nhân Do Thái. Tình hình thế giới đã thay đổi khi các chiến lược gia Hoa Kỳ quyết định phá vỡ thế cân bằng chiến lược cũ để tạo một chiến lược mới có lợi cho Hoa Kỳ nhiều hơn. Về mặt chính trị, Hoa Kỳ hy sinh Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Việt Nam Cộng Hòa, chuyển giao một phần công nghệ chế tạo vũ khí tối tân để Trung Quốc trở thành đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ khiến Liên Sô suy yếu và đi tới sụp đổ. Trên phương diện kinh tế, thị trường trên 1 tỷ người dân Trung Quốc là món hàng béo bở hấp dẫn và nguồn nhân công rẻ mạt cho các nhà tài phiệt đầu tư Hoa Kỳ. Chính quyền lợi của tập đoàn tài phiệt này nên Hoa Kỳ đã phản bội lời cam kết với các đồng minh Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Việt Nam Cộng Hòa. Thêm vào đó, quyền lợi của đảng Dân Chủ nói chung và của Thượng Nghị Sĩ chủ hòa Mac Govern đã chủ trương rút khỏi Việt Nam bằng mọi giá, tích cực hỗ trợ cho phong trào chống chiến tranh đang được Cộng Sản quốc tế yểm trợ tối đa nên ngày càng lên cao đến mức không thể kiểm soát nổi khiến chính giới Hoa Kỳ bao gồm cả hành pháp và cả những nhà lập pháp chân chính cũng đành bó tay chấp nhận không thể làm gì khác hơn được. Theo Thượng Nghị Sĩ Jim Web thì chính thành phần này đã cộng tác với cái gọi là Liên Hiệp Hòa Bình Đông Dương, một tổ chức ngoại vi của Cộng Sản đã được Edward Kennedy, Mac Govern là những “phần tử của một nhóm quyền lực ngầm gọi là Liên lạc Ngoại giao (SFR) được tài trợ bởi hệ thống tài phiệt quốc tế như Rockfeller, Ford Foundation… có ảnh hưởng vô cùng lớn trong chính trường đã phát động phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974 đã vận dụng nữ tài tử Jane Fonda và Tom Hayden đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại Việt Nam Cộng Hòa”. Phong trào chống chiến tranh Việt Nam được sự chi viện tối đa của Cộng sản quốc tế về nhân lực và tài chánh nên tác động đồng loạt trên toàn thế giới. Tài liệu của đảng Cộng Sản Liên Sô cho biết đã cung cấp 2 tỷ dollars mỗi năm và huy động 500 ngàn đảng viên xâm nhập phong trào phản chiến biểu tình trên khắp thế giới. Tại quốc hội Hoa Kỳ, một “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chánh”trong đó có Harold Ickes và Bill Clinton nỗ lực vận động những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô Viết và Trung Cộng yểm trợ. Năm 1974, Thượng viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu thuận với tỷ lệ 43-38 để kèm vào việc chuẩn chi ngân sách quốc phòng một điều kiện gọi là “Tu chính Kennedy”. Ngày 11-7-1974, Ted Kennedy đề nghị cắt 50% viện trợ kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa và ngày 8-8-1974, TT Nixon phải từ chức vì hậu qủa của vụ Watergate khiến tình hình Việt Nam trở nên bi đát hơn. Khi Nixon từ chức, ông bắt buộc phải ký thành luật một mức tối đa ngân sách quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa là 1 tỷ. Ngay khi nhận chức, Tổng Thống H. Ford đã tái cam kết thực hiện “Những gì nước tôi đã cam kết với quý quốc…” nhưng chỉ vài ngày sau, ủy ban chuẩn chi của thượng viện đã cắt từ “Mức chấp thuận” là 1 tỷ xuống còn 700 triệu. Trong khi đó, tình hình chiến sự ngày một gia tăng với sự xâm nhập ồ ạt binh sĩ và vũ khí của quân Cộng Sản mà theo phúc trình của Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thì số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng 6 năm 1975 nên chỉ còn đủ cung ứng được từ 30-45 ngày. Thế lực ngầm qua quốc hội một lần nữa tìm đủ mọi cách để tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa qua những quyết nghị cấm không được dùng quỹ Đối giá của viện trợ nhập cảng để trả lương cho cảnh sát, bộ quốc phòng cấm luôn cơ quan quốc phòng DAO tài trợ… GS Warren Nutter, cựu phụ tá Tổng trưởng quốc phòng Hoa Kỳ đặc trách phần tài chính của chương trình Việt Nam hóa chiến tranh đã nói thẳng với TT Thiệu: “Quốc hội HK đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy. Cái trung tâm Tài nguyên Đông Dương đang hết sức tìm cách tiêu diệt VNCH…”. Ông khuyến cáo chính phủ Hoa Kỳ rằng:“Bỏ miền Nam là rơi vào đổ vỡ và thảm sát chỉ vì hơn kém nửa tỷ dollars sẽ có hậu qủa còn sâu sa hơn đó là xé nát lương tâm nước Mỹ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của HK tuy còn mạnh mà đang yếu dần trên chính trường quốc tế…”. Ngày 26 tháng 2 năm 1975, TT Ford gửi thư cho TT Thiệu gợi ý về việc điều đình để có 1 giải pháp chính trị “…Chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng việc thực thi hiệp định Paris, cùng các cuộc điều đình trực tiếp giữa các phe phái Việt Nam, là con đường nhanh nhất, hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc đổ máu tại Việt Nam…”. Cuối cùng, ngày 13-3-1975, đảng Dân chủ chiếm đa số tại thượng viện và Hạ viện bỏ phiếu cho một nghị quyết chống bất cứ viện trợ nào thêm cho Việt Nam. Trước thực trạng đó, TT Thiệu đã phải quyết định “Tái phối trí” lực lượng vì không còn đủ khả năng phòng thủ diện địa nữa. Ngày 15-3-1975, cuộc di tản chiến thuật từ Pleiku tạo nên một bầu không khí hoảng loạn của quân dân cán chánh VNCH. Do áp lực của quốc hội, TT Nguyễn văn Thiệu bàn giao chính quyền cho Phó TT Trần văn Hương rồi TT Hương bàn giao cho Đại Tướng Dương văn Minh mở đầu cho sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng hòa ngày 30-4-1975.

    Sau hơn ba thập niên, sự thật lịch sử của cuộc chiến Việt Nam đã cho chúng ta những nhận định sau:

1.   CHIẾN TRANH VIỆT NAM KHÔNG PHẢI LÀ CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC.

    Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên truyền rêu rao là đã hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc thoát khỏi sự thống trị của 2 đế quốc Pháp và Hoa Kỳ. Thế nhưng, sự thật là sau khi quân Nhật lật đổ chế độ thực dân Pháp, ngày 11-3-1945, Cơ Mật Viện triều Nguyễn đã tuyên bố “Hủy bỏ Hiệp ước 1884 qui định Pháp bảo hộ Việt Nam và Khôi phục chủ quyền cuả một nước Việt Nam độc lập”. Ngày 12-3-1945, Cao Miên tuyên bố độc lập và ngày 15-4-1945, Lào tuyên bố độc lập. Nhận chỉ thị của Cộng Sản quốc tế đấu tranh vũ trang lật đổ chế độ quốc gia Việt Nam, ngày 19 tháng 8 năm 1945, đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới danh nghĩa Việt Minh cướp chính quyền. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập và thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh ký thỏa hiệp sơ bộ với thực dân Pháp đồng ý để quân Pháp ra Bắc thay thế quân đội Trung Hoa giải giới quân Nhật để lợi dụng cơ hội này tìm cách tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Sau khi cấu kết với thực dân Pháp bất thành, ngày 19-12-1946, Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, cuộc chiến tranh Việt Minh và Pháp bắt đầu. Tháng 12,1947, Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long được ký kết giữa Cao Ủy Pháp Bollaert với Quốc Trưởng Bảo Đại để thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam. Theo Hiệp Ước này Pháp long trọng thừa nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam được tự do tiến hành thủ tục thực hiện thống nhất quốc gia chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết. Ngày 8-3-1949, TổngThống Cộng Hòa Pháp và nhân danh Chủ Tịch Liên Hiệp Pháp, đã ký với Quốc Trưởng Bảo Đại Hiệp Định Elysée công Nhận Việt Nam Thống Nhất và Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 23-4-1949 Quốc Hội Nam Kỳ đã giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất.  

     Lịch sử đã chứng minh rằng, Cộng sản Việt Nam đã núp dưới danh nghĩa kháng chiến, lợi dụng lòng yêu nước của người dân Việt Nam để nhuộm đỏ cả Đông Dương, bành trướng chủ nghĩa CS mở đường xuống Đông Nam Á. Chính Hồ Chí Minh đã không giấu giếm sự thật khi gặp Salisbury tai Hà Nội năm 1965: “Những ngày tuyệt diệu rồi đây sẽ đến khi tất cả các đồng chí đã đến bên nhau. Tất cả mọi người đang nỗ lực tranh đấu để đem đến sự thành công của Miền Bắc Việt Nam, đó chính là sự thành công của những người Nga, những người Tàu, và những chế độ tại Đông Âu. Tất cả đều muốn làm cho Miền Bắc Việt Nam trở thành một mẫu mực, một nơi triển lãm thu hút muôn người, và một mẫu mực lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản có thể đưa đến cho các dân tộc tại Á Châu và đặc biệt nhất là vùng Đông Nam Á.”. Đây là bằng chứng quá rõ ràng cho mọi người thấy Hồ Chí Minh đã không bao giờ thực tâm tranh đấu vì Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc cho dân tộc Việt Nam mà sử dụng cả dân tộc Việt Nam như một công cụ để phục vụ tham vọng bành trướng của Đế Quốc Cộng Sản Nga Sô.

     2. CUỘC CHIẾN VIỆT NAM LÀ CUỘC CHIẾN TRANH Ý THỨC HỆ.

    Tháng 1 năm 1945, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc xin đứng vào hàng ngũ quốc tế CS nên ngày 14-1-1950 Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng) công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Ngày 31-1-1950, Liên Sô công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thành trì công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Sự kiện lịch sử này đánh dấu một bước ngoặt lịch sử là VNDCCH chính thức đứng vào hàng ngũ cộng sản nên ngày 7-2-1950, Hoa Kỳ, Anh và các nước thế giới tự do công nhận chính phủ quốc gia Bảo Đại để ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á. Cuộc chiến Việt Nam chính thức trở thành cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Cộng sản và thế giới tự do. Sau khi Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore.Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”. Tháng 4 năm 1959, Ủy ban Trung ương đảng họp lần thứ 15 quyết định thành lập Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ngày 20-12-1960, với chiêu bài “Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập, tiến tới thống nhất tổ quốc”. Sau khi chiếm được cả miền Nam, chính Lê Duẫn, tổng bí thư của đảng CSVN đã xác nhận một lần nữa:“Chúng ta đánh cho Mỹ cút ngụy nhào” là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc và ngày nay, yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”. Bộ mặt thật của CS đã phơi bầy trước lịch sử. Cuộc kháng chiến của dân tộc đã bị lợi dụng, Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã hy sinh hàng triệu người VN vô tội để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ cả Đông Dương.

      3. CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM ĐỐI ĐẦU GIỮA CS VÀ TƯ BẢN KHIẾN SINH LỰC CỦA DÂN TỘC BỊ TIÊU HAO TRẦM TRỌNG.

    Trước đây, chúng ta bị bộ máy tuyên truyền của Cộng sản lừa dối rằng lực lượng đồng minh Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Thái Lan và Đại Hàn đến Việt Nam để chống lại một nước nhỏ bé là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và nhân dân miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, sau hơn 30 năm, chúng ta mới biết cả Liên Sô, Trung Cộng lẫn Bắc Triều Tiên đều tham chiến ở Việt Nam. Việt Nam trở thành chiến trường giữa 2 khối Cộng Sản và thế giới tự do. Sự thật lịch sử này được một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc phát biểu như sau: “Trong giai đoạn giúp Việt Nam chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đã vì Việt Nam mà đóng góp không biết bao nhiêu tài lực, nhân lực, vật lực, pháo binh, công binh, nhân viên đường sắt, nhân viên thư tín, hải quân, không quân, hậu cần vận tải … 16 sư đoàn, hơn 300.000 lính Hồng quân Trung Quốc ở Việt Nam trong hơn 3 năm 9 tháng đấu tranh. Tác chiến đối không 2153 lần, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ, bắt sống 42 phi công Mỹ, viện trợ Việt Nam xây dựng Hải Phòng, Hòn Gai, các thành phố duyên hải và xây dựng hệ thống phòng ngự ở tam giác châu thổ sông Hồng, tu sửa và xây dựng các tuyến đường huyết mạch, sân bay, tuyến đường sắt đông tây, mở đường trên biển chuyên chở vũ khí vào miền Nam và chi viện cho đường mòn Hồ Chí Minh. Từ năm 1950 đến năm 1978, TQ đã viện trợ cho Việt Nam hơn 200 tỷ mỹ kim, trong đó 93% là viện trợ không hoàn lại, đó là chưa kể xương máu mà 1446 chiến sỹ đã hy sinh, 4200 người trọng thương… những hy sinh đó tuyệt đối không thể tính được bằng tiền“. Gần đây, chúng ta mới biết được là các đơn vị phòng không Liên Sô và phi công Bắc Hàn cũng tham dự cuộc chiến tranh VN. Cựu Trung Tướng Yevgeni Antonov, nguyên trưởng đoàn cố vấn quân sự của Liên Sô tại Việt Nam tiết lộ rằng Liên Bang Sô Viết đã gởi một trung đoàn phòng không với đầy đủ vũ khí và trang bị sang Việt Nam tham chiến và 13 người lính phòng không Liên Xô đã chết trên chiến trường miền Bắc. Trung đoàn phòng không Liên Sô  đã bắn rơi những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên trên bầu trời Hà Nội, kể cả chiếc chiến đấu cơ A-4 Skyhawk của Thượng Nghị Sĩ John McCain. Theo tiết lộ của cựu trung tướng Liên Xô Yevgeni Antonov, chỉ huy lực lượng phòng không Liên Xô tại Việt Nam từ 1969 đến 1970 thì Việt Nam là một phòng thí nghiệm cho vũ khí Liên Sô để chuẩn bị cho việc máy bay Mỹ và NATO oanh tạc vào nội địa Liên Sô trong trường hợp có chiến tranh giữa hai khối sau này. Sự thật lịch sử đã chứng minh rằng chính Hồ Chí Minh, cán bộ của CS quốc tế đã đưa dân tộc vào cuộc chiến tranh ý hệ, hy sinh xương máu của hàng triệu người dân lành vô tội để bành trướng chủ nghĩa CS xuống toàn cõi Đông Dương. Sinh lực của dân tộc bị tiêu hao trầm trọng, hàng triệu người dân vô tội hy sinh, đất nước nghèo nàn tan hoang đổ nát, lòng người ly tán. Cái gọi là thống nhất đất nước chỉ là sự xâm lăng của bạo lực và hận thù khiến dân tộc Việt Nam ly tán, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Cộng sản Việt Nam đã phơi bầy bản chất độc tài dã man trả thù, hành hạ đày đọa quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tù gọi là “Cải tạo” cùng với biện pháp đổi tiền, đánh tư bản mại sản, bắt đi kinh tế mới để tước đoạt tài sản của nhân dân… Cộng sản Việt Nam tuyên truyền rằng đã “Thống nhất được đất nước” nhưng thực tế đã chứng minh rằng cái gọi là giải phóng miền Nam đã để lại trong lòng dân tộc một sự phân ly ngăn cách không gì có thể hàn gắn được.

4. HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CSVN CHÍNH LÀ TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

     Điều 1 của Hiến chương Hội Quốc Liên và Liên Hiệp Quốc đều nhấn mạnh đến quyền dân tộc tự quyết. Phong trào giải thể chế độ thực dân là xu thế của thời đại được ghi rõ trong Hiến Chương Đại Tây Dương 1941 và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Các đế quốc Tây Phương Mỹ Anh Pháp Hòa Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho các thuộc địa Á Châu như Phi Luật Tân, Syrie và Liban năm 1946, Ấn Độ và Pakistan độc lập năm 1947, Miến Điện-Tích Lan và Palestine năm 1948, Việt Nam-Ai Lao, Cao Miên và Nam Dương năm 1949. Chính vì Hồ Chí Minh và nhà nước VN Dân chủ Cộng Hòa đứng vào hàng ngũ CS, chủ trương đấu tranh võ trang cướp chính quyền để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản nên dân tộc Việt mới hứng chịu thảm họa khốc liệt của chiến tranh.  Hàng triệu người Việt Nam vô tội phải hy sinh, gia đình Việt Nam nào cũng chịu cảnh thương đau mất mát, thống khổ triền miên. Chính Cộng Sản Việt Nam đã đưa dân tộc Việt Nam vào thế trên đe dưới búa của cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Cộng Sản và thế giới tự do. Chính Cộng Sản Việt Nam đã rước voi Mác Lê về giầy mả tổ Hùng Vương, cõng rắn độc Trung Cộng về cắn gà nhà dân tộc khiến gần 4 triệu người dân Việt đã hy sinh cho cuộc chiến tranh phi nghĩa này để rồi đất nước Việt Nam sau hơn 30 năm vẫn là một nước nghèo nàn chậm tiến nhất thế giới.  Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN chính là tội đồ của dân tộc Việt Nam.

5. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM LÀ CÔNG CỤ CỦA ĐẢNG CSVN.

     Trong chiến tranh, Cộng Sản rêu rao tuyên truyền Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam do những người miền Nam đứng lên “Chống Mỹ Cứu Nước” nên được giới trí thức tả khuynh trong phong trào phản chiến ủng hộ. Sau khi đem quân xâm chiếm Tây Tạng năm 1959, Mao Trạch Đông đã chỉ thị phải chiếm miền Nam VN bằng mọi giá để mở đường xuống Đông Nam Á nên ngày 20-12-1960, đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Sau khi xâm chiếm miền Nam Việt Nam, ngày 2-7-1976, Quốc hội Cộng sản tuyên bố thống nhất Việt Nam, đặt tên nước là Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cờ và hiến pháp là cờ và hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phạm văn Đồng tiếp tục làm Thủ tướng. Cái gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng” và “chính quyền Lâm thời Việt Nam” bị giải tán. Ngày 14 đến 20-12-1976, Đại hội Đảng Lao Động họp lần đầu quyết định lấy lại tên là đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẫn được bầu là Tổng Bí Thư. Bộ mặt thật của đảng Cộng sản Việt Nam đã phơi bầy trước lịch sử. Sự kiện này chứng tỏ việc loan báo đảng CS Đông Dương tự giải tán ngày 11-11-1945 rồi thành lập đảng lao Động 16-3-1951 chỉ để che giấu bản chất CS, lừa dối nhân dân dưới danh nghĩa đảng Lao Động. Núp dưới danh nghĩa Việt Minh, dùng chiêu bài kháng chiến giành độc lập dân tộc nhưng thực chất là lợi dụng xương máu của đồng bào để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ Việt Nam và các nước Lào, Camphuchia mà thôi.

6. CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ HY SINH HÀNG TRIỆU NGƯỜI VN VÔ TỘI ĐỂ TIÊU HAO SINH LỰC HOA KỲ CHO LIÊN SÔ.

 

     Khi bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản xuống Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, cả Liên Sô lẫn Trung Quốc đều chủ trương đánh Mỹ, tiêu hao sinh lực Hoa Kỳ cho đến người Việt Nam cuối cùng để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản. Mỗi năm Hoa Kỳ đã chi tiêu 20 tỷ dollars cho chiến tranh trong khi Liên Sô chỉ chi viện 1 tỷ dollars khiến ngân sách Hoa Kỳ kiệt quệ. Đảng CS Liên Sô đã thành công trong việc phân hóa hàng ngũ lãnh đạo Hoa Kỳ khiến nội tình nước Mỹ bị chia rẽ trầm trọng. Cái gọi là “Hội chứng Việt Nam” đã làm mất niềm tin nơi người dân Hoa Kỳ và của cả đồng minh của Hoa Kỳ trên thế giới nữa.

7. CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ HY SINH HÀNG TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM VÔ TỘI ĐỂ MỞ ĐƯỜNG CHO ĐẾ QUỐC MỚI TRUNG CỘNG TIẾN XUỐNG ĐÔNG NAM Á.

    Đối với đế quốc mới Trung Cộng đây là một thắng lợi vì chiếm được miền Nam làm bàn đạp mở đường tiến xuống Đông Nam Á, mặt khác cuộc chiến Việt Nam đã hủy hoại tiềm lực của Việt Nam để Trung Quốc dễ bề thống trị. Chính vì món nợ trong chiến tranh nên Cộng Sản Việt Nam phải dâng đất nhường biển cho Trung Quốc. Ngày 25 tháng 12 năm 1999, Lê Khả Phiêu TBT đảng CSVN và Trần Đức Lương, chủ tịch nước CHXHCNVN đi Bắc Kinh ký kết Hiệp ước phân định biên giới. Hiệp ước này chính thức nhượng một phần lãnh thổ thuộc Ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc và nhiều dãy núi thuộc Hà Giang, Lạng Sơn. Ngày 30 tháng 12 năm 2000, nhà nước CSVN ký kết với Trung Quốc 2 hiệp ước phân định vùng vịnh Bắc Việt và Hợp tác nghề đánh bắt cá. Với 2 hiệp ước này, Trung Quốc chính thức khai thác tài nguyên hơn 11 ngàn cây số vuông trong vùng vịnh Bắc Việt. Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lãnh hải mới của Trung Cộng. Cuối cùng, người thắng trong 2 cuộc chiến tranh này chính là Trung Cộng và kẻ thua chính là Cộng Sản Việt Nam vì bộ mặt thật hại dân bán nước đã phơi bày trước nhân dân và họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử. 

8. HỘI CHỨNG VIỆT NAM CHO HOA KỲ

     Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã để lại cho họ một hội chứng “sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ nước Mỹ”, đồng thời uy tín của Hoa Kỳ sút giảm trên chính trường quốc tế. Về phương diện chính trị, Hoa Kỳ đã bị đánh bại bởi chính quốc hội Hoa Kỳ với đa số đảng viên đảng dân chủ đã đặt quyền lợi đảng lên trên quyền lợi quốc gia để bị Cộng sản lừa dối và tùng phục quyền lực ngầm chi phối chính sách của Hoa Kỳ.

    Trong lịch sử Hoa Kỳ, nền dân chủ chính trị đã xây dựng nên một quốc gia hùng mạnh là biểu tượng của dân chủ tự do cho toàn thế giới, thế nhưng chính nền dân chủ đó đã bị giới tài phiệt lũng đoạn qua việc gây quỹ ứng cử nên các dân biểu nghị sĩ dễ bị lèo lái vì quyền lợi của nhóm tài phiệt. Việc hoạch định chính sách thay vì toàn thể hội đồng an ninh quốc gia quyết định thì hầu như giao phó cho viên cố vấn an ninh toàn quyền quyết định nên đã bị nhóm quyền lực ngầm thao túng vì quyền lợi riêng tư phe nhóm mà quên đi quyền lợi và cả danh dự của nước Mỹ. Chính trường Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam bị nhóm quyền lực ngầm mua chuộc tác động cả quốc hội Hoa Kỳ đã đưa nước Mỹ vào một sự kiện từng có trong lịch sử gọi là “Hội chứng Việt Nam” nên Tổng thống Johnson đã phải cay đắng thốt lên sự thật đau lòng:“Chính chúng ta đã đánh bại chúng ta!!!”.

     Vào thập niên năm mươi-sáu mươi, Hoa Kỳ tham dự chiến tranh Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. Bước sang thập niên bảy mươi, lợi dụng sự mâu thuẫn giữa Liên Sô và Trung Quốc sau cuộc chiến tranh biên giới  giữa hai nước hồi tháng 8 năm 1969, dẫn đến việc Liên Xô đưa ra các kế hoạch chi tiết cho một cuộc tấn công hạt nhân vào Trung Quốc. Mao Trạch Đông lo ngại và muốn tìm một sự hòa giải với Hoa Kỳ để Trung Quốc rảnh tay mà đối phó với Liên Sô nên Hoa Kỳ lại dùng chiến tranh Việt Nam để phân hoá hàng ngũ quốc tế Cộng sản. Để hoá giải ý đồ của Liên Sô muốn Hoa Kỳ sa lầy trong cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ đã “Việt Nam hoá” chiến tranh và tìm giải pháp rút quân trong danh dự. Hoa Kỳ đưa Trung Quốc vào thay Trung Hoa Dân Quốc trong hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và bỏ ngỏ vùng biển Đông Nam Á để Trung Quốc tách hẳn khỏi Liên Sô và trở thành đồng minh của Hoa Kỳ. Sau khi rút chân ra khỏi Việt Nam, chi phí dành cho chiến tranh được dồn sang chế tạo vũ khí cạnh tranh quốc phòng với Liên Sô nên năm 1981, chỉ với 11 tỷ dollars Hoa Kỳ đã chế tạo được phi thuyền con Thoi vượt xa Liên Sô trong lãnh vực không gian. Cuối năm 1988, cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa cộng sản ở các nước Đông Âu đã dẫn tới những biến đổi lịch sử: Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc quay trở lại theo con đường Tư bản chủ nghĩa. Cộng Hòa Dân chủ Đức sát nhập vào Cộng Hòa Liên bang Đức. Ngày 21-8 đảng Cộng sản Liên Sô bị đình chỉ hoạt động trong toàn liên bang, chính phủ Sô viết bị giải thể. Mười một nước cộng hòa tuyên bố độc lập, tách ra khỏi Liên bang Sô Viết. Một làn sóng chống đảng Cộng sản và chống Xã hội chủ nghĩa dâng cao khắp mọi nơi. Ngày 21-12-1991 chính thức thành lập các quốc gia độc lập SNG buộc Tổng thống Liên Sô M Gorbachev phải từ chức và cùng ngày đó, ngày 25-12-1991 lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điện Cẩm Linh (Kremlin) sau 74 năm bị hạ xuống. Đây là một thất bại nặng nề của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, dẫn đến hệ thống thế giới của chủ nghĩa Cộng sản trên thực tế không còn tồn tại nữa. Chính Hoa Kỳ đã góp phần giật sập Liên Sô, thành trì của chủ nghĩa Cộng Sản nên xét cho cùng, Hoa Kỳ thắng lợi nhất trong cuộc chiến này.

     Lời thú nhận “Tất cả chúng ta đều đã bị lừa” của Jane Fonda, người đã ủng hộ tích cực nhất cho phong trào phản chiến bị giựt dây bởi Cộng sản đã phải xin lỗi quân đội và nhân dân Hoa Kỳ đã nói lên tất cả sự thật. Không chỉ một Jane Fonda mà cả nước Mỹ và cả cán bộ đảng viên và nhân dân miền Bắc cũng bị lừa dối bởi bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chủ nghĩa Cộng Sản đã và đang bị nhân loại vất vào giỏ rác của lịch sử. Cuối cùng, hơn ba mươi năm sau, kẻ gọi là chiến thắng lại phải trải thảm đỏ mời người gọi là chiến bại để mong được là đối tác hàng đầu cả về kinh tế lẫn quân sự đã trả lời cho câu hỏi ai thắng ai trong cuộc chiến Việt Nam.

9. DÂN TỘC VIỆT NAM THẮNG

     Trong suốt thời gian chiến tranh, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng cả 5 trận đánh lịch sử. Cộng Sản Việt Nam đã thất bại nặng nề trong tổng công kích tết Mậu Thân 1968, trên phương diện chính trị Cộng Sản Việt Nam lại thất bại hơn vì không có một người dân nào ở miền Nam tự do “Tổng Nổi Dậy” theo lời kêu gọi của cái gọi là mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Thống Tướng Westmoreland, tư  lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã chua chát nhận định: “Chúng ta đã tham dự một cuộc chiến mà bị trói một tay, một cuộc chiến tranh không được thắng. Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết với quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn…”. Hơn ba mươi năm sau khi kết thúc cuộc chiến, Henry Kissinger, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã tự nhận lỗi lầm: “Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải VNCH”.

     Sau ngày Cộng sản xâm chiếm miền Nam, hàng triệu người phải bỏ quê hương ra đi tìm tự do nhưng sau gần 37 năm, ngọn cờ vàng vẫn tung bay trên khắp thế giới như biểu tượng cho dân chủ tự do. Cuộc chiến ngày nay không còn là cuộc chiến của miền Nam tự do nữa mà đã trở thành cuộc chiến của toàn dân tộc chống tập đoàn Việt gian Cộng Sản độc tài, bất nhân hại dân bán nước. Một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ sẽ chuyển đổi lịch sử trong nay mai và mà thắng lợi cuối cùng chính là của dân tộc Việt Nam.

 

 

PHẠM TRẦN ANH

(Trích trong bộ  LƯỢC SỬ VIỆT NAM sẽ phát hành trong tháng 9 năm 2012)

 

 

 

CHUYẾN VIẾNG ĐÁM TANG THÂN MẪU CHỊ TẠ PHONG TẦN CỦA HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM

 

 Được tin  bà Đặng Thị Kim Liêng, thân mẫu chị Tạ Phong Tần đã tự thiêu tại Bạc Liêu, để phản kháng lối hành xử vô nhân tính của nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đối với gia đình bà, đối với các nhà bất đồng chính kiến, cũng như đối với đồng bào Việt nam thấp cổ bé họng,  Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam đã tổ chức phúng viếng bà Đặng Thị Kim Liêng, Đoàn viếng tang do Phó Hội trưởng hội ái hữu tù nhân chính trị và tôn giáo Việt nam, cựu tù Trương Minh Nguyệt, cùng các cựu tù  Trương Minh ĐứcBùi Thị Minh HằngMục sư Nguyễn Ngọc Thạch, Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng cùng với hữu của tù nhân lương tâmNguyễn Bắc Truyển, đã xuôi về  thành phố Bạc Liêu để phúng viếng.

 

Khởi hành tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn vào lúc 14 giờ ngày 31/7/2012, đoàn đã bị đeo bám bởi lực lượng chó săn của an ninh cộng sản Việt Nam. Khi đoàn viếng đám tang đến cầu Long Định thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, có một số tên cộng nô trong vai cảnh sát cướp cạn trên công lộ chặn xe lại, kiểm tra giấy tờ xe, giấy tờ hoàn toàn hợp lệ nên chúng không có lý do gì để ngăn chặn chuyến phúng viếng này, tuy vậy, với bản chất lưu manh xảo trá của những tên cộng nô cháu con của lão Hồ  đã quả quyết rằng: “có người tố cáo xe gây tai nạn giao thông rồi bỏ chạy”. Không thể ngăn chặn chuyến đi của đoàn bởi sự vu cáo này, những tên công nô cướp cạn lại viện dẫn một lý do khác ấy là: “nghi bằng lái xe giả”. nên lực lượng cướp cạn trên công lộ này đã lập biên bản giữ bằng lái xe và để cho xe tiếp tục lưu thông, người tài xế xe và đoàn đồng ý giải pháp này. Trong lúc dừng xe, lực lượng cảnh sát cướp cạn trên công lộ này thường xuyên gọi điện thoạivề cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo của ai đó trong một nỗ lực hòng ngăn chặn có hiệu quả chuyến viếng tang này của Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam

 

Khi xe vừa đến  thành phố Vĩnh Long  dùng cơm chiều, cũng  có “một lực lượng” Chó Săn Cơ Động 113 (CSCĐ) bám theo. Xe rời quán vào khu vực dân cư thưa thớt thì xe của lực lượng Chó Săn Cơ Động 113 (CSCĐ) cũng vượt lên ra hiệu dừng xe. Khi hỏi lý do dừng xe thì CS 113 cho biết họ muốn kiểm tra xem bánh xe có mòn chưa, tội nghiệp Chó Săn Cơ Động 113 (CSCĐ) bận rộn quan tâm đến sinh mạng người dân quá nên không có thì giờ đểquan tâm và  quên luôn cả việc Việt Nam đã mất hẳn hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa và tay tàu Cộng khi chúng đã hoàn tất việc thành lập thành phố Tam Sa tại nơi này. 

 

Trong thời gian đoàn lưu lại tại nhà chịTạ Phong Tần, nhà cầm quyền cộng sản tại địa phương đã phái côn đồ và “quần chúng tự phát” đến hăm dọa những khách đến viếng đám tang. Ngoài ra còn có những tên côn đồ thường xuyên trấn cướp t tiền phúng điếu tại linh cữu của bà Đặng Thị Kim Liêng mà lực lượng công an chỉ biết còn đảng còn mình đứng canh gác xung quanh linh cửu không có bất cứ động thái khả dĩ nào nhăm ngăn chặn hành vi bất lương này. Một số tên côn đồ còn cầm dao, mã tấu chặn các ngã đường vào nhà, hăm dọa quan khách đến viếng đám tang. Nhà cầm quyền cộng sản tại địa phương đã cấm đoán những người họ hàng, lân lý của gia đình chị Tạ Phong Tần đến viếng đám tang hay bán hoa cúng cho khách đến viếng đám tang, vì đó là gia đình “phản động”.  

 

Một tên an ninh từ Bộ Công an cộng sản Việt Nam đã đến hăm dọa gia đình rằng: “gia đình không được nghe bọn phản động”. Gia đình trả lời: “ai đến viếng chúng tôi cũng phải tiếp, còn ai là phản động thì các ông cứ bắt”. Cán bộ phụ nữ địa phương còn tuyên bố với chị Bùi thị Minh Hằng: “bạn của chị Tần không được dự đám tang”. Khi chị Bùi Thị Minh Hằng hỏi: “cấp trên nào xúi chị nói như vậy hả?”, nữ cán bộ chuồn ngay. 

 

 

Chị Bùi Hằng đã được gia đình cho phép được thay mặt chị Tần để tang cho Mẹ.

Sau khi phúng viếng và chia buồn cùng tang gia xong, trên đường về Sài Gòn vào lúc 13 giờ ngày 1/8/2012, đoàn viếng đám tang của Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam đã được hộ tống phía sau bằng xe ô-tô mang bảng số xanh của cơ quan công an cộng sản và cũng được “bảo vệ” bởi đoàn Mô Tô hộ tống của lực lượng “quần chúng tự phát” sau trước. May thay, đoàn cũng đã về đến Sài gòn bình an dưới sự phò trì của Hồ Thiêng Sông Núi.

“Nghĩa tử là nghĩa tận” đó là đạo lý muôn đời của người Việt nam, ấy vậy mà nhà cầm quyền lại ra sức ngăn cản, đe dọa những người con dân Việt đi thực hành cái đạo lý ngàn đời ấy, nhà cầm quyền cộng sản Việt nam lại đào luyện những kẻ cướp cạn giữa thanh thiên bạch nhật, cướp đi cả tịnh tài, lễ vật mà thân bằng đang dâng cũng cho người đã khuất: Xin hỏi cộng sản là ai? Chúng có còn con người không hay chỉ là loài cầm thú đội lốt người?. 

Xin được hỏi Hồ Chí Minh và tập đoàn cộng sản Việt nam có còn chút “người” nào không hay đã bị súc vật hóa hết rồi, sao lại cạn tào ráo máng với thần dân của mình đến vậy? Hãy nhớ: “NGHĨA TỬ LÀ NGHĨA TẬN” ấy là đạo lý muôn đời của bất cứ ai biết nói tiếng người chứ không phải riêng gì của người Việt Nam đâu nhé.

Việt nam – Thái Lan ngày 01 tháng 8 năm 2012
Nguyễn Thu Trâm

Đại Hội Liên Kết Đấu Tranh Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam

HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM

Kính gửi Đại Hội Liên Kết Đấu Tranh Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam

 

Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam nhiệt liệt chào mừng Đại Hội Liên Kết Đấu Tranh Dân Chủ Nhân quyền cho Việt Nam. Xin được thay mặt anh chị em tù nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam trong nước và Hải Ngoại chúc mừng Đại Hội Liên kết thành công mỹ mãn.  Hơn lúc nào hết, việc liên kết đấu tranh để thống nhất hành động tạo thành một sức mạnh tổng lực của toàn thể các hội đoàn, đoàn thể trong nước và hải ngoại là một yêu cầu bức thiết của lịch sử. Bài học máu và nước mắt của lịch sử cho chúng ta thấy rằng, người quốc gia chúng ta chưa thắng được tập đoàn Việt gian CS vì chúng ta còn quá chia rẽ do quyền lợi cá nhân đố kỵ, tinh thần phe nhóm thêm vào đó, Việt gian CS với mưu ma chước quỷ luôn tìm cách chia rẽ, tạo ra  những  mâu thuẫn cá nhân, địa phương, tôn giáo để chúng ta lao vào đánh lẫn nhau để bảo vệ tôn giáo của mình  vô  tình chúng ta đang tiếp tay cho CS để tự làm giảm sức mạnh của tập thể người Việt quốc gia của chúng ta.

Chúng ta đang đối mặt với “Thù Trong-Giặc Ngoài”, đất nước đã và đang mất dần vào ta đế quốc mới Trung Cộng. Thời gian không cho phép chúng ta chần chừ gì nữa, mà hãy bắt tay ngay vào việc liên kết, đoàn kết trên một mẫu số chung đó là thống nhất hành động , cùng nhau “Dẹp Thù Trong, Thắng Giặc Ngoài”.  Các Hội đoàn, Đoàn thể vẫn giữ nguyên bản sắc riêng, sinh hoạt riêng. Chúng ta chỉ thống nhất hành động để tạo thành sức mạnh tổng lực của toàn dân tộc đánh đúng tử huyệt của tập đoàn Việt gian CS. Muốn thế, ngay từ bây giờ, chúng ta cùng ngồi lại với nhau, cùng bàn bạc thảo luận để tìm ra một giải pháp chung, cùng  quyết định chung  một hành động chung là “Dẹp Thù Trong-Thắng Giặc Ngoài” để cùng với toàn dân đứng lên đấu tranh giành lại quyền dân chủ tự do, quyền sống làm người và quyền làm chủ đất nước. Kính chúc đại Hội thành công mỹ mãn.

TM Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam

Phạm Trần Anh

 

 

Khi Chúa, Phật cùng chung một nhà

Khi Chúa, Phật cùng chung một nhà

 
 
Ngày kiếm cơm đêm kiếm chuyện (Danlambao) -  Khi nước nhà lâm nguy thì những người cùng chung một nước xích lại gần nhau, đoàn kết với nhau để đấu tranh cứu nước, không phân biệt tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội cũng như tôn giáo. Đó là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam 
 
Phật giáo và Thiên Chúa giáo là hai đạo giáo lớn ở nước ta, một bên thờ Phật một bên thờ Chúa, mỗi bên đều có nét riêng khác nhau, nhưng trong đám tang mẹ chị Tạ Phong Tần vừa rồi hai tôn giáo lớn đó đã… bên nhau.
 
Trong bài: “Đám tang bà Đặng Thị Kim Liêng: Những tấm hình biết nói” phóng viên VRNs đăng tấm hình với lời dẫn giải: “Hòa Thượng Thích Không Tánh và Linh Mục Antôn Lê Ngọc Thanh đang cầu nguyện cho hương hồn bà Liêng theo cách riêng của tôn giáo mình, ngay bên cạnh nhau” 
 
 
Mẹ thờ Phật, Con theo Chúa 
 
Được biết bà Đặng Thị Kim Liêng thờ đạo Phật, còn con gái bà, chị Tạ phong Tần thì theo Chúa. 
 
Vậy là Phật và Chúa cùng chung một nhà. 
 
Điều này khác với truyền thống lâu nay ở nước ta là: tôn giáo cũng mang tính cha truyền con nối. 
 
Không phải đây là trường hợp cá biệt mà nhà anh Huỳnh Ngọc Tuấn cũng vậy. Xuất phát từ một gia đình không theo đạo, nhưng vừa rồi gia đình anh đã theo đạo giáo. 
 
Cô Huỳnh Thục Vy theo đạo Thiên Chúa giáo, đã làm con của Chúa. Còn anh Huỳnh Ngọc Tuấn, Cha cô Vy thì mến mộ đạo Phật. 
 
Mới đây, ông đã hành hương về Tổ Đình Thập Tháp và Tu Viện Nguyên Thiều ở Bình Định để tỏ lòng với đạo Phật.
 
Chính sách khủng bố tàn bạo của Cộng sản đã làm cho những ai yêu nước dám đấu tranh, đến với đạo giáo để tìm chỗ dựa về mặt tinh thần. 
 
Là người đấu tranh thuộc thế hệ đi trước, từ trong ngục tù, chị Tạ Phong Tần nhắn gửi ba người em gái đang đấu tranh tìm công lý là Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Hoàng Vy và Trịnh Kim Tiến ngụ ý như vậy. 
 
Chị đã nói một câu ngắn ngủi nhưng cô đọng: “Tất cả chúng ta đều được gặp Chúa trong hành trình tìm kiếm chân lý, sự thật và công bằng” trong bài viết: “Khao khát công lý sẽ gặp Chúa” gửi ba em gái nói trên.
 
Trong một xã hội mà hầu như mọi người sợ Cộng Sản đến vô cảm, thì chỉ còn lại đạo giáo là chỗ dựa tinh thần cho những người dám đấu tranh chống vô thần cộng sản. 
 
Phật giáo hay Thiên Chúa giáo dù có nét riêng nhưng đều hướng thiện, đều che chở cho những tâm hồn bất hạnh bị cường quyền đàn áp.
 
Đạo Phật hay đạo Thiên Chúa cũng cùng chung một đất nước, khi đất nước lâm nguy thì các đạo giáo cùng chung một sứ mệnh cứu nguy đất nước với nhau. 
 
Đất nước đang lâm nguy… và chưa bao giờ như hôm nay, hai đạo giáo lớn ấy lại đang bên nhau. 
 
Và đã chung một nhà, ngôi nhà Bà Liêng hay là nhà của đất nước Việt Nam?! 
 
 
 

 
 

ĐIỀU LỆ HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM

12911 Josephine St. # D, Garden Grove, CA 92841
Tel: 714-603-9291 – email: quocvietanhpham@yahoo.com

 

BẢN ĐIỀU LỆ

Căn Cứ: Điều 69 Hiến Pháp nước CHXHCNVN, ngày 15 tháng 4 năm 1992: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội. biểu tình theo quy định của Pháp luật.

Căn Cứ: Điều 20, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ngày 10-12-1948 (Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc ngày 20 tháng 9 năm 1977).

1/ Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách hòa bình.

2/ Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoà thể.

Căn Cứ: Điều 22 Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị ngày 16-12-1966 Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền thành lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình (Việt Nam gia nhập ngày 24-9-1982).

Căn Cứ: Nhu cầu tương trợ của thực thể tù nhân Chính trị, Lương tâm và Tôn giáo tại Việt Nam.

Nay:

CHƯƠNG MỘT

Tổng Quát

Điều 1: Chính thức thành lập Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam. Hội do những người tù Chính trị, Lương tâm và Tôn giáo có tinh thần Dân Tộc và lập trường Tự Do Dân Chủ, hình thành từ trong các nhà tù Cộng Sản Việt Nam. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam hợp tác chặt chẽ với các Hội Tù Nhân Chính Trị khác như Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị VN tại Hải ngoại.

Điều 2: Danh xưng của Hội là: Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam. Tên Anh ngữ là Vietnamese Political And Religious Prisoners Friendship Association. Tên viết tắt là:(VPRPFA)

Điều 3: Hoạt động của Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam bao gồm phạm vi trong và ngoài nước.

CHƯƠNG HAI

Tôn Chỉ, Mục Đích

Điều 4: Tôn Chỉ và Mục Đích của Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam là: nhằm thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái cho mọi tù nhân Chính Trị, Lương Tâm, và Tôn giáo đã từng bị giam cầm.

- Giao lưu, hổ tương và vận động với các tổ chức Từ Thiện, các tổ chức xã hội, và y tế quốc tế để trợ giúp thuốc men, y tế… Từng bước tạo công ăn việc làm để các tù nhân ổn định cuộc sống. Hội có phương hướng đoàn kết rộng rãi để phát huy tính ái hữu ngày càng thêm lớn mạnh.

- Hội quan tâm đến đời sống, bệnh tật, già yếu, quá vãng của Hội Viên .v.v… Đồng thời giúp đỡ đến con cái của các Tù Nhân Chính Trị đã chết trong các nhà tù, đã chết sau khi ra khỏi tù. Con cái của các tù nhân nầy sẽ được xem như Hội Viên cảm tình của Hội.

- Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam từng bước hoạt động thật vững chắc vì mang tính lịch sử và lâu dài.

- Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam ủng hộ tiến trình dân chủ hóa đất nước, nhằm góp phần xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, tự do, công bằng và hạnh phúc cho Dân tộc Việt Nam.

- Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam sẽ bênh vực và bảo vệ Hội Viên khi bị bất cứ ai sách nhiễu, khủng bố, hành hung, đe dọa, bị chiếm đoạt tài sản, bắt giam trái phép hay hãm hại dưới mọi hình thức.Việc bênh vực và bảo vệ lẫn nhau trong Hội cũng là nghĩa vụ của tất cả Hội Viên.

CHƯƠNG BA

Hội Viên và Cơ Cấu Tổ Chức

Điều 5: Hội Viên của Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, đảng phái, trình độ, giai cấp, tuổi tác, giới tính.

Hội Viên Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam bao gồm: Hội Viên chính thức, Hội Viên danh dự và Hội Viên cảm tình.

-Hội Viên Chính Thức: là những tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm và Tôn giáo đã từng bị giam giữ trước và sau năm 1975, không kể thời gian giam giữ.

-Hội Viên Danh Dự: là những cá nhân của các dân tộc trên thế giới (không phải dân tộc VN) đã từng bị tù đày vì những hành động đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân

Quyền, đấu tranh vì bị kỳ thị chủng tộc; những cá nhân nầy được mời vào Hội với tư cách là Hội Viên Danh Dự.

-Hội Viên Cảm Tình: Hội Viên cảm tình là những cá nhân trong hay ngoài nước chưa từng bị tù đày bởi những tội danh ghi ở phần trên; nhưng có thiện cảm và nhiệt tình ủng hộ Hội, sẽ được mời vào Hội với tư cách là Hội Viên Cảm Tình.

Điều 6: Cơ cấu tổ chức của Hội gồm có :

- Hội Đồng Cố Vấn Giám Sát

- Hội Đồng Điều Hành .

- Ủy Ban Điều Hành Hải Ngoại

- Ủy Ban Điều Hành Các Tỉnh.

-Hội Đồng Cố Vấn Giám Sát gồm: Đại diện các Tôn Giáo, Thân Hào Nhân Sĩ, cựu tù Chính Trị cao niên, có uy tín, đạo đức sẽ được Hội Trưởng mời vào cương vị thành viên trong Hội Đồng Cố Vấn Giám Sát.

Hội Đồng Điều Hành có nhiệm kỳ 3 năm.

Hội Đồng Điều Hành gồm có :

1 Hội Trưởng

3 Phó Hội Trưởng

1 Tổng Thư Ký và 2 Phó TTK

1 Tài Chánh và Vận động Quốc tế

1 Thủ Quỹ.

Và các Ban nghành theo nhu cầu.

CHƯƠNG BỐN

Nhiệm Vụ

Điều 7: Nhiệm vụ của Hội Đồng Cố Vân Giám Sát và Hội Đồng Điều Hành được quy định như sau:

A- Nhiệm vụ của Hội Đồng Cố Vấn Giám Sát: Đôn đốc công việc và giúp đỡ ý kiến cho Hội Đồng Điều Hành trong mọi lĩnh vực

B- Nhiệm vụ của Hội Đồng Điều Hành:

a) Hội Trưởng:

- Hội Trưởng do Hội Đồng Điều Hành bầu ra thông qua Hội Đồng Cố Vấn Giám Sát. Hội Trưởng có nhiệm kỳ 3 năm và không quá 3 nhiệm kỳ liên tục.

- Hội Trưởng là người chịu trách nhiệm và điều hành tổng quát Hội.

- Hội Trưởng mời 3 Phó Hội Trưởng cùng phụ giúp điều hành công việc của Hội.

b) 3 Phó Hội Trưởng: gồm Phó Hội Trưởng Nội vụ, Kế Hoạch và Ngoại vụ.
Phó Hội Trưởng Ngoại vụ: là Trưởng Ủy Ban Điều Hành Hải Ngoại, với nhiệm vụ thành lập Chi Hội tại các nước ở hải ngoại và thi hành quyết định của Hội Đồng Điều Hành Quốc Nội.

c) Tổng Thư Ký : Có nhiệm vụ soạn thảo văn thư, điều hành công việc hành chánh của Hội, lưu trữ tài liệu trình Hội Đồng Điều Hành để giải quyết.

d) 2 Phó Tổng Thư Ký: Phụ tá, giúp việc cho Tổng Thư Ký. Đặc biệt Phó Tổng Thư ký Hải ngoại phụ giúp Phó Hội Trưởng ngoại vụ để xây dựng và điều hành Ủy Ban Điều Hành Hải ngoại.

e) Tài Chánh và Vận động Quốc tế: Vận động gây quỹ cho Hội và vận động sự yểm trợ của các nước tự do trên thế giới.

f) Chánh Thủ Quỹ: Giữ tài chánh của Hội và thực hiện việc thu chi phân minh rõ ràng.

Điều 8: Ủy Ban Điều Hành Các Tỉnh, Ủy Ban Điều Hành Hải Ngoại trực thuộc Hội Đồng Điều Hành Trung Ương.

CHƯƠNG NĂM

Tài Chánh, Chế Tài và Tu Chính Điều Lệ

Điều 9: Tài Chánh của Hội là do sự tự nguyện ủng hộ của quý thành viên, cá nhân, cùng các tổ chức trong và ngoài nước

Tài chánh của Hội dùng để chi phí cho sự điều hành của Hội cũng như mục đích chính là tương thân tương ái hỗ trợ lẫn nhau trong những hoàn cảnh khó khăn …

Điều 10: Biện pháp chế tài của Hội là: Nhắc nhỡ, khuyến cáo, cảnh cáo, bãi nhiệm .

Biện pháp chế tài áp dụng cho mọi thành viên trong Hội có những việc làm sai trái. Mức độ áp dụng chế tài đều phải do Hội Đồng Cố Vấn Giám Sát và Hội Đồng Điều Hành quyết định.

Điều 11: Phải có 2/3 thành viên hiện hữu của Hội Đồng Cố Vấn Giám Sát, Hội Đồng Điều Hành Trung Ương mới có thể tu chính điều lệ của Hội. Bản Điều lệ nầy gồm có 5 chương, 11 điều, được Hội Đồng Cố Vấn Giám Sát và Điều Hành Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam thông qua ngày 27 tháng 10 năm 2006 và đã được góp ý bổ sung vào ngày 19 tháng 11 năm 2006.

Việt Nam, ngày 19 tháng 11 năm 2006

T/M Hội Đồng Điều Hành

Hội Trưởng

(Ấn Ký)

Thích Thiện Minh

HÀNH TRÌNH TƯỞNG NIỆM NỖI TANG THƯƠNG CỦA ĐỒNG BÀO VIỆT

Friday, May 25, 2012

HÀNH TRÌNH TƯỞNG NIỆM NỖI TANG THƯƠNG CỦA ĐỒNG BÀO VIỆT

 

Inline image 1

BANGKOK, một ngày tháng năm oi bức, tôi đón nhà hoạt động cách mạng, người chiến sỹ vì Tự Do, người chị cả, người mẹ của tôi– LÊ CHÂN tức Chiến sỹ NGUYỄN THỊ NGỌC HẠNH tại nhà ga Hua Lam Phon trong trung tâm BANGKOK. Khi thấy chị từ xa, tôi bước đến và được đón nhận trong vòng tay ấm áp của chị.

 

Tôi cảm thấy thật hạnh phúc, cảm giác hân hoan, hãnh diện và tràn đầy nhuệ khí đủ để mình bước tiếp trên con đường mà mình đang đi vì dân tộc VIỆT. Bước ra khỏi nhà ga,chúng tôi tiếp tục hành trình mà linh khí Đất Trời, Hồn Thiêng Sông Núi đã đưa chúng tôi đến với nhau để hợp tác hành động.

 

Sau một ngày nắng cháy da người, chị tả sơ lược cho tôi về chuyến dò đường trước của chị về trại tị nạn PANAT NIKHOM và kế hoạch dựng lên tấm bia mộ để tưởng nhớ những người bạn, đồng bào của chúng ta đã tuẫn tiết tại trại tị nạn để phản đối lệnh cưỡng bức hồi hương,quay về sống với lũ Cộng sản rừng rú, mặt người dạ thú tại Việt Nam.

 

Những đồng bào bất hạnh đã dũng cảm cắt tay, mổ bụng,treo cổ, để chọn lấy cái chết để những người còn lại có cơ may thoát khỏi lệnh cưỡng bức và những người trước đó đã tuyệt vọng mà quyên sinh.

 

Tạm chia tay chị, để mỗi người một việc mà hành động theo dự định.Tôi cảm thấy lưu luyến và thương xót, đồng thời cảm phục chị,người phụ nữ can đảm quyết đoán mạnh bạo đã dấn thân mình cho Đất Nước mà không nghĩ đến sức khỏe bản thân của chính mình.Với thân hình mảnh khảnh,tiều tụy, bàn chân loang lỗ, trán bầm mặt xưng vì té ngã trên đường bôn ba trèo đèo lội suối trong tuyến đường xuyên rừng băng qua 3 quốc gia từ TÂY TẠNG đi đến THAILAND trong mưa gió.

 

Người phụ nữ nhỏ bé nhưng kiên cường, người đàn bà VIỆT NAM đã làm cho tập đoàn Mafia Cộng sản điên đầu,khốn đốn bấy lâu nay, ngươi chiến sỹ vì Lý tưởng Tự Do, nhà hoạt động cách mạng lẫy lừng mà tôi được nghe biết lại giản dị, bình dân đến bất ngờ.

Chị có thể nhịn ăn,sống nơi chổ tồi tàn để dành ít ỏi tài chính mà minh có để chia sẻ với đồng bào khốn khổ tại đây.Ôi! thật không thể tả,không thể nói bằng lời khi tôi chứng kiến con người thật việc thật.

Inline image 2

con đường vào trại tị nạn Panat Nikhom ngày nay

 

 

Ngày thứ 3, khi tôi gặp chị tại BANGKOK này thì cũng là lúc chúng tôi chuyển bước về tỉnh CHONBURY, nơi  có trại tị nạn của đồng bào VIỆT NAM  năm xưa. Mười hai giờ trưa nắng đổ lửa, chúng tôi đến được trại tị nạn PANAT NIKHOM, 1 trong 2  trại tị nạn lớn nhất THAILAND ngoài trại SIKHEW. Ngồi trên xe Honda ôm,cách ngôi miếu thờ đồng bào vài phút xe chạy, chị chỉ bao quát cho tôi toàn cảnh khu tị nạn.Trước mắt tôi là 1 cánh rừng mới trồng,còn phía bên kia đường là khu trại lính mà theo lời chị nói nó là khu Ô. Chưa bao giờ  tôi bước đến nơi này nhưng khi nghe chị nói và dừng chân trước ngôi miếu, bên cạnh cây da lâu năm, trong người tôi có 1 cảm giác gì đó thật khó tả, da gà tôi nổi khắp nơi, cảm giác lạnh sống lưng chạy khắp người tôi hình như  linh hồn oan khiên của đồng bào đang quanh quẩn đâu đây. Nhìn vào ngôi miếu hơi hoang tàn vì lá khô rơi rụng đầy và nhang khói lạnh tanh, cùng ít vật phẩm cũ kỹ mà người trước cúng tế, tôi cảm thấy chạnh lòng và nghẹn lời.Ngôi miếu xơ xài, ọp ẹp và dễ sập như số phận của những đồng bào của tôi trước đây.

 Inline image 3

ngôi miếu trước cổng trại khu “O”

 

Trong miếu, tôi thấy có cúng gương lược và quần áo phụ nữ,thì ít nhiều tôi đã hiểu vì sao, nói ra thì e ngại tới các vong hồn các vị đã quyên sinh . Nhưng  tôi phải nói ra để mọi người biết được cái khổ sở, đau đớn của người tị nạn trong bối cảnh lúc bấy giờ.Theo tôi,nguyên nhân vì sao dân trong vùng cúng quần áo phụ nữ cùng gương lược ,là vì  oan hồn của các vị phụ nữ trong trại bị thổ phỉ,lính Thái… lúc bấy giờ hãm hiếp và lột trần trước khi chết nên hồn oan khuất hiện về và  người Thái đã thấy vậy nên cúng tế.Nhìn sang chị Hạnh, tôi thấy đôi mắt của chị đã ướt đẫm và khuôn mặt đầy đau khổ và bi phẫn, xót xa vì thân phận người tị nạn.

 

 

Chúng tôi bắt tay vào dọn dẹp, sửa sang ngôi miếu. Vì không đủ thời gian, và cũng vì chị Hạnh chỉ tạm quá cảnh sang đây rồi phải tiếp tục các công việc cấp bách khác nên chúng tôi không thể làm được Tấm bia Tưởng Niệm cho đúng cách, trang trọng hầu sưởi ấm lòng các đồng bào đã tuẫn tiết tại đây.Chúng tôi đành in ra và ép vào khung hình với những lời tưởng nhớ đồng bào mà thôi.Chúng tôi hẹn với lòng sẽ quay trở lại để dựng tấm bia khang trang hơn cùng việc tu sửa lại ngôi miếu.

 

Inline image 4

Chị Ngọc Hạnh dọn dẹp lại ngôi miếu

 

 

Tôi nghĩ,những việc làm này không ai bắt buộc chúng tôi nhưng với trách nhiệm ,lương tri của con người , mỹ tục của người VIỆT NAM,nhất là của những người hết lòng Vì Dân Vì Nước, đã dám dấn thân vì đại cuộc chung thì đây là việc phải làm, là hành động của người còn sống dành cho người đã khuất,những người không may mắn.Sự việc dù đã trải qua hàng hai , ba chục năm nhưng tôi nghĩ việc làm khiêm nhường  này của chúng tôi sẽ làm ấm áp hương hồn của những người đã khuất.

Tôi  lặng lẽ dọn dẹp cỏ dại quanh ngôi mộ, còn chị Hạnh thì vừa khóc vừa làm.

 

 

Không gian nơi này rơi vào  chìm lắng, thật liêu trai như quay trở lại thời điểm tang thương khổ nạn của mấy mười  năm về trước .  Hầu như  hai chị em chúng tôi  được Hồn Thiêng Sông Núi và Anh linh của người  đã khuất dìu dắt vào quá khứ để cảm nhận nỗi đau, nỗi tang thương mất mát của đồng bào mà quyết tâm vững chắc hơn trên con đường cứu nguy Dân Tộc Ôi!

Thật diệu kỳ, như có phép lạ , bàn thờ giờ đây sáng sủa, thanh thoát và thuần khiết  như  hương hồn  những người đã khuất cảm nhận được sự quan tâm chia sẻ từ tấm lòng của những người còn sống nên cảm thấy mãn nguyện hơn chăng?.

 

Hay là tâm hồn chúng tôi được thanh thản, nhẹ nhàng vì ít nhiều cũng làm tròn bổn phận của người may mắn dành cho những số phận bi thương, tan tác của đồng bào. Chúng tôi tự nghĩ là mình đã làm tròn trách nhiệm lương tri, nét đẹp văn hóa mà một người VIỆT thuần túy được đào tạo, người may mắn mang dòng máu VIỆT có dòng gien đạo đức tốt đẹp này.

 

Hương khói, hoa quả ,trà nước xong , chi HẠNH vừa kể vừa chỉ cho tôi thấy các dấu vết còn xót lại trên nền đất tại đây. Chị chỉ cho tôi dấu vết cái nền của  Phòng Tiếp Nhận người mới đến, khu transit ,khu O ,nhất là chị tả cho tôi nghe về cổng chính của trại tị nạn, nơi đặt một miếu nhỏ dưới gốc cây.Đây là nơi đã thấm đẫm nhiều nước mắt và máu huyết của đồng bào vì họ đã dùng tất cả các biện pháp hành động để tuẫn tiết để phản đối lệnh hồi hương, nơi mà trước đây khăn tang quấn đầy chi chít…. Chị kể trong nước mắt và âm giọng nghẹn ngào. Rồi tôi cùng chị đi quanh một vòng trại để chị hồi tưởng lại quá khứ đau thương.Qua bên kia đường, khu Ô bây giờ đã là trại lính quy mô và khang trang . Chị bước đến và chụp hình với người lính Thái đứng gác cổng.Họ chào chúng tôi với nghi thức bồng súng và chào tay nghiêm trang ( theo tôi được biết , đây là nghi thúc chào đón khách quý, người mà họ tôn trọng chứ không phải như cách chào thông thường hàng ngày).Chị chụp hình với tư thế đứng giữa 2 người lính Thái. Tấm hình này làm chị nghẹn ngào thốt lên rằng:”

Inline image 6

Chị Ngọc Hạnh thắp nén hương cho những người tuất tiết

 

 

 

Description: https://mail.google.com/mail/images/cleardot.gif

 

Tôi đang đứng đây,đứng giữa oán và ân”.Oán là đồng bào VIỆT NAM đã chết dưới tay người Thái rất nhiều như : cướp rồi giết. hiếp rồi giết. đánh chết trong các trại tị nạn.v.v, .  ÂN là cũng nhờ mảnh đất tạm bợ này mà  hàng triệu người  VIỆT NAM thoát khỏi bàn tay hung tàn của bọn Cộng sản để được định cư, tái dựng cuộc đời mới nơi Đệ tam Quốc gia.

 

Sau khi đi thăm và hồi tưởng lại những ký ức, chúng tôi ra về để trở lại thủ đô Bangkok nhưng trên đường rời khỏi nơi này thì như là hương hồn của những người đã khuất thúc giục nhắc nhỡ chúng tôi, để chúng tôi phải nghĩ đến việc đi tìm lại mồ mả của những đồng bào được an táng tại đây.Chúng tôi đi vòng vòng hỏi dân địa phương nhưng họ không biết.

 

Chúng tôi đành ngậm ngùi trở về vì thời gian không cho phép chúng tôi lưu lại lâu và cũng vì chị Ngọc Hạnh còn nhiều công tác đặc biệt khác phải làm.

 

Tôi đã dặn lòng mình,khẽ bảo trong thâm tâm là sẽ quay trở lại đây để dựng lên tấm bia cho đàng hoàng, và xứng đáng với tấm lòng của những người đã khuất và tìm cho ra mồ mả để tu sửa cũng như nhang khói dù biết rằng hơn 20 năm trôi qua rồi nhưng thiết nghĩ  những hành động dù muộn màng này cũng ít nhiều làm ấm lòng các chiến sỹ đã tuẫn tiết bỏ mình vì Lý tưởng Tự Do cho chính mình và nhất là cho dân tộc VIỆT NAM.

 

Hàng Tấn Phát

 

BANGKOK.25/05/2012 

NGƯỜI SỐNG VÌ LÝ TƯỞNG TỰ DO, DÂN CHỦ ,HẠNH PHÚC  CỦA TỘC VIỆT

 

 

Nhà Trắng sẽ tiếp xúc người Việt ở Mỹ về nhân quyền VN

Nhà Trắng sẽ tiếp xúc người Việt ở Mỹ về nhân quyền VN

Nguyễn Khanh, biên tập viên RFA

2012-02-20

Nhà Trắng đã yêu cầu được tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ để nghe trình bày các quan tâm về vấn đề nhân quyền Việt Nam.

White House Photo/Pete Souza

Tổng thống Barack Obama phát biểu tại Tòa nhà Quốc Hội ở Washington DC, ngày 24 tháng 1 năm 2012.

http://www.rfa.org/vietnamese/manuallyupload/audio-player/player.swf

 

 

http://www.facebook.com/plugins/like.php?channel_url=https%3A%2F%2Fs-static.ak.fbcdn.net%2Fconnect%2Fxd_proxy.php%3Fversion%3D3%23cb%3Df23903810b16a4%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fwww.rfa.org%252Ff36b96f8b2b6a7c%26relation%3Dparent.parent%26transport%3Dpostmessage&extended_social_context=false&href=http%3A%2F%2Fwww.facebook.com%2FRFAVietnam&layout=standard&locale=en_US&node_type=link&sdk=joey&send=false&show_faces=true&width=250

Cuộc gặp sẽ diễn ra tại Nhà Trắng vào trưa Thứ Hai, mùng 5 tháng Ba, và dự trù kéo dài 3 giờ đồng hồ giữa các quan chức Nhà Trắng và khoảng 100 người Việt. Ngày hôm sau, phái đoàn sẽ mở cuộc tiếp xúc với các vị dân cử quốc hội liên bang.

Yêu cầu VN tôn trọng nhân quyền

Tin Nhà Trắng muốn gặp cộng đồng người Việt ở Mỹ được phổ biến không đầy 2 tuần lễ sau ngày đài truyền hình SBTN và Tổ Chức Boat People SOS cho phát động phong trào kêu gọi mọi người cùng ký tên vào bản thỉnh nguyện thư nhân quyền trên trang mạng của Nhà Trắng.

Thỉnh nguyện thư này yêu cầu Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đình chỉ mở rộng quan hệ thương mại với Việt Nam cho tới khi nhân quyền được tôn trọng. Trong thư có nhắc đến những nhà tranh đấu đang bị cầm tù như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, blogger Điếu Cầy, và nhạc sĩ Việt Khang, người đang bị giam cầm sau khi cho phổ biến hai nhạc phẩm “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Đâu”, chứa đựng nội dung kêu gọi lòng yêu nước của mọi người.

Chiến dịch kêu gọi ký thình nguyện thư bắt đầu từ ngày mùng 8 tháng Hai và kéo dài cho đến ngày mùng 8 tháng Ba 2012. Cho đến sáng hôm nay đã có hơn 54.000 người ký tên ủng hộ.

Vấn đề nhân quyền Việt Nam luôn luôn là quan tâm hàng đầu của những người Việt đang cự ngụ ở Hoa Kỳ và các nước khác, đồng thời cũng là điều mà các giới chức hành pháp và lập pháp Mỹ nói đến trong các cuộc tiếp xúc với phía chính phủ Việt Nam.

Đưa VN vào danh sách CPC

 

 

us-senators-met-vn-dissidents-2012-250.jpg
 
Từ trái: TNS Sheldon Whitehouse, LS Nguyễn văn Đài, TNS John McCain, BS Phạm Hồng Sơn, TNS Joseph Lieberman, LS Lê Quốc Quân và TNS Kelly Ayotte, trong cuộc gặp gỡ tại Hà Nội hôm 20-01-2012. Photo courtesy of NVD.

Hồi giữa tháng trước, Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa John McCain cho báo chí biết là khi ông cùng 3 vị Nghị Sĩ khác viếng thăm Việt Nam, chính phủ Hà Nội bày tỏ ý muốn mua nhiều loại võ khí, trang thiết bị quốc phòng của Mỹ. Câu trả lời của ông là Việt Nam cần phải cải thiện nhân quyền trước khi Quốc Hội Liên Bang có thể đồng ý cho hành pháp bán những loại khí cụ Việt Nam cần mua.

 

Tuần trước khi nói chuyện với Đài Á Châu Tự Do, Thượng Nghị Sĩ McCain cũng cho rằng trong tiến trình đổi mới chính trị, chính phủ Miến Điện đừng nên xem Việt Nam là mẫu mực vì Việt Nam không hề có bầu cử tự do.

Ngoài ra Nữ Dân Biểu Loretta Sanchez của đảng Dân Chủ Mỹ cũng đã đề nghị nên đưa vấn đề nhân quyền vào trong quan hệ giao thương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Đề nghị được bà Sanchez đưa ra trong cuộc thảo luận với Đại Sứ Ron Kirk vào hôm 19 tháng Giêng năm nay.

Trong cuộc thảo luận đó, Bà Sanchez nói là mỗi lần Việt Nam đạt được một thành tựu về mậu dịch như Quy Chế Thương Mại Bình Thường Viẽnh Viễn PNTR, gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới WTO, hay thành công về ngoại giao như Hoa Kỳ ủng hộ để Việt Nam vào Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, là mỗi lần chính phủ Hà Nội nuốt lời hứa về nhân quyền.

Bà Sanchez cũng nói thêm rằng Việt Nam ngày nay ngày càng bỏ tù nhiều người hơn, không chỉ nhắm vào các nhà lãnh đạo tôn giáo hay những người tranh đấu cho tự do, dân chủ, mà cả những người trẻ lên tiếng qua internet bày tỏ nguyện vọng của họ đối với đất nước, trong đó trường hợp của nhạc sĩ Việt Khang là bằng chứng rõ rệt nhất.

Cũng cần nói thêm là tin Nhà Trắng muốn gặp cộng đồng người Việt ở Mỹ được loan tải trong lúc giới thạo tin tại Washington cho Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do biết là vào tháng tới, Ủy Ban Về Tự Do Tôn Giáo  Quốc Tế do chính phủ Hoa Kỳ thành lập sẽ cho công bố bản phúc trình thường niên, trong đó trình bày những sự kiện xảy ra trong năm 2011 liên quan đến tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Một nguồn tin chưa kể kiểm chứng được nói là trong phúc trình này, Ủy Ban sẽ đề nghị Bộ Ngoại Giao Mỹ đặt Việt Nam vào danh sách những nước cần quan tâm, thường hay được gọi tắt là CPC, vì tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam vẫn chưa được cải tiến đúng mức.

Ban Việt Ngữ chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi những tin này để gửi đến quý vị những chi tiết mới nhất ngay sau khi ghi nhận được.

 

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.