“NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM”

XIN MỜI QUÝ VỊ XEM VIDEO “NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM”

http://youtu.be/-k2vdOsgt40

http://youtu.be/nFvU4HhSl4g  

Top of Form

HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM TUYÊN BỐ  

http://youtu.be/QJBc0P6ppTo

 

 

Phòng, chống “diễn biến hòa bình”

“Màn phụ họa” mới cho “vở kịch” cũ
QĐND – Thứ Ba, 27/12/2011, 20:25 (GMT+7)

QĐNĐ – Nhân ngày Nhân quyền thế giới, cái gọi là Hội Ái hữu tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam ở hải ngoại đã tổ chức một sinh hoạt mà theo cách nói của họ là nhằm “Tôn vinh các tù nhân lương tâm Việt Nam”. Đứng đằng sau hà hơi, tiếp sức cho hội này là một số tổ chức, phần tử thiếu thiện chí với Việt Nam tại Mỹ.

Nghe thông tin trên, nhiều người đặt câu hỏi: Cái gọi là Hội Ái hữu tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam là gì mà lại có những việc làm mù quáng như thế? Xin nói ngay rằng, tổ chức này ra đời năm 2006. Kẻ mang danh Hội trưởng hiện nay là Phạm Trần Anh và Tổng thư ký là Vũ Hoàng Hải. Bản chất và mưu đồ sâu xa của hội này có thể tóm gọn là: Đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, xóa bỏ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện mưu đồ đó, những kẻ cầm đầu tổ chức này thường xuyên thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo… viết bài phát tán trên internet với nội dung kích động, lôi kéo một số người nhẹ dạ cả tin đi theo họ để chống đối Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Đặc biệt gần đây, sau khi các cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam xét xử một số người vi phạm pháp luật, phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, cái gọi là Hội Ái hữu tù nhân Chính trị và Tôn giáo đã xếp số người này, trong đó có Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Công Chính… và gần đây là Cù Huy Hà Vũ vào danh sách những “tù nhân lương tâm”. Để đánh bóng hình ảnh, những phần tử cầm đầu tổ chức này ở hải ngoại đã vận động, kêu gọi các tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam can thiệp đòi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”. Một số phạm nhân được Nhà nước Việt Nam đặc xá, chúng sử dụng những phần tử bất mãn, chống đối ở trong nước tìm cách tiếp cận, lôi kéo, dụ dỗ, lừa phỉnh, dùng tiền bao nuôi thể hiện sự cảm thông, chia sẻ nhưng thực chất đó chính là tấm bình phong phục vụ cho lợi ích, mưu đồ đen tối của một số cá nhân cầm đầu…

Thực chất của những sinh hoạt nhằm “tôn vinh các tù nhân lương tâm Việt Nam” nói trên chỉ là “màn phụ họa” mới cho vở kịch cũ mà các thế lực thù địch đã “diễn đi diễn lại” trong mấy năm gần đây. Nhân đây phải khẳng định, Việt Nam không có tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị mà chỉ có những người phạm tội bị các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý.

 

Kim Ngọc

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/5/5/5/171243/Default.aspx

Ý NGHĨA CỦA NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM

Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,

Kính thưa quý vị dân cử,

Kính thưa quý Hội đoàn, đoàn thể

Kính thưa quý Đồng Hương và quý cơ quan truyền thông báo chí

Kính thưa quý vị,

     Trước hết xin được thay mặt cho quý vị cố vấn TT Thích Thiện Minh, LM Phan Văn Lợi, Nhân sĩ Lê Quang Liêm và toàn thể tù nhân chính trị và tôn giáo Việt Nam trân trọng kính gửi đến quý vị lời chào trân trọng nhất. Thưa quý vị, Hôm nay nhân kỷ niệm năm thứ năm ngày thành lập hội và cũng là ngày kỷ niệm 63 năm ngày Liên Hiệp Quốc công bố bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền 10-12-1948, tuyên dương lý tưởng nhân bản cao đẹp của nhân loại, một khuôn mẫư chung mà tất cả các dân tộc, tất cả các quốc gia phải thực hiện: “ Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền sống làm người, quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… để mọi người không còn nghèo khó và sợ hãi bạo quyền, nhân quyền phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

     Thưa quý vị, bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền được ra đời do công trình của 40 tổ chức phi chính phủ ở Hoa Kỳ và các tấm lòng nhân hậu thể hiện lương tri của nhân loại đặc biệt là phu nhân của cố Tổng Thống HK Roosevelt quyết không để cho nhân loại bị nghiến nát dưới gót sắt độc tài phát xít như cuộc Thế chiến II. Bản tuyên ngôn cũng là sự kết hợp tính nhân đạo thuộc nhiều nền văn minh trên thế giới, từ ý niệm về nhân phẩm của phương Đông đến các quyền con người, quyền công dân được đúc kết từ các bản Tuyên ngôn trước đó như : Habeas corpus của Anh quốc năm 1679, Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789 và 1793). Bản Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền gồm 30 điều được dịch ra 375 ngôn ngữ phổ biến trên toàn thế  giới. Sau khi công bố bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, hai Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị định thư không bắt buộc III đã  được Liên hiệp Quốc thông qua năm 1966 để  hoàn tất Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế, biểu trưng cho nền văn minh của nhân loại.

     Thưa quý vị, trong số  50 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc thời ấy, 40 quốc gia bỏ phiếu thuận, 8 quốc gia bỏ phiếu trắng và 2 nước vắng mặt là Honduras và Yemen. 8 nước bỏ phiếu trắng gồm có 6 nước Cộng sản, Arabie saoudite và Nam Phi. Cả  thế  giới không ngạc nhiên gì vì 2 nước Arabie Saoudite và Nam Phi bỏ phiếu trắng vì Arabie Saoudite  đang duy trì chế độ đa thê, Nam Phi thì  đang do người da trắng cai trị  với chủ  trương phân biệt chủng tộc, còn 6 nước CS bỏ phiếu trắng lại càng dễ hiểu hơn nữa vì nếu các quốc gia CS mà bỏ phiếu thuận nghĩa là phải tôn trọng các quyền tự do căn bản cũng như tôn trọng nhân phẩm của con người… thì làm sao thống trị được nhân dân. Nói một cách khác thì làm gì còn chế độ CS nữa.

     Ngày nay, nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba nhưng chỉ còn vài ba nước CS trong đó có nhà nước CSVN vẫn không tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Họ cho rằng không thể áp đặt quan niệm phương Tây vào những hoàn cảnh điều kiện khác nhau của mỗi nước, họ cho rằng quyền độc lập dân tộc là quyền cao nhất nhưng chính những đảng viên CS lão thành đã thức tỉnh, uất thốt lên “Có độc lập mà không có tự do” thì độc lập làm gì? Trên thực tế cái mà người CS gọi là độc lập chỉ là chiêu bài ru ngủ quần chúng. Lịch sử chứng minh rằng CSVN đã lợi dụng danh nghĩa kháng chiến giành độc lập để bành trướng chủ nghĩa CS, “độc lập” để “Nội thuộc”  bành trướng Bắc Kinh mà thôi. Nhân loại văn minh đều tôn trọng giá trị nhân bản có tính phổ quát vì khi một người sinh ra thì họ đã là một người nên phải được hưởng đầy đủ những quyền căn bản của một con người, sau đó mới tới người đó sinh ra ở quốc gia nào và theo tôn giáo nào… Cho đến ngày nay mà nhà nước CHXHCNVN vẫn rêu rao là một nhà nước pháp quyền, có cả một rừng luật nên họ áp dụng luật rừng,  luật giang hồ, luật xã hội đen đối với đồng bào yêu nước ngay trong thời đại văn minh này. Sở dĩ chế độ CSVN phải dùng bộ máy công an đàn áp nhân dân không phải họ mạnh mà vì họ đang suy yếu dần, sự tồn tại của chế độ chỉ còn tính theo từng ngày từng tháng nên họ sợ nhân dân sẽ đứng lên lật đổ bạo quyền nên phải trấn áp để duy trì quyền lực để chia chác quyền lợi cho phe đảng mà nhân dân gọi là tập đoàn tư bản đỏ, mafia đỏ…

     Thưa quý vị, sau khi xé bỏ hiệp định Paris đem quân xâm chiếm miền Nam, chế độ CS đã bắt các sĩ quan công chức chế độ VNCH đi “Học tập Cải Tạo” để trả thù quân cán chánh miền Nam. Hàng chục ngàn tù nhân “cải tạo” ốm đau đói khát đã chết trong các trại tù khắc nghiệt của CS vì bị trả thù hành hạ. Trên 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam đã bị chế độ CS bất nhân, buôn dân bán nước đem ra pháp trường xử tử trong đó có 2 linh mục và 2 phụ nữ. Đặc biệt chị Trần Thị Lan bị Việt gian Cộng sản xử tử hình tại sân vận động Gò Công năm 1976 trong lúc chị đang có thai 8 tháng đúng vào ngày Rằm tháng bảy, ngày lễ Vu Lan “Xá tội vong nhân”. Hành động tàn ác dã man này của chế đ ộ CSVN đã vi phạm trầm trọng vào điều 6 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự chính Trị. Đây là một tội ác “Trời không dung, đất chẳng tha, Thần người đều căm hận” không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn là một tội ác đối với cả nhân loại. Nhạc sĩ  Nguyễn Hữu Cầu,  Đại úy QLVNCH hiện vẫn đang bị  giam cầm hơn 35 năm vì đã làm bài hát “Vu Lan Giết người” tố cáo tội ác dã man của CSVN.

     Đã ác với dân, tập đoàn Việt gian CS lại hèn với giặc, cam tâm dâng đất nhường biển cho quan thầy Trung Cộng. Bè lũ “Thái thú xác Việt hồn Tầu” này lại thẳng tay trấn áp, đánh đập, bỏ tù những đồng bào, thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ yêu nước xuống đường biểu tình chống Trung Quốc.

     Chính vì vậy, NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM được tổ chức để tri ân những anh hùng dân tộc đã hy sinh trong công cuộc đấu tranh giành tự do dân chủ, đồng thời vinh danh những chiến sĩ dân chủ, những tù nhân lương tâm của Việt Nam đang dũng cảm đấu tranh giành dân chủ tự do, đấu tranh chống kẻ nội thù “Việt gian bán nước” và chống giặc ngoại xâm Trung Cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Thưa quý vị,

Hôm nay chúng ta tổ chức “Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam” chính là để để vinh danh những tù nhân chính trị, Tôn giáo đã đứng lên đấu tranh cho tự do, dân chủ sau ngày mất nước 30-4-1975. Chúng ta cùng tưởng niệm hơn 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam, những anh hùng dân tộc đã bị chế độ CS bất nhân, buôn dân bán nước đem ra pháp trường xử tử.  Thưa quý vị, Ngày Tù nhân Lương tâm Việt nam đã  được sự  ủng hộ  nhiệt tình của 109 Hội đoàn, Đoàn thể  trong nước và  Hải ngoại cho “Ngày Tù Nhân Lương tâm Việt Nam” sẽ dễ dàng vận động quý vị dân cử đề nghị quốc hội vinh danh ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam. Từ đó, chúng ta sẽ vận động công luận quốc tế yểm trợ hữu hiệu hơn cho công cuộc đấu tranh dân chủ nhằm giải thể chế độ CS bạo tàn, bất nhân Hại dân bán nước. Trong tương lai không xa, khi chế độ CS xụp đổ, chúng ta sẽ chọn ngày này là một ngày “Quốc Lễ” để tưởng niệm, Tri ân những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho lý tưởng Tự do. Chúng ta sẽ đi bốc mộ những anh em đã chết trong các trại tù đem về nghĩa trang quốc gia nên ngày này, cũng chính là ngày giỗ của những chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì lý tưởng tự do trong cuộc chiến, những đồng bào đã mất tích trên đường tìm tự do …

Thưa quý vị,

Trong không khí trang nghiêm này, chúng ta cùng thắp nén hương lòng tưởng nhớ và tri ân những anh hung dân tộc, vinh danh những chiến sĩ dân chủ, giới nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ và nhất là các thanh niên sinh viên yêu nước đang xuống đường đấu tranh đòi dân chủ tự do, đòi cơm áo và quyền sống làm người, đòi phục hồi nhân phẩm và tài sản đất đai đã bị tước đoạt… Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ chế độ độc tài nào cũng phải xụp đổ khi quần chúng nhất loạt xuống đường chống độc tài tham nhũng, chống áp bức bất công để giành lại quyền sống làm người, quyền làm chủ đất nước. “Đại nghĩa tất thắng hung tàn, chí nhân phải thay cường bạo”, Tập đoàn Việt gian bán nước cũng sẽ chịu chung một số phận trong một ngày gần đây.

Trân trọng kính chào quý vị.

 

PHẠM TRẦN ANH

 

 

TUYÊN BỐ

“NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM 10-12”

Ngày 10-12-1948, Liên Hiệp Quốc công bố bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền, lý tưởng cao đẹp của nhân loại, một khuôn mẫư chung mà tất cả các dân tộc, tất cả các quốc gia phải thực hiện: “ Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền sống làm người, quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… để mọi người không còn nghèo khó và sợ hãi bạo quyền, nhân quyền phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

     – Nhận định rằng: Nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một thành viên của Liên Hiệp Quốc đã ký kết tham gia Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị ngày 24-9-1982 có nghĩa vụ phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản quy định trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị. Thế nhưng, nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã đàn áp thô bạo, đánh đập dã man những người tranh đấu cho nhân quyền, những người Việt Nam yêu nước biểu tình chống Ttung Quốc. Chủ trương vi phạm nhân quyền, tước đoạt mọi quyền căn bản của người dân của nhà nước CHXHCNVN đã chà đạp nhân quyền một cách trắng trợn, xem thường công luận quốc tế, xúc phạm trầm trọng lương tri của nhân loại văn minh tiến bộ.

     – Nhận định rằng: Sau khi xâm chiếm miền Nam Việt Nam bằng vũ lực, chế độ Cộng sản Việt Nam đã bắt quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải đi “Học tập Cải tạo” để hành hạ đọa đầy trong những trại tù khắc nghiệt khiến hàng chục ngàn tù nhân Chính trị đã chết trong tù vì ốm đau đói khát. Hàng trăm tổ chức do những người Việt Nam yêu nước đã đứng lên đòi tự do dân chủ. Chế độ Cộng sản bạo tàn đã xử tử hình trên 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo trong đó có 2 linh mục và 2 phụ nữ, đặc biệt chị Trần thị Lan bị bạo qyền tỉnh Tiền Giang xử bắn trong lúc chị đang có thai 8 tháng. Hành động dã man vô nhân đạo này đã vi phạm trầm trọng bản tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và điều 6 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị. Đây là một tội ác không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn là tội ác với cả nhân loại nữa.

     – Nhận định rằng Nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết những hiệp định “Nhường biển Dâng đất” cho Trung Quốc để từng bước đưa Việt Nam nội thuộc Trung Quốc. Nhà nước CHXHCNVN đã đánh đập bắt giam đồng bào dân oan, bỏ tù những người Việt Nam yêu nước biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Đây là chế độ tồi tệ nhất trong lịch sử Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 63 năm ngày công bố bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Hội Ái Hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam long trọng tuyên bố:

     1. Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một chế độ độc tài tàn bạo đã chủ trương vi phạm nhân quyền một cách hệ thống, tinh vi và xảo quyệt: cho công an giả dạng thường dân hành hung dân lành, vào nơi thờ phượng xúc phạm linh mục đang hành lễ trong nhà thờ Thái Hà. Nhà nước CHXHCNVN đã cho công an, dân phòng giả danh nhân dân đập phá nhà thờ, đặt mìn nổ xập nhà nguyện Con Cuông để gây chia rẽ hận thù tôn giáo giữa đồng bào Việt Nam với nhau để duy trì chế độ độc tài bất nhân hại dân bán nước.

     2. Ngày kỷ niệm Quốc tế Nhân quyền 10-12 hàng năm được chọn làm “Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam” để nêu cao giá trị nhân bản cao đẹp của nhân loại, đồng thời vinh danh những chiến sĩ dân chủ tự do đang đấu tranh cho nhân quyền và dân quyền trong nước. “Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam” sẽ được tổ chức hàng năm để toàn dân tưởng niệm, tri ân những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho lý tưởng dân chủ tự do. 

     3. Dân tộc Việt Nam đang đối mặt với “Thù trong, giặc ngoài”, nguy cơ mất nước cận kề do tập đoàn Việt gian hại dân bán nước gây ra. Đã đến lúc đồng bào phải đồng loạt xuống đường trên cả nước để thể hiện quyết tâm, biểu dương sức mạnh của toàn dân đòi dân chủ tự do, đòi cơm áo và quyền sống làm người, đòi lại quyền làm chủ vận mệnh đất nước để toàn dân trong nước và Hải ngoại đồng tâm hiệp lực chống giặc ngoại xâm Trung Cộng. Liên Hiệp Quốc, cả loài người tiến bộ đang hỗ trợ cho chúng ta như đã hỗ trợ cho nhân dân các nước Tunisia, Ai Cập, Libiya đứng lên lật đổ bạo quyền Ben Ali, Hosni Mubarak,Gaddafi. Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ chế độ độc tài nào cũng phải xụp đổ khi quần chúng nhất loạt xuống đường chống độc tài tham nhũng, chống áp bức bất công để giành lại quyền sống làm người, quyền làm chủ đất nước. Tập đoàn Việt gian bán nước cũng sẽ chịu chung một số phận trong một ngày gần đây.

      Đã đến lúc những người Cộng sản thức tỉnh, những tướng lĩnh quân nhân ỳêu nước đứng lên cương quyết loại bỏ những tên Việt gian bán nước, những tên độc tài tham nhũng để cứu nhân dân thoát khỏi cảnh lầm than thống khổ, cứu đất nước khỏi họa diệt vong trước khi đã quá muộn.

Việt Nam Hải Ngoại ngày 9-12-2011

Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam

Hội Đồng Điều Hành Hải Ngoại

 

 

PHẠM TRẦN ANH

 

DANH SÁCH HỘI ĐOÀN, ĐOÀN THỂ VÀ NHÂN SĨ ĐỒNG KÝ TÊN:

 

  1. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Bắc Cali: Bô lão Võ Toàn.

  2. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Nam Cali: GS Nguyễn Thanh Liêm.

  3. Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy:

Bô Lão Lê Quang Liêm, Hội Trưởng Trung Ương.

  1. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: HT Thích Nhật Ban, HT Thích Không Tánh.

  2. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam:

           TT Thích Thiện Minh, cố vấn.

  1. Khối 8406: LM Phan văn Lợi.

  2. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam: HT BS Phạm Hồng Sơn Việt Nam.

  3. Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân tộc Việt Nam, Giáo Hội Liên Hữu Lutheran Viet Nam & Hoa Kỳ: Hội Trưởng và 651 Mục sư ở Việt Nam.

  4. Mặt Trận Dân Tộc Cứu Quốc: Ô Phạm Trần Anh.

10. Cao Trào Nhân Bản: BS Nguyễn Đan Quế Việt Nam.

11. Hội Quốc tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á: GS Nguyễn Ngọc Bích.

12. Liên Minh Dân Tộc Việt Nam: Nhà văn Chu Tấn.

13. Ủy Ban Hòa hợp Dân Tộc và Tôn giáo: TS Nguyễn Anh Tuấn.

14. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính trị và Tôn Giáo Việt Nam:

           LM Nguyên Thanh, cố vấn.

15. Tổ chức Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản: Dr Nguyễn Quốc Quân.

16. Ủy Ban Yểm Trợ Giáo Xứ Thái Hà Nam California.

17. Đại diện Khối 8406 Hải Ngoại: GS Nguyễn Chính Kết.

18. Đại Việt Quốc Dân Đảng: TS Phan Văn Song.

19. Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất: TS Nguyễn Hồng Dũng.

20. Hội Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam: Nhà Bình luận Chu Chi Nam.

21. Coalition of American Citizen For Freedom and Democracy:

BS Nguyễn Hy Vọng

22. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Âu Châu:

 TS Nguyễn Ngọc Hùng.

  1. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Úc Châu:

PCT Đoàn Nguyên Hồng.

24. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Cambodia:

Nguyễn Phùng Phong.

25. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Thái Lan: Lê Thái Lan.                                                 

26. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Đan Mạch: Uyên Hạnh.

27. Truyền Thông Toàn cầu Global Viet Media:

Dr Nghiêm Phú, Cố vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam. 

28. Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam Hành Động Cứu Nước: Chủ Tịch Bà Đặng Thị Danh, Toronto, Canada .

29. Chiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (Sáng lập viên PTPNVNHĐCN) France.

30. Hội Hải Quân & Hàng Hải Trần Quang Khải, Philadelphia và phụ cận: Hội Trưởng Nguyễn Tạ Quang.

31. Đại diện Khối 8406 Nam Cali: Trần văn Minh.

32. Diễn Đàn Tự Do Dân Chủ: Ông Nguyễn Duy Nghiêu.

33. Câu Lạc Bộ Dân Chủ Tự Do: Ông Nguyễn Cao Nguyên

34. Câu Lạc Bộ Thi văn Tao Đàn Hải Ngoại: Nhà Thơ Vũ Lang.

35. TT Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ: Nhà văn Nguyễn Hữu Của.

36. Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ: Ông Đoàn Thế Cường.

37. Cộng Đồng Việt Nam Cleverland:  Ông Nguyễn Hữu Lễ.

38. Hội Đồng Việt Nam Tự Do: Ông Phan Như Hữu.

39. Hội Cựu SV Quốc Gia Hành Chánh Nam Cali: Ông Trần Ngọc Thiệu.

40. Ủy Ban Phối Hợp Chống Cộng Sản và Tay Sai: Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn.

41. Tiếng Nói Giáo Dân: Bà Trần Thị Thanh Hiền.

42. Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo: Ông Phạm Đức Hậu.

43. Hội Cử Tri Việt Mỹ: Ông Hoa Thế Nhân.

44. Hội Đồng Hương Biên Hòa: Bà Duyên Trang.

45. Hội Nữ Quân Nhân Nam Cali: Bà Phạm Diệu Chi.

46. Liên Hội Cựu Quân Nhân SanDiego: Hoàng văn Nhạn.

47. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Úc Châu: Nhân sĩ Phạm Ngọc Điệp

48. Ái Hữu Quốc Gia Nghĩa Tử:  Ông Ngô Chí Thiềng.

49. Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẵng WA: Ông Đinh Hùng Chấn: Hội Trưởng.

50. Phân Khu Hội Cựu TNCTVN Tacoma WA”: Ông Cao Hữu Thiên.

51. Cộng Đồng Riverside: Nhân sĩ Phan Đa Văn

  1. Tổng đoàn Thanh niên Phật giáo Hòa Hảo: Ô Trương văn Đức.

  2. Ủy Ban Vận Động CPC: Ô Nguyễn Tấn Lạc.

  3. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Cleverland, Ohio Hoa Kỳ: CT Nguyễn Hữu Lễ.

  4. Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất (Xứ bộ Nam Cali): Vũ Hoàng Hải,.

  5. Tổ chức Bạch Đằng Giang: Nguyễn Đức Vinh.

  6. Liên Minh Dân Chủ Việt Nam Thuần Túy: CT Nhân sĩ Lý Hiền Tài.

58. Nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân: nhà báo Trần Phong Vũ

59. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Colorao: Nhân sĩ Trần Trọng Thuyên.

60. Gia đình Phật Tử An Lạc Phụng sự: Nhân sĩ Hoàng văn Phong.

61. Hội Phụ Nữ Nhân Ái Thiện Nguyện Nam Cali HK: Bà Hồng Lan.

62. Hội Giáo Chức Việt Mỹ Tây Nam Hoa Kỳ.

63. Báo Thời Luận: Nhà văn Đỗ Tiến Đức.

64. Điện Báo Ánh Dương: Bà Đỗ Thị Thuấn.

65. Nguyệt san Hoài  Hương : Minh Nguyệt WA DC.

66. Cỏ Thơm Magazine : Nhà văn Nguyễn thị Ngọc Dung, WA DC.

67. Ủy Ban Phát Huy & Bảo vệ Chính nghĩa Quốc Gia : Nhân sĩ Lê Ngọc Diệp.

  1. 68.  Liên Minh Quang Phục Việt Nam: Nhân sĩ Võ Đại Tôn.

  2. 69.  Hội Đồng Liên Tôn: Hiền Tài Phạm Văn Khảm Cao Đài.

70. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California: LS Nguyễn Xuân Nghĩa.

  1. 71.  Hội Đền Hùng hải Ngoại: Nhân sĩ Trần Thanh Phong, CT Hội Đồng Kiểm soát.

  2. 72.  Cộng Đồng Việt Nam Los Angeles : Nhân sĩ Nguyễn văn Cừ.

73. Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức : Tâm Hòa Lê Quang Dật.

  1. 74.  Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa Lưu Vong.

75. Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại (Vietnamese Legion).

76. Cửu Long Radio cùng chương trình Thiên Ánh Đạo Vàng. ( Bảo Tố & Triệu Phổ).

77. Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam : TS Mai Thanh Truyết.

78. Hôi Người Việt Cao Niên vùng Vịnh :Ông Nguyễn Hữu Lục

79. Lực lượng Sĩ Quan Thủ Đức-Quân Lực VNCH: Ông Nguyễn Minh Đường.

80. Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California: Ông Mai Khuyên 

81. Phong Trào Trần QuốcToản :Anh Nguyễn Minh Huy.

82. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Khu Vực Tây Bắc Hoa Kỳ: Bà Hoàng Xuyên  Anh.

83. Đảng Thăng Tiến Việt Nam: Thái Thanh Thủy.

84. Bạch Đằng Giang Founation: Dương Hồng Thẩm, Việt Nam.

85. Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước: Nguyễn Khánh, Việt Nam.

86. Hội Người Việt Quốc Gia Tự Do Đan Mạch : Vũ Đình Quyến.

87. Hội Đồng Hương và  Thân Hữu Thái Bình: Bà Đào Bích Ty.

88. Hội Đồng Hương Ban Mê Thuột : Ô Nguyễn Xuân Kế.

89. Cộng Đồng Việt Nam Sandiego : Nguyễn văn Lực.

90. Ủy Ban Điều hợp chống CS và Tay Sai: Hoàng Vy.

91. Hội nghiên cứu sử học Việt Nam tại Âu Châu: Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc, tổng thư ký

92. Quỹ Tù Nhân Lương Tâm(Prisoners Of Conscience Fund Inc): Ô  Phùng Mai.

93. Đại diện Khối 8406 Victoria, Úc Châu: Ô Nguyễn Quang Duy.

94. Ban Tư Vấn 8406: Ô Nguyễn Thanh Hùng.

95. Ban Vận Động Phát Triển Khối 8406 HK: Quốc Việt.

96.  Phong trào Yểm trợ Khối 8406 Vancouver, Trần Ngọc Bính

97.  Khối 8406 Tây Úc: Nguyễn Lê Thanh.

98.  Khối 8406 San Francisco (California, USA), Nguyễn Phú.

99. Khối 8406 Oakland (California, USA), Nguyễn Trung Cao.

99. Khối 8406 Boston (Massachusetts, USA), Hạ Uyên.

100.Câu Lạc Bộ Đồng Hành: Vương Hoàng Minh.

101.Tổ chức Hưng Việt: Nguyễn Kim Bình.

102. Câu Lạc Bộ Tình Nghệ sĩ: NS Cao Minh Hưng.

103. Ủy ban Canada Yểm trợ Dân chủ, Tự do Tôn giáo Việt Nam: Ls Alain Ouellet (Comite canadien de   support a la democratie et liberte religieuse au Vietnam).

104. Khối 8406 Montreal (Canada): Hà Bảo Trung.

105. Khối 8406 Denver (Colorado, USA): Nguyễn Phúc Bảo Quốc.

106. CTPT & Website Khối 8406 Hoa Kỳ (California, USA): Hoàng Lam Hương.

107. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại:  CT Vũ văn Tùng.

108. Khối 8406 Boston MA: Nguyễn Quốc Việt.

109. Diễn Đàn Văn Hiến Việt Nam: Nam Phong.

NGÀY TÔN VINH CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM

TẠI VIỆT NAM

 

      SỰ THẬT – CÔNG LÝ – TÌNH YÊU

Dominhtuyen

Quyết định lựa chọn ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 là ngày tôn vinh các tù nhân lương tâm tại Việt Nam theo nguyện vọng của Hội Aí Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn giáo tại Quốc Nội và Hải Ngoại được khởi xướng từ một số nhân vật bất đồng chính kiến nổi tiếng trong nước như : Linh Mục Phan Văn Lợi, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, Thượng Tọa Thích Thiện Minh….là một quyết định thích hợp và đúng đắn, nhất là trong giai đoạn hiện nay ngày có thêm nhiều nhà bất đồng chính kiến, các bloggers, các nhà hoạt động Tôn giáo liên tục bị chính quyền cộng sản Việt Nam sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ và giam cầm một cách sai trái. Trong số họ nhiều người đã bị ngược đãi nặng nề, bị bức cung, tra tấn hoặc bị giam giữ trong điều kiện khắc nghiệt, vô nhân tính. Nhiều người trong số họ khi lâm bệnh không được chăm sóc y tế và chữa trị, dẫn đến nhiều cái chết thương tâm như trường hợp tù nhân chính trị Nguyễn Văn Trại thuộc trại tù Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai. Tù nhân chính trị Trương Văn Sương thuộc trại giam Nam Hà, miền Bắc Việt Nam trong năm nay. Bên cạnh đó còn hàng chục ngàn tù nhân chính trị khác đã chết một cách tủi nhục trong ngục tù cộng sản kể từ 1975 sau khi cộng sản lên nắm chính quyền. Xin xem:

http://www.vietmemorial.org/myweb/thelist.html

Quyết định vinh danh những người tù lương tâm vào ngày Quốc Tế Nhân Quyền của Hội Aí Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn giáo là một sự chia sẻ thiết thực không những phần nào xoa dịu nỗi đau thể xác lẫn tinh thần mà người tù nhân lương tâm tại Việt Nam đang phải gánh chịu mà còn thay mặt họ tố cáo hành động dã man của chính quyền cộng sản Việt Nam đối với người tù lương tâm, người tù chính trị tại Việt Nam .Họ cần được sự quan tâm đúng mực của cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước cũng như cộng đồng Quốc Tế. Chính quyền Việt Nam luôn hô hào trước dư luận Quốc Tế rằng tại Việt Nam hoàn toàn không giam giữ bất kỳ tù nhân chính trị nào trong khi đó hàng trăm hàng ngàn nhà Dân Chủ, nhân vật bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động Tôn giáo đang bị giam cầm tại các trai giam, nhà tù trên phạm vi cả nước chỉ vì bày tỏ chính kiến của mình một cách ôn hòa nếu không xem là tù nhân chính trị thì là tù nhân gì?. Đây là một sự lừa dối trắng trợn của Việt Nam trước cộng đồng Quốc Tế. 

Ngày Quốc Tế Nhân Quyền hàng năm giúp cho mọi người, mọi cộng đồng xã hội, mọi quốc gia ôn lại ý nghĩa và lợi ích xuất phát từ việc tôn trọng nhân quyền tại mỗi quốc gia trên thế giới. Riêng tại Việt Nam, ngày ý nghĩa này đặc biệt nhắc nhở các nhà lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam hãy tôn trọng nhân quyền và thực thi đầy đủ nghĩa vụ của một thành viên không thường trực của Liên Hiệp Quốc. Ngày này cũng nhắc nhở nhà nước Việt Nam hãy tôn trọng và thực hiện những cam kết Quốc Tế khi Việt Nam ký tên vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền kể từ năm 1977 và tham gia Công Ước về Quyền Dân Sự và Chính Trị vào năm 1982. Tuy nhiên mặc dù đã chính thức gia nhập vào Liên Hiệp Quốc kể từ năm 1977 và tham gia mọi cam kết Quốc Tế về quyền Dân Sự và Chính Trị, nhưng chưa bao giờ chính quyền cộng sản Việt Nam tôn trọng những cam kết Quốc Tế đó.

Trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng hội nhập vào các nước trong khu vực và Quốc Tế. Chính phủ Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải nghiêm chỉnh cải thiện tình trạng nhân quyền tồi tệ của mình bắng cách thực thi hoàn toàn và đầy đủ những cam kết Quốc Tế. Việt Nam phải tỏ thiện chí một cách rõ ràng và cụ thể để tránh những áp lực Quốc Tế đang ngày một đè nặng lên Việt Nam theo yêu cầu như phải trả tự do đối với các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị đang bị giam giữ một cách sai trái và vô nhân đạo trong nước như trường hợp của Linh Mục bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Lý, Blogger Điếu Cày…..Bên cạnh sự mong đợi thay đổi một cách thiện chí từ phía chính quyền, người dân Việt Nam trong và ngoài nước cũng cần có thêm nhiều tiếng nói đồng hành với những nổ lực của Quốc Tế trong việc thúc đẩy chính quyền Việt Nam tôn trọng nhân quyền và Công Pháp Quốc Tế.

NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 137 (15-12-2011)

Hôm 10-12 mới rồi, toàn thể thế giới đã kỷ niệm 63 năm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (1948), một văn kiện quan trọng khẳng định rằng các quyền Dân sự, Chính trị, Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (vốn sẽ được khai triển và trình bày chi tiết trong hai Công ước Quốc tế Nhân quyền năm 1966) là biểu trưng đích thật của văn minh nhân loại hiện thời, bổn phận cấp thiết mà các chính quyền phải thực thi và là thành tựu chủ yếu mà các quốc gia phải nỗ lực đạt cho được. Quả vậy, Tuyên ngôn khẳng định trong phần mở đầu rằng Mọi thành viên trong gia đình nhân loại đều có nhân cách, có quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng. Sự công nhận nhân cách và các quyền này là nền tảng của tự do, công chính và hoà bình trên thế giới” và rằng “mọi sự coi thường và khinh thị nhân quyền đều đưa đến những hành động dã man, xúc phạm đến lương tâm nhân loại và ước vọng về một thế giới mà mọi người đều được hưởng tự do ngôn luận, tín ngưỡng và không bị đe dọa, bởi đã được tuyên cáo đó là khát vọng cao cả nhất của loài người”.

Tuyên ngôn là sự kết hợp tính nhân bản và nhân đạo của nhiều nền văn hóa và tôn giáo trên thế giới, từ ý niệm nhân phẩm, nhân vị của phương Đông đến ý niệm nhân quyền và dân quyền được trình bày trong nhiều văn kiện phương Tây trước đó như : Habeas Corpus của Anh quốc năm 1679, Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789. Trong số 50 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc thời ấy, 40 quốc gia bỏ phiếu thuận, 8 quốc gia bỏ phiếu trắng và 2 nước vắng mặt là Honduras và Yemen. Tám quốc gia bỏ phiếu trắng gồm có 6 nước Cộng sản, Ả Rập Sauđi và Nam Phi. Ả Rập Sauđi phiếu trắng vì đang duy trì chế độ đa thê và độc tôn Hồi giáo, Nam Phi phiếu trắng vì đang do người da trắng cai trị với chủ trương phân biệt chủng tộc, còn 6 nước CS bỏ phiếu trắng vì theo chế độ vừa độc tài độc đảng, vừa duy vật phi nhân, từ khước tôn trọng nhân phẩm cũng như các nhân quyền cơ bản.

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuy có tham gia hai Công ước Quốc tế về Nhân quyền vào năm 1982, nhưng chỉ để kiếm chác sự giúp đỡ của các nước dân chủ giàu có (vì lúc ấy Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm do kinh tế kiệt quệ) và lừa gạt thế giới theo quan niệm gian trá của Cộng sản: “Ngôn từ không để diễn tả sự vật mà là để mê hoặc lòng người”. Do đó cho đến hôm nay, tại Việt Nam, dưới ách cai trị của Cộng đảng độc tài, các quyền Dân sự bị chà đạp (điển hình là bi kịch của những dân oan), các quyền Chính trị bị tước bỏ (điển hình là thảm nạn của những nhà đối kháng), các quyền Kinh tế bị thao túng (điển hình là sự tung hoành của những doanh nghiệp nhà nước), các quyền Xã hội bị khinh khi (điển hình là sự tồi tệ của nền y tế) và các quyền Văn hóa bị xem nhẹ (điển hình là sự sa sút của nền giáo dục). Tình trạng này đã khiến Việt Nam thành một nhà tù lớn giam nhốt toàn dân (trong cảnh bất an, nghèo đói, khống chế, vô định…) và có vô số nhà tù nhỏ giam nhốt các tù nhân chính trị và tôn giáo, tức các tù nhân lương tâm vốn đã can đảm và nỗ lực khôi phục những quyền nói trên cho đồng bào và Dân tộc.

Chính vì thế mà trong lễ kỷ niệm 5 năm ngày thành lập của mình (trùng ngày Quốc tế Nhân quyền, tổ chức tại Little Saigon, Hoa Kỳ), Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam (vốn có thành viên cả trong lẫn ngoài nước) đã có sáng kiến thành lập “Ngày Tù nhân Lương tâm Việt Nam” cũng vào đúng dịp này, để vinh danh những tù nhân chính trị, tôn giáo đã đứng lên đấu tranh cho tự do, dân chủ kể từ ngày đất nước rơi vào tay Cộng sản 30-4-1975. Bởi lẽ không gì làm cho các Nhân quyền được đề cao sáng tỏ và vấn đề Nhân quyền được đặt ra cách gay gắt bằng chính thảm trạng bị sách nhiễu, quản chế, tù ngục của những kẻ đã tranh đấu cho Nhân quyền. Và ngay lập tức, sáng kiến này đã được sự hưởng ứng của hàng trăm tổ chức, hội đoàn của người Việt quốc nội lẫn hải ngoại cũng như sự ủng hộ của nhiều chính khách ngoại quốc, đặc biệt tại Hoa Kỳ. Lời Tuyên bố của Hội Ái hữu (có chữ ký của hơn 100 tổ chức hội đoàn nói trên) đưa ra ngày 09-12 khẳng định: Ngày kỷ niệm Quốc tế Nhân quyền 10-12 hàng năm được chọn làm “Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam” để nêu cao giá trị nhân bản cao đẹp của nhân loại, đồng thời vinh danh những chiến sĩ dân chủ tự do đang đấu tranh cho nhân quyền và dân quyền trong nước. “Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam” sẽ được tổ chức hàng năm để toàn dân tưởng niệm, tri ân những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho lý tưởng tự do dân chủ ”.

Không ai không biết kể từ sau biến cố đau thương “tháng thư đen 1975”, hàng mấy trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng hòa đã bị CS xâm lăng giam cầm để trả thù vì đã tự vệ chống lại chúng, trên 300 tù nhân đã bị CS bất nhân xử tử để trừng phạt (trong đó có 2 linh mục và hai phụ nữ) và gần cả trăm ngàn chết rũ tù nơi nước độc rừng thiêng. Rồi cho đến nay, hàng ngàn tù nhân chính trị và tôn giáo bị Cộng sản vô thần và độc tài tống ngục để bảo vệ chế độ toàn trị bất công, tiếp tục hành vi phản dân hại nước và đeo đuổi chính sách đồng lõa với giặc Tàu cộng. Không có vùng nào của đất nước lại không thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu của các ngục sĩ lương tâm, không vang lên lời than đau thương, tiếng kêu uất hận của các tù nhân chính trị cùng của gia đình họ. Ngay cả những dân oan đứng lên đòi lại đất đai tài sản cũng bị giam cầm (như tại Bến Tre với các tù nhân Dương Kim Khải, Trần Thị Thúy, Phạm Ngọc Hoa, Nguyễn Chí Thành…), thậm chí bị bắn chết (như ông Lê Hữu Nam và em Lê Xuân Dũng tại Thanh Hóa); những công nhân đứng lên đòi được trả lương xứng đáng, được hưởng những quyền lao động hợp nhân phẩm cũng bị sách nhiễu, hành hung, tống ngục (như ba thủ lãnh công nhân trẻ Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh); những tín đồ đứng lên đòi lại quyền tự do tôn giáo và cơ sở Giáo hội bị tước đoạt cũng bị vu khống, thóa mạ, hành hung, lùa về “Trại phục hồi nhân phẩm” (nơi giam giữ gái mãi dâm) để làm nhục (như các linh mục và giáo dân Thái Hà), hoặc bị cầm tù (như linh mục Nguyễn Văn Lý, mục sư Nguyễn Trung Tôn), phải lãnh những bản án bất công nặng nề (như các ông Nguyễn Văn Lía và Trần Hoài Ân, hai tín đồ Hòa Hảo); những công dân đứng lên bày tỏ lòng yêu nước, phản đối quân xâm lược, kể cả để ủng hộ thủ tướng ra luật biểu tình, cũng bị hăm dọa, đấm đá, đạp mặt, tước tài sản, phá gia cư, đưa vào nhà tù trá hình “cơ sở giáo dục” (như bà Bùi Thị Minh Hằng); những công dân lên tiếng nhận định tình hình đất nước, phân tích thời sự, phê phán chế độ trong tinh thần xây dựng cũng bị lục soát nhà, tước phương tiện, cướp hiện kim, phạt những số tiền khổng lồ (như gia đình ông Huỳnh Ngọc Tuấn). Thậm chí nhiều tù nhân hình sự bị án oan vẫn có thể tiếp tục lãnh oan án vì sự bao che tội phạm của giới cầm quyền (như hai nữ sinh vô tội Nguyễn Thúy Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thúy tại Hà Giang) hay vì sự bao che sai trái của giới tư pháp (như 3 thanh niên Nguyễn Đình Lợi, Nguyễn Đình Tình, Nguyễn Đình Kiên trong vụ án hiếp dâm và cướp của tại Yên Nghĩa Hà Đông [hồi năm 2000] mới đây đã bị Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao bác bỏ kháng nghị của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đề nghị tuyên bố họ vô tội).

Việc tri ân những anh hùng liệt nữ của Dân tộc đã hy sinh trong công cuộc bảo vệ tự do độc lập, đồng thời vinh danh những tù nhân lương tâm của Đất nước đang dũng cảm đấu tranh giành dân chủ nhân quyền, chống lại nội thù bán nước và ngoại thù cướp nước mang rất nhiều ý nghĩa. Đó là biểu dương tinh thần bất khuất của con cháu Lạc Việt, đã hàng nghìn năm hạ bệ những triều đại phản dân hại nước, những hôn quân bạo chúa áp bức dân lành và chống lại những kẻ thù xâm lược từ Bắc phương hoặc Tây phương. Đó là đề cao tinh thần nhân bản của dòng dõi Tiên Rồng, đã bao thế kỷ nỗ lực xây dựng một đất nước yêu chuộng tự do độc lập, không chấp nhận ách cai trị của loài ngoại chủng, một xã hội quý trọng nhân nghĩa ái hòa, trong đó quan dân đoàn kết, xóm làng hòa hợp, các sắc tộc tương trợ sinh tồn. Đó là tưởng nhớ công lao của bao người con ưu tú của Mẹ Việt đã dâng hiến cả cuộc sống và cái chết, hy sinh cả bản thân và gia đình để đề cao và giành lại các quyền tự do cho con người, cho đất nước, cho dân tộc. Đó là tôn vinh những giá trị cao quý được đề ra trong Tuyên ngôn lẫn Công ước hoàn vũ về nhân quyền và đã được các anh hùng liệt nữ lẫn các tù nhân lương tâm can đảm cổ xúy và hy sinh bảo vệ. Đó là tố cáo trước công luận thế giới cái chế độ mà công an nhiều hơn y tá, nhà tù nhiều hơn trường học, thành tích phá hoại nhiều hơn kết quả xây dựng, hành vi đàn áp nhân quyền nhiều hơn cử chỉ thăng tiến tự do, chính sách độc tài toàn trị thay cho chủ trương tôn trọng đa nguyên đa đảng, mưu đồ củng cố quyền lực dù mất nước thay cho đường lối bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ và sự tồn tại của Dân tộc.

Ðến đây một câu hỏi được đặt ra là: vì sao nhà cầm quyền Việt Nam lại dám thường xuyên chà đạp Tuyên ngôn Nhân quyền, không ngừng tạo ra các tù nhân và nạn nhân của chế độ, thách thức công luận thế giới đến như vậy? Theo thiển ý, đó là vì các điều khoản của Tuyên ngôn chỉ liệt kê các nhân quyền mà không dự trù các biện pháp chế tài hữu hiệu. Trên thực tế, các biện pháp chế tài đối với những nhà nước vi phạm nhân quyền thường xuất phát từ các cường quốc có ảnh hưởng trên Liên Hiệp quốc hay trên chính những nhà nước ấy. Tuy nhiên, vì bị giằng co giữa ba mục tiêu: kinh tế, an ninh hay nhân quyền mà sự chế tài, áp lực này có hay không, mạnh hay yếu tùy vào ý thức của giới lập pháp và nhất là đường lối của giới hành pháp (chính phủ và bộ ngoại giao). Thành thử quốc tế vận của đồng bào hải ngoại là tối quan trọng. Ngoài ra, còn một áp lực khác nữa, đó là nhân dân sở tại. Nếu tất cả các nạn nhân của chế độ đều lên tiếng, tất cả những ai ý thức về nhân quyền đều đứng dậy, tất cả các tập thể dân sự lẫn tôn giáo bị đàn áp đều xuống đường, tất cả các lãnh đạo tinh thần (trí thức và chức sắc) đều nhập cuộc; nói tóm là toàn thể nhân dân bị trị đang rên siết dưới ách của nhúm đảng viên thống trị, biết vùng lên như các dân tộc Đông Âu trong các năm 1989-1991 vừa qua, thì mới chấm dứt nạn công dân Việt Nam lương thiện bị giam cầm trong nhà tù lớn lẫn các nhà tù nhỏ.

BAN BIÊN TẬP

Trân trọng kính gửi:

– Quý Hội Đoàn, Đoàn Thể.

– Quý Nhân sĩ Trí Thức.

– Quý Đồng bào Việt Nam yêu nước

 

Xin mời quý vị cùng ký tên trong bản Tuyên Bố của Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại để thể hiện quyết tâm “Diệt kẻ Nội thù để chống giặc ngoại xâm Trung Cộng” của những người Việt Nam yêu nước. Xin chân thành cảm tạ và xin quý vị tiếp tay phổ biến rộng rãi về trong nước và đồng hương ở Hải ngoại.

Xin quý vị mail về quocvietanhpham@yahoo.com để thông báo đồng ý ký tên. Chúng tôi sẽ gửi danh sách đã cập nhật để kính nhờ quý vị phổ biến rộng rãi dùm.

Xin mời cùng ký tên trong Tuyên Bố của Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại

HỘI NHÂN SĨ DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI

 

TUYÊN BỐ

 

Lịch sử Việt Nam kể từ thời lập quốc cho đến ngày nay luôn phải đương đầu với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc:“Giặc Tầu Hán xưa và đế quốc Trung Cộng ngày nay”. Lịch sử cũng chứng minh rằng, dân tộc Việt Nam với truyền thống hào hùng bất khuất đã từng đánh bại đạo quân Nguyên Mông bách chiến bách thắng, đánh tan tành 29 vạn quân Thanh xâm lược với những danh tướng lẫy lừng, những anh hùng dân tộc như Lý Thường Kiệt, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và Quang Trung Nguyễn Huệ. Thế nhưng, đế quốc mới Trung Cộng vẫn chưa học được bài học máu và nước mắt, vẫn chủ trương xâm lược Việt Nam, chiếm cứ biển Đông để thực hiện giấc mộng bá chủ của Trung Quốc.

Nhà nước Việt Nam dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được thành lập do sự cướp đoạt chính quyền, không do nhân dân bầu lên trong một cuộc bầu cử dân chủ tự do, là một chế độ độc tài toàn trị với những tên Việt gian bán nước cầu vinh “Dâng đất nhường biển” cho Trung Cộng để bóc lột vơ vét tài sản của nhân dân.

Ngày 14-10-2011, TBT Nguyễn Phú Trọng sang ký “Thỏa thuận 6 nguyên tắc cơ bản”, chấp nhận đàm phán song phương để tự do nhượng đất nhượng biển cho TQ, phá vỡ chủ trương đa phương hoá, quốc tế hoá của hiệp hội các nước Đông Nam Á (Asean). Bản tuyên bố chung giữa 2 đảng 2 nhà nước ngày 15-10 xác định hợp tác chiến lược toàn dìện lâu dài. Thực chất của cái gọi là “Thỏa Thuận…” này chính là để thực hiện công hàm bán nước của Phạm văn Đồng ngày 14-9-1958 và nguyên tắc ứng xử về vấn đề biên giới lãnh thổ “Dâng đất nhường biển” mà hai bên đồng ý từ năm 1993, là “Thỏa thuận Hán hóa” từng bước một của những tên thái thú xác Việt hồn Tàu. Thực tế chứng minh là ngay trong ngày ký kết thỏa thuận thì Hải quân Trung Quốc loan báo vừa thiết lập một trạm xá quân y tại đảo Đá Chữ Thập mà Trung quốc gọi là đảo Vĩnh Thử, nơi mà Trung Cộng đã đổ quân chiếm đảo Chữ Thập của Việt Nam năm 1988 bắn chết 70 chiến sĩ hải quân QĐND Việt Nam. Ngay sau cái gọi là “Thỏa thuận Bán nước” ngày 14-10-2011, cờ Trung Quốc được thêm một ngôi sao thành 6 ngôi sao đươc trình chiếu trên màn hình của đài truyền hình VTV.VN ngay chiều cùng ngày. Đất nước Việt Nam dưới sự thống trị của tập đoàn Việt gian CS buôn dân bán nước đã chính thức nội thuộc Trung Quốc từ ngày 14-10-2011. 

Trước hành động ngang ngược của đế quốc mới Trung Cộng và thái độ ươn hèn nhục nhã của tập đoàn Việt gian Cộng sản bất nhân, hại dân bán nước. Bất chấp sự ngăn chặn của công an, hàng ngàn thanh niên sinh viên, trí thức và văn nghệ sĩ đồng loạt xuống đường để thể hiện quyết tâm bảo vệ đất nước. Thực hiện chỉ thị của quan thầy Trung Cộng, tập đoàn Việt gian CS đã thẳng tay trấn áp đánh đập bắt giam những người Việt Nam yêu nước chống Trung Cộng xâm lược. Đã hèn với giặc, tập đoàn CS lại ác với dân, cướp đoạt đất đai ruộng vườn của dân oan, lấy cớ làm trung tâm xử lý nước thải để chiếm đoạt tu viện của dòng Chúa Cứu thế tại Giáo xứ Thái Hà.

Dân tộc Việt Nam đang đối mặt với “Thù trong giặc ngoài”. Đất nước Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước cận kề… Trong giờ phút trọng đại của lịch sử, Chúng tôi, các bô lão, nhân sĩ trí thức và các hội đoàn Việt Nam yêu nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể đồng bào Việt Nam đặt quyền lợi  dân tộc lên trên hết long trọng tuyên bố:

  1. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời đại khẳng định chủ quyền lịch sử của Việt nam đối với Hoàng sa Trường Sa từ thời lập quốc cho đến ngày nay. Tất cả mọi văn kiện ký kết giữa nhà nước Cộng sản Việt Nam không do dân bầu lên với Trung Cộng hoàn toàn vô giá trị. Toàn dân Việt Nam sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ giang sơn gấm vóc của vua Hùng dựng nước và anh hùng liệt nữ bao đời giữ nước Việt Nam.

  1. Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi công luận quốc tế hãy lên tiếng can thiệp để bảo vệ công lý và sự thật lịch sử. Các nước Đông Nam Á phải thống nhất hành động đối phó với Trung Quốc xâm lược bằng cách đổi tên cái gọi là “biển Nam Trung Hoa” thành biển Đông Nam Á, đồng thời phục hoạt liên minh phòng thủ Đông Nam Á (SEATO) để chống lại Trung Cộng xâm lược. Các nước đã tham gia ký kết các hiệp ước Genève 20-7-1954 và hiệp định, Định Ước quốc tế Paris 27-1-1973 về Việt nam tổ chức ngay một Hội nghị Quốc tế các quốc gia liên quan đến Việt Nam và biển Đông Nam Á để bảo vệ công lý, sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

  1. Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã rước voi Liên Sô về dầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn độc Tầu Cộng về cắn gà nhà dân tộc, đưa dân tộc vào cuộc chiến tranh phi nghĩa khiến hàng triệu đồng bào Việt Nam vô tội đã phải hy sinh oan uổng và một đất nước Việt Nam nghèo nàn chậm tiến nhất thế giới. Ngày nay, tập đoàn lãnh đạo CSVN đã chứng tỏ là một tập đoàn tham nhũng, bóc lột vơ vét tài sản của nhân dân để trở thành những tên tư bản đỏ, cường quyền đỏ cưỡi đầu cưỡi cổ dân lành. Tập đoàn Việt gian hại dân bán nước “Ác với dân hèn với giặc” này là “Tội đồ của Dân tộc” sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước sự phán xét của toàn thể nhân dân Việt Nam trong ngày N giờ G của lịch sử.

  1. Cuộc xuống đường của hàng ngàn thanh niên sinh viên, trí thức tại Hà Nội và Sài Gòn vừa qua đã thể hiện quyết tâm của toàn dân Việt, biểu dương sức mạnh của toàn dân đối với thù trong, giặc ngoài. Đặc biệt, hàng trăm giáo dân và các linh mục dòng chúa Cứu Thế đã xuống đường biểu tình ôn hòa sáng 18-11-2011 để đòi nhà cầm quyền CS phải giao trả tu viện dòng Chúa Cứu Thế tại giáo xứ Thái Hà để làm nơi thờ phượng Chúa. Phản ứng quyết liệt của đồng bào Việt Nam yêu nước và của các linh mục dòng chúa Cứu Thế và giáo dân khắp địa phận Hà Nội, sự hiệp thông cầu nguyện của các giáo phận khắp nơi trên toàn quốc mở đầu cho cuộc Tổng xuống đường của toàn dân trên cả nước trong nay mai để chuyển đổi lịch sử. Tập đoàn Việt gian Cộng sản cho tay sai đến đập phá cửa nhà thờ, xúc phạm linh mục khi đang hành lễ. Hành động côn đồ này của nhà nước CS Việt Nam đã xem thường công luận quốc tế và xúc phạm nơi thờ  phượng Thiên Chúa, nhục mạ hàng giáo phẩm Công Giáo Việt Nam là một hành động khiêu khích thách thức toàn thể giáo dân Việt Nam.

  1.  Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời đại tha thiết kêu gọi quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, đồng bào trong nước không phân biệt tôn giáo, địa phương, đoàn thể, chính kiến hãy nắm chặt tay nhau xuống đường ủng hộ Thái Hà, xuống đường đòi lại đất đai tài sản của giáo hội của mình, đất đai của chùa chiền, Thánh Thất, Tổ Đình song hành với việc đòi hỏi dân chủ tự do, quyền sống làm người và quyền làm chủ đất nước. Các tướng lãnh và quân nhân Việt Nam yêu nước, các đảng viên CS hãy đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, đứng lên loại bỏ những tên thái thú xác Việt hồn Tầu để cùng với nhân dân cả nước chuyển đổi lịch sử: “Diệt kẻ nội thù, chống quân xâm lược” để cứu dân cứu nước.

Để thể hiện lòng yêu nước, Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời đại tha thiết kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam trong nước và hải ngoại nhất loạt không mua thực phẩm độc hại của Trung Quốc, không dùng hàng hóa sản phẩm “Dỏm” của Trung Quốc. Đây là biện pháp hiệu qủa nhất để làm suy yếu nên kinh tế đang lên của Trung Quốc khiến đế quốc Trung Cộng không còn khả năng để xâm lược Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Hơn ba triệu đồng bào Việt Nam Hải ngoại sẽ làm hết sức mình từ tinh thần đến vật chất để yểm trợ công cuộc đấu tranh của toàn dân trong nước.

Thủ đô Tinh thần của đồng bào Việt Nam Tỵ nạn Cộng sản ngày 21-11-2011

Ủy Ban Vận động thành Lập Hội Nhân Sĩ Diên Hồng Thời Đại

                                Bô lão Võ Toàn.

                                GS Nguyễn Thanh Liêm.

                                Nhà Biên Khảo Lịch sử Phạm Trần Anh.

DANH SÁCH HỘI ĐOÀN, ĐOÀN THỂ VÀ NHÂN SĨ ĐỒNG KÝ TÊN:

 

  1. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Bắc Cali: Bô lão Võ Toàn.

  2. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Nam Cali: GS Nguyễn Thanh Liêm.

  3. Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy:

Bô Lão Lê Quang Liêm, Hội Trưởng Trung Ương.

  1. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: HT Thích Nhật Ban, HT Thích Không Tánh.

  2. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo ViệtNam:

           TT Thích Thiện Minh, cố vấn.

  1. Khối 8406: LM Phan văn Lợi.

  2. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam: HT BS Phạm Hồng Sơn Việt Nam.

  3. Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân tộc Việt Nam, Giáo Hội Liên Hữu Lutheran Viet Nam & Hoa Kỳ: Hội Trưởng và 651 Mục sư ở Việt Nam.

  4. Mặt Trận Dân Tộc Cứu Quốc: Ô Phạm Trần Anh.

10. Cao Trào Nhân Bản: BS Nguyễn Đan Quế Việt Nam.

11. Hội Quốc tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á: GS Nguyễn Ngọc Bích.

12. Liên Minh Dân Tộc ViệtNam: Nhà văn Chu Tấn.

13. Ủy Ban Hòa hợp Dân Tộc và Tôn giáo: TS Nguyễn Anh Tuấn.

14. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính trị và Tôn Giáo ViệtNam:

           LM Nguyên Thanh, cố vấn.

15. Tổ chức Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản: Dr Nguyễn Quốc Quân.

16. Ủy Ban Yểm Trợ Giáo Xứ Thái HàNamCalifornia.

17. Đại diện Khối 8406 Hải Ngoại: GS Nguyễn Chính Kết.

18. Đại Việt Quốc Dân Đảng: TS Phan Văn Song.

19. ViệtNamQuốc Dân Đảng Thống Nhất: TS Nguyễn Hồng Dũng.

20. Hội Nghiên Cứu Lịch Sử ViệtNam: Nhà Bình luận Chu ChiNam.

21. Coalition of American Citizen For Freedom and Democracy:

BS Nguyễn Hy Vọng

22. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Âu Châu:

 TS Nguyễn Ngọc Hùng.

  1. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo ViệtNam, chi hội Úc Châu:

PCT Đoàn Nguyên Hồng.

24. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Cambodia:

Nguyễn Phùng Phong.

25. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Thái Lan:

Lê Thái Lan.                                                 

26. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Đan Mạch: Uyên Hạnh.

27. Truyền Thông Toàn cầu Global Viet Media:

Dr Nghiêm Phú, Cố vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam. 

28. Phong Trào Phụ Nữ ViệtNamHành Động Cứu Nước:

Chủ Tịch Bà Đặng Thị Danh, Toronto, Canada .

29. Chiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (Sáng lập viên PTPNVNHĐCN)France.

30. Hội Hải Quân & Hàng Hải Trần Quang Khải,Philadelphiavà phụ cận:

           Hội Trưởng Nguyễn Tạ Quang.

31. Đại diện Khối 8406 Nam Cali: Trần văn Minh.

32. Diễn Đàn Tự Do Dân Chủ: Ông Nguyễn Duy Nghiêu.

33. Câu Lạc Bộ Dân Chủ Tự Do: Ông Nguyễn Cao Nguyên

34. Câu Lạc Bộ Thi văn Tao Đàn Hải Ngoại: Nhà Thơ Vũ Lang.

35. TT Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ: Nhà văn Nguyễn Hữu Của.

36. Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ: Ông Đoàn Thế Cường.

37. Cộng Đồng ViệtNamCleverland:  Ông Nguyễn Hữu Lễ.

38. Hội Đồng ViệtNamTự Do: Ông Phan Như Hữu.

39. Hội Cựu SV Quốc Gia Hành ChánhNamCali: Ông Trần Ngọc Thiệu.

40. Ủy Ban Phối Hợp Chống Cộng Sản và Tay Sai: Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn.

41. Tiếng Nói Giáo Dân: Bà Trần Thị Thanh Hiền.

42. Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo: Ông Phạm Đức Hậu.

43. Hội Cử Tri Việt Mỹ: Ông Hoa Thế Nhân.

44. Hội Đồng Hương Biên Hòa: Bà Duyên Trang.

45. Hội Nữ Quân NhânNamCali: Bà Phạm Diệu Chi.

46. Liên Hội Cựu Quân Nhân SanDiego: Hoàng văn Nhạn.

47. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Úc Châu: Nhân sĩ Phạm Ngọc Điệp

48. Ái Hữu Quốc Gia Nghĩa Tử:  Ông Ngô Chí Thiềng.

49. Hội Đồng Hương QuảngNamĐàNẵngWA: Ông Đinh Hùng Chấn: Hội Trưởng.

50. Phân Khu Hội Cựu TNCTVNTacomaWA”: Ông Cao Hữu Thiên.

51. Cộng ĐồngRiverside: Nhân sĩ Phan Đa Văn

  1. Tổng đoàn Thanh niên Phật giáo Hòa Hảo: Ô Trương văn Đức.

  2. Ủy Ban Vận Động CPC: Ô Nguyễn Tấn Lạc.

  3. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Cleverland,OhioHoa Kỳ: CT Nguyễn Hữu Lễ.

  4. Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất (Xứ bộ Nam Cali): Vũ Hoàng Hải,.

  5. Tổ chức Bạch Đằng Giang: Nguyễn Đức Vinh.

  6. Liên Minh Dân Chủ Việt Nam Thuần Túy: CT Nhân sĩ Lý Hiền Tài.

58. Nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân: nhà báo Trần Phong Vũ

59. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Colorao: Nhân sĩ Trần Trọng Thuyên.

60. Gia đình Phật Tử An Lạc Phụng sự: Nhân sĩ Hoàng văn Phong.

61. Hội Phụ Nữ Nhân Ái Thiện Nguyện Nam Cali HK: Bà Hồng Lan.

62. Hội Giáo Chức Việt Mỹ TâyNamHoa Kỳ.

63. Báo Thời Luận: Nhà văn Đỗ Tiến Đức.

64. Điện Báo Ánh Dương: Bà Đỗ Thị Thuấn.

65. Nguyệt san Hoài  Hương : Minh Nguyệt WA DC.

66. Cỏ Thơm Magazine : Nhà văn Nguyễn thị Ngọc Dung, WA DC.

67. Ủy Ban Phát Huy & Bảo vệ Chính nghĩa Quốc Gia : Nhân sĩ Lê Ngọc Diệp.

  1. 68.  Liên Minh Quang Phục Việt Nam: Nhân sĩ Võ Đại Tôn.

  2. 69.  Hội Đồng Liên Tôn: Hiền Tài Phạm Văn Khảm Cao Đài.

70. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California: LS Nguyễn Xuân Nghĩa.

  1. 71.  Hội Đền Hùng hải Ngoại: Nhân sĩ Trần Thanh Phong, CT Hội Đồng Kiểm soát.

  2. 72.  Cộng Đồng Việt Nam Los Angeles : Nhân sĩ Nguyễn văn Cừ.

73. Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức : Tâm Hòa Lê Quang Dật.

  1. 74.  Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa Lưu Vong.

75. Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại (Vietnamese Legion).

76. Cửu Long Radio cùng chương trình Thiên Ánh Đạo Vàng. ( Bảo Tố & Triệu Phổ).

77. Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam : TS Mai Thanh Truyết.

78. Hôi Người Việt Cao Niên vùng Vịnh :Ông Nguyễn Hữu Lục

79. Lực lượng Sĩ Quan Thủ Đức-Quân Lực VNCH:Ông Nguyễn Minh Đường.

80. Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California: Ông Mai Khuyên 

81. Phong Trào Trần QuốcToản :Anh Nguyễn Minh Huy.

82. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Khu Vực Tây Bắc Hoa Kỳ: Bà Hoàng Xuyên  Anh.

83. Đảng Thăng Tiến Việt Nam: Thái Thanh Thủy.

84. Bạch Đằng Giang Founation: Dương Hồng Thẩm, Việt Nam.

85. Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước: Nguyễn Khánh, Việt Nam.

86. Hội Người Việt Quốc Gia Tự Do Đan Mạch : Vũ Đình Quyến.

87. Hội Đồng Hương và  Thân Hữu Thái Bình: Bà Đào Bích Ty.

88. Hội Đồng Hương Ban Mê Thuột : Ô Nguyễn Xuân Kế.

89. Cộng Đồng Việt Nam Sandiego : Nguyễn văn Lực.

90. Ủy Ban Đặc Phồi hợp chống CS và Tay Sai: Hoàng Vy.

91. Hội nghiên cứu sử học Việt Nam tại Âu Châu: Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc, tổng thư ký.

92. Khối 8406 Boston HK: Nguyễn Quốc Việt.

 DANH SÁCH NHÂN SĨ ĐỒNG KÝ TÊN

  1. Nhân sĩ Nguyễn Chí Thiện: Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam (USA).

  2. Nhân sĩ Ngô văn Sức: Tù nhân Lương Tâm Việt Nam (USA).

  3. Cư sĩ Minh Pháp (USA).

  4. Nhân sĩ Nguyễn Tấn Khang (Canada).

  5. Nhà văn Uyên Hạnh (Đan Mạch).

  6. Nhân sĩ Phùng Ngọc Ẩn, ĐT Không Quân, QLVNCH.

  7. Nhân sĩ Nguyễn Hữu Đĩnh Hoa Kỳ.

  8. Ông bà Giáo sư Nhạc sĩ Lê Quốc Tấn HK.

  9. Chiến Hữu Nguyễn Bá Hòe, TQLC QLVNCH San Diego.

10. Chiến Hữu Phạm Trần Thế, BĐQ QL VNCH SanDiego.

11. Bs Lê Thị Lễ (USA).

12. GS Nguyễn thị Hiền (Switzerland).

13. GS Phan Thị Độ (Australia).

14. Nhân sĩ Đỗ Hữu Gia, Hội Nhân sĩ Diên Hồng SanDiego.

15. Nhân sĩ Trương văn Anh, Hội Ái Hữu Tù Nhân CTTGVN Sandiego.

16. Nhân sĩ Vũ Đức Khanh, Luật sư thuộc Luật sư đoàn bang Ontario, Canada.

17.  Bô Lão Vũ Ngọc Truy, Cựu Luật sư 96 tuổi.

18.  Nhân sĩ Đinh Thị Việt Liên 95 tuổi Bắc Cali

19.  Nhà văn Lão thành Doãn Quốc Sỹ, 88 tuổi Texas.

20.  GS Nguyễn Tư Mô, Cố vấn Hội Đền Hùng Hải Ngoại.

21.  Cụ Bà Âu Tiên Nguyễn thị Đức.

22.  Giáo sư Phạm Cao Dương.

 

23.  Cụ Bà Nguyễn thị Chương.

  1. 24.  Học giả Huỳnh văn Lang, 90 tuổi Nam California.

  2. 25.  Nhân sĩ Nghiêm Phú, Cố vấn Chính phủ VNCH.

26. Luật sư Đoàn Thanh Liêm, cố vấn Hội Ái Hữu TNCTTGVN.

  1. 27.  Nhân sĩ Phạm văn Tường 85 tuổi, Bắc California.

  2. 28.  Nhân sĩ Lê Châu Lộc, Cựu Thương Nghị sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

  3. 29.  Giáo sư Vũ Thiệu Phúc, Cố vấn Hội Đền Hùng Hải Ngoại.

  4. 30.  Nhân sĩ Vũ Khánh Thành, MBE Anh Quốc.

31. Nhân sĩ Trần Ngọc Tôn, Cựu Đốc sự Hành Chánh.

  1. 32.  DS Bùi Như Hải. Hội Đền Hùng Hải Ngoại.

  2. 33.  DS Nguyễn Đình Thức, Hội Đền Hùng Hải Ngoại.

  3. 34.  Nhân sĩ Trần văn Thắng, TTK HĐĐB Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Namcali..

  4. 35.  Nhân sĩ Dương Ngọc Sum Nam Cali.

  5. 36.  Nhân sĩ Hoàng Ngọc An Nam Cali.

  6. 37.  Nhân sĩ Hoàng Vy Nam cali.

  7. 38.  Nhân sĩ  Lê Văn Lan Texas.

  8. 39.  Giáo sư Trần Đức Thanh Phong, Nhân sĩ Tây Nam Hoa Kỳ.

  9. 40.  Thi họa sĩ Vũ Hối, nhân sĩ  Đông Bắc Hoa Kỳ.

  10. 41.  Nhân sĩ Trần Vệ, CT TT Cựu Chiến sĩ Tây Nam Hoa Kỳ..

  11. 42.  Nhân sĩ Đào Xuân Đàm 93 tuổi, nhân sĩ Tây Nam HK.

  12. 43.  Tiến sĩ Hà Thế Ruyệt, nhân sĩ Nam Cali.

  13. 44.  GS Nguyễn Thành Long PGHH.

  14. 45.  GS Nguyễn Thanh Giàu PGHH.

  15. 46.  Nhân sĩ Nguyễn văn Sĩ, Nam Cali.

  16. 47.  Nhân sĩ Hoàng văn Phong, Đoàn An Lạc Phụng sự Nam Cali.

  17. 48.  Nhân sĩ Nguyễn Phổ Nam Cali.

  18. 49.  Nhân sĩ Trần Việt Nhân Úc Châu.

  19. 50.  Nhân sĩ Hoa Thế Nhân, Hội Cử Tri Việt Mỹ Nam Cali.

  20. 51.  Nhân sĩ Lê Thị Hồng Lan, Hội Phụ Nữ Nhân Ái Thiện Nguyện Nam Cali.

  21. 52.  Nhân sĩ Lê Quý An, Hội Giáo Chức Việt Nam Nam Cali.

  22. 53.  Nhân sĩ Nguyễn thị Ngọc Dung, nhà văn Cỏ Thơm Magazine HK.

  23. 54.  Học giả Vũ Hữu San.

  24. 55.  Bà Đỗ Thị Thuấn, Điện báo Ánh Dương.

  25. 56.  Nhà Báo Chu Vũ Ánh Đức Quốc.

  26. 57.  Nhà Báo Thanh Phong.

  27. 58.  Họa sĩ Hoàng Vinh, nhân sĩ Nam Cali.

  28. 59.  Nhân sĩ Trần Ngọc Thiệu, QGHC Nam Cali.

  29. 60.  Nhà Thơ Thái Anh Duy, TT Văn Bút Nam Cali.

  30. 61.  Nhân sĩ Lưu Phát.

  31. 62.  Nhà Báo Nguyễn Duy.

  32. 63.  Nhân sĩ Lê Nguyễn Thiện Truyền.

  33. 64.  Nhân sĩ Nguyễn Hiến Dallas.

  34. 65.  Nhân sĩ Xuân Điềm: Ban Tù ca Xuân Điềm.

66. Nhân sĩ Phạm Kim Long.

67. Nhân sĩ Vũ Trọng Mục.

68. Chiến sĩ Trần Hưng Quốc Việt Nam.

  1. Chiến sĩ Lý Tống, California USA.

  2. Nhân sĩ Cao Xuân Thức UAS.

  3. Thanh Huy, Việt Báo.

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

THUẦN TÚY

—————

 

THÔNG BẠCH

 

VỀ BẢN TUYÊN BỐ CỦA HỘI NHÂN SĨ DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI

 

-của Cụ LÊ QUNG LIÊM-

Nhân danh Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY (PGHH TT) đại diện cho toàn thể tín đồ PGHH, tôi xin long trọng khẳng định:

Thứ nhất: Nhất trí và hoàn toàn ủng hộ toàn diện BẢN TUYÊN BỐ của Hội Nhân Sĩ Diên Hồng Thời Đại đề ngày 22-11-2011, hoan hỷ đứng tên vào Bản Tuyên Bố này.

Thứ hai: “Bảo Quốc An Dân” là lập trường nhất quán của PGHH về phần Tu Nhân. PGHH luôn tay nắm tay, lòng chung lòng với toàn dân để bảo tồn đất nước và xây dựng một nước VIỆT NAM ĐỘC LẬP, TỰ DO, DÂN CHỦ, HÒA BÌNH VÀ THỊNH VƯỢNG.

Thứ ba: Đặt trọn niềm tin vào tinh thần hy sinh cao cả của Hội Nhân Sĩ Diên Hồng sẽ mau đem đến thắng lợi cuối cùng trong trận tuyến “Dẹp thù trong thắng giặc ngoài”.

Thứ tư: Triệt để ủng hộ mọi mặt cuộc tranh đấu bảo vệ tự do tín ngưỡng của Giáo xứ Thái Hà. Thành tâm cầu nguyện các đấng Chí Tôn hộ trì Giáo xứ Thái Hà sớm vượt qua cơn đàn áp bạo ngược của nhà cầm quyến CSVN.

Huyền Phong Các, ngày 23 tháng 11 năm  2011.

TM. Giáo Hội PGHH TT

Hội Trưởng Trung Ương

 

 

LÊ QUANG LIÊM

 

 

 

 

http://www.caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=668:ngay-tu-nhan-luong-tam-viet-nam&catid=98:thong-bao&Itemid=347

 

 

 

 

Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày


Cuốn sách Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày là một bản cáo trạng nói đến tội ác của chế độ CSVN trước lương tâm nhân loại. Người CS áp dụng chủ thuyết Tam Vô, mà trong đó 3 yếu tố cấm kỵ của họ là Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình và Vô Tôn Giáo. Yếu tố thứ ba đã ảnh hưởng trực tiếp đến tác giả Huỳnh Văn Ba, tức Thượng tọa Thích Thiện Minh. Tác phẩm Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày trình bày những án tù cực hình, dã man mà người tu sĩ bất khuất chịu đựng. Ông mất ngôi chùa nơi thờ phượng, hành đạo, ông mất quê hương trong 26 năm lưu đày xa xứ, ông mất quyền làm người với nhân vị xứng đáng của một nhà tu hành. Xin hãy lắng nghe tiếng lòng của ngài Thiện Minh để thấy rằng đức tính bi trí dũng của người con Phật vẫn sáng ngời trước những đàn áp của bạo lực.  (Việt Hải)


——————————————————————————–


 

“26 N ăm Lưu Đày”

của

 

 

Thượng tọa

Thích Thiện Minh

Trần Việt Hải


——————————————————————————–


Tôi hân hạnh được cô Trâm Oanh bên Đức Quốc gửi biếu cuốn “26 Năm Lưu Đày” của Thượng tọa Thích Thiện Minh. Tôi như bị thôi miên nhìn vào cái đề tựa. Hai mươi sáu năm là một khoảng thời gian quá dài, thời gian mà vị tu sĩ chịu đựng bao nhiêu nỗi nhục nhằn bị tra tấn, những cực hình lên tinh thần và thể xác. Tôi đọc 12 chương sách hay xuyên suốt 270 trang giấy, mà mỗi chương chuyên chở tiếng lòng bất khuất của vị tù nhân lương tâm đáng kính này.

Thượng Tọa Thích Thiện Minh có thế danh là Huỳnh Văn Ba, sinh trưởng tại tỉnh Bạc Liêu. Trong chương 1 của sách, ngài cho biết là thân phụ là một tín hữu Cao Đài: “Cha tôi có tấm lòng nhân hậu, tính tình rộng rãi hay giúp người. Mẹ tôi là một người đàn bà hiền thục, mẫu mực vất vả quanh năm vì chồnng con.” (Tr. 8) Có lúc gia đình phải tha hương cầu thực tại Vĩnh Bình (Trà Vinh). Chính tại nơi đây cậu bé Hùynh Văn Ba đã có duyên với cửa Thiền và được cha mẹ cho phép xuất gia. Năm 17 tuổi (1972) tác giả thọ giới Sa Di và năm 22 tuổi (1977) thọ Cụ Túc Giới do Hòa Thượng Thích Trí Thủ, rồi sau này được cử về trụ trì tại một ngôi chùa tại Vĩnh Bình và đã được đồng bào Phật tử tại đây gọi thân mật bằng các tên “ông đạo, huynh, cậu và thậm chí bằng con, bằng cháu nữa”.

Chương 2 kể về biến cố đau thương 30 Tháng 4 xảy đến như một cơn đại hồng thủy mà dùng hai cụm từ ngữ là “Ách Vận Đại Biến” hay “Hắc Ám Nhật Tử” (Ngày Đen Tối). Sự hống hách của các cán bộ Việt Cộng sau khi xâm chiếm miền Nam, với tinh thần Tam vô chủ nghĩa: vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo. Tên cán bộ Hai Thổ, xã đội trưởng du kích, ngang ngược chỉ vào tượng Đức Phật Đản Sinh, cười khinh khỉnh tuyên bố xấc xượt: “Thằng Phật nhỏ xíu này nó không có công làm cách mạng để đánh đuổi Đế Quốc, tại sao phải thờ nó? Nó ngồi một chỗ, để chờ người ta đem quà lại dâng cúng. Nó là thành phần giai cấp bóc lột mà!”. Đoạn y bước lên Chánh Điện lấy tay sờ vào tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và nói: “Thằng Phật nầy ăn gì mà mập quá vậy!”. Một lần khác sau khi Thượng Tọa bị bắt, Hai Thồ vào chùa chỉ tay tượng Phật nói: “Thằng Thiện Minh đã bị bắt giam rồi, còn mấy thằng Phật xi măng nầy cũng sẽ áp giải đi luôn”. Theo chủ trương tiêu diệt ảnh hưởng của tôn giáo bằng cách khống chế và tịch thu mọi phương và tài sản của các tôn giáo, ngôi chùa Vĩnh Bình của ngài bị chiếm cứ bởi bạo lực của giới cầm quyền, mà đến nay Cộng Sản vẫn chưa trả lại tài sản này cho ngài.

Chương 3 và 4 thầy Thiện Minh mô tả cảnh tù tội. Thầy có kiến thức về thuốc nam cũng như châm cứu và biết võ thiếu lâm. Thầy làm công tác từ thiện, phụ trách mở thêm một phòng thuốc nam, châm cứu từ thiện tại chùa Từ Quang, ngoài phòng thuốc tại chùa Vĩnh Bình, khi gặp một đứa bé đau nặng gần chết vì cơn bệnh hô hấp, thầy ra tay cứu chữa cho bé. Đứa bé khỏi bệnh, người cha đến cám ơn thầy. Anh này là một kháng chiến quân phục quốc. Duyên thời cuộc đưa đẩy thầy vào Mặt Trận Nghĩa Quân Cứu quốc, Việt Nam Dân quốc. Khi bị bại lộ, thầy đứng ra nhận tội chỉ huy để tình nguyện hy sinh, vì càc anh em khác có vợ con. Thời buổi ban đầu khi CS chiếm được miền Nam, họ cai trị bằng nanh vuốt độc ác. Tội chống phá “Cách Mạng” lãnh án tử hình dễ dàng.

Tác giả của sách “26 Năm Lưu Dày” rất thích văn thơ, bằng chứng là nhiều trang sách đã được đăng thơ. Bốn câu thơ sau đây cho thấy tâm hồn thích thi phú của thầy:

“Tu sĩ quyết chùa am bế cửa

Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha

Đền xong nợ nước thù nhà

Thiền môn trở gót phật đà Nam Mô…”

Tác giả thuật lại vì tin người nên âm mưu trốn trại tù bị bại lộ, đưa tới một số người bị bắt, trong đó có người em ruột của thầy, Huỳnh Hữu Thọ, vì mang theo vũ khí yểm trợ cho cuộc vượt ngục tại trại giam huyện Vĩnh Lợi. Thầy Minh và các đồng chí được chuyển sang trại tù Minh Hải. Đây là nơi giam giữ những người mới bị bắt với nhiều tội trạng khác nhau, giam vào đây là để điều tra khai thác vì nơi này có đủ mọi biện pháp được áp dụng khắt khe trong công tác tra hỏi. Tại đây, từ việc đánh đập bằng tay chân, bằng gậy gộc, bằng dùi cui, bằng báng súng cho đến cùm, quyện, giam vào phòng giam riêng là điều xảy ra hàng giờ hàng buổi. Trại giam có đủ mọi cán bộ, công an từ Bắc vào Nam, kể cả kháng chiến lâu năm cho đến những tên công an loại mới vào ngành mà dân gian thừơng gọi là bọn “công an 30/4”. Họ đều có những ngón nghề độc đáo để điều tra, nào là đánh túi bụi, đánh kiểu trên đao dưới búa, còng tay đứng, còng chéo tay sau lưng, còng ngồi đan chéo hai tay. Họ dùng nhục hình để điều tra, bản thân thầy khi giam giữ tại đây, cũng không tránh khỏi những nhục hình này. Hàng ngày hai chân thầy luôn ở trong cùm, bị cùm suốt ngày đêm, suốt tháng quanh năm. Hai chân bị cùm quyện tại chỗ, không thể đứng thẳng được nên dần dần bị tê liệt. Còn tiểu tiện thì trong một cái hũ, mỗi khi đi vệ sinh phải nhờ người khiêng hũ lại dùm. Hũ vệ sinh vừa có phân, vừa có nước tiểu. Mỗi ngày công an cho người đem đổ. Có khi đến 2-3 ngày mới đổ nên phân và nước tiểu tràn ra ngoài ướt cả chỗ nằm bốc mùi hôi thối! Sau khi đổ hũ, công an ra lệnh tù nhân phải vào ngay thật nhanh cho nên chiếc hũ chỉ rửa sơ sài, sau đó họ múc nước ngay chỗ rửa hũ mang vào cho những người đang bị cùm trong quyện như thầy để tắm. Mỗi người trong cùm chỉ được vài ca nước. Ca múc nước tắm cũng là ca đựng cơm ăn hàng bữa…Chiếc hũ luôn luôn còn sót lại phân người, nhất là phân cao lương loại lương thực rất cứng ăn vào khó tiêu, loại này dùng để ăn độn thay thế cơm. Khi tắm phân dính cả vào mặt, vào đầu đó là chuyện thường ngày. Phòng giam kỷ luật rất chật hẹp khoảng hơn 3m2 mà nhốt có khi lên đến 20 người, chỉ ngồi cũng không đủ chỗ làm gì có khoảng trống để nằm.

Trong vòng lao lý tác giả xót xa cho gia đình, nghĩ về hoàn cảnh của mình, là người anh lớn vì thời cuộc oan khiên: “Vì hoàn cảnh quá khổ nghèo do thảm trạng xã hội, nên gia đình thầy gồm: Em thứ 7 của thầy tên Nghĩa phải nghỉ học để đi bán bánh mì dạo nuôi gia đình. Em thứ 6 tên Nhiều phải đạp xe vua, loại xe phải đạp bằng 2 chân, phía sau có gắn cái thùng để chở thêm được vài người. -Em thứ 5 mới lập gia đình hơn 1 năm, vừa sinh được một bé gái, bị nghi ngờ có liên quan vụ án nên đã bị tù . Em gái thứ Tư bán mía, khoai, cóc, ổi,…trước nhà. Hãy đọc tiếp:

“Mẹ tôi tuổi cao sức yếu lại bị bệnh thường xuyên vóc người mỗi ngày một gầy mòn, thân hình tiều tuỵ lo buồn vì chồng, vì con, tức cha tôi vừa qua đời cách đây mấy tháng, nay đến tôi và đứa em trai thứ Năm đều bị tù tội. Một điều xót xa là các em tôi còn thơ ngây nhỏ dại đang trong lứa tuổi cắp sách đến trường, tuổi chỉ biết ăn, biết học, biết chơi. Nay đành từ giã mái trường để tìm kế sinh nhai, vừa nuôi mẹ già đang đau yếu, vừa dành dụm ít tiền hàng tháng để đi thăm nuôi 2 người anh đang ở tù tận mũi Cà Mau… Em trai tôi là một học sinh hiền lành ngoan ngoãn, học rất giỏi, không những lễ phép với thầy cô mà còn rất có tình có nghĩa với bạn học cùng lớp và rất mực hiếu thảo với mẹ cha. Em học luôn đứng nhất, nhì trong lớp lại được bầu làm trưởng lớp nữa! Nhưng vì hoàn cảnh… nên lỡ dỡ việc học hành. Có những buổi đi bán bánh mì ngang qua trường cũ, em cố đi qua thật nhanh, và kéo chiếc nón sụp khỏi vành tai để cho các bạn đừng nhìn thấy. Thật ra trong lòng em rất tiếc nuối và rạo rực trào dâng một nỗi niềm nữa vui nữa buồn khôn tả. Em hình dung lại hình ảnh của thầy cô, của bạn bè … đôi chân em dường như muốn chùn lại, nước mắt lưng tròng.”

Văn phong của tác giả trung thực trong nỗi chua xót trong tâm can của tôi. Là một tăng sĩ, một sĩ phu không khuất phục bạo lực. Tôi đọc đoạn thầy đấu khẩu với tên Nguyễn Ngọc Cơ tự là Sáu Búa, Viện trưởng viện kiểm sat nhân dân tỉnh Minh Hải. Lý do mà ông ta có biệt danh là Sáu Búa vì thời kỳ còn hoạt động trong rừng rú ông này phụ trách thi hành án tử hình. Một hôm nọ, tòa án xử tử hình một bà lão trên 70 tuổi, tuổi đã gần đất xa trời, cụ bà bị khép vào tội “làm điềm” tức là chỉ điểm viên cho quân đội VNCH. Đáng lý ra ông ta thi hành án xử tử bằng mã tấu, nhưng đây là phiên tòa nhân dân lưu động đặc biệt, nên khi xử xong là thi hành án ngay. Hôm đó ông không đem theo mã tấu bên mình, nên đành tạm mượn 1 chiếc búa của dân làng. Ông phải vất vã đập đầu bà cụ đúng 6 nhát búa thì bà mới tắt thở. Người chứng kiến sự kiện man rợ trên cho rằng cụ bà bị hàm oan nên khi chết đôi mắt cứ mở trao tráo, mà không chịu nhắm nghiền lại.

Ra tòa xét xử, thầy Thiện Minh bị Sáu Búa hỏi vặn như răn đe:

– Anh có sợ chết không?

Thầy trả lời:

“Mọi người trên đời này chỉ chết có một lần, nhưng ai ai cũng muốn sống, và cũng chẳng có ai sống mãi trên đời, nhưng sống hay chết như thế nào để có ý nghĩa, có ích cho đời đó mới là điều quan trọng bởi vì “Tử đắc kỳ sở”. Tôi làm việc này để đồng bào được sống đúng ý nghĩa của con người, đúng với Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền theo nghị quyết 217A ngày 10-12-1948″.

Sáu Búa hỏi tiếp:

– Sống đúng với ý nghĩa của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là như thế nào ?

Thầy trả lời: “Phải có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Dân quyền không bị tước đoạt, giá trị nhân phẩm của con người không bị chà đạp, mưu cầu hạnh phúc bằng sự chân chính chứ không phải tóm thâu của kẻ khác đem về cho mình làm chủ”

Ông ta lại nói tiếp:

– Nhưng, nếu chúng tôi đem anh xét xử với tội chết thì anh nghĩ thế nào ?

Thầy trả lời:

– Nếu cần phải sống cho sự nghiệp và lý tưởng được sống mãi ta phải cố sống và nếu cần phải chết cho sự nghiệp và lý tưởng được sống mãi, đôi lúc ta cũng vui vẻ chết, đó là sự dũng cãm hy sinh để trở thành bất tử, đối với nhà tu là thánh hóa linh hồn. Sáu Búa lắng nghe. Thầy tiếp lời:

– Vả lại ông biết rồi đạo Phật chúng tôi chết là giải thoát.

Ông ta nói:

– Thôi đừng giảng đạo ở đây nữa, chừng nào về chùa cứ mà giảng đạo, sợ không chịu nổi nửa mức án, chứ làm gì có thể về chùa.

Thời gian “làm việc” hơn nửa giờ đồng hồ, hai bên cứ đấu lý qua lại vẫn chưa đi đến đâu. Sáu Búa lườm nguýt tỏ vẻ khó chịu và hỏi thẳng vào nguyên nhân “làm loạn, phản động”:

– Anh cho biết ai là người đứng đầu tổ chức Trung ương của anh ?

Thầy Minh trả lời:

– Ở Trung ương có Thượng Tướng Trần Văn Trà và Bà Nguyễn Thị Bình.

Ông ta đổi sắc mặt lấy tay đập bàn và nói một cách hằn hộc:

– Tại sao anh lại dám khai hai đồng chí cao cấp của tôi, trong khi hai đồng chí này có mấy chục năm tuổi Đảng, đã đóng góp nhiều cho cách mạng để đem đến sự thành công vẻ vang như ngày hôm nay, mà anh cho rằng phản động như anh vậy à! Tại Sao anh không khai cả tôi luôn đi, tôi tên là Nguyễn Ngọc Cơ tức Sáu Búa nè !

Khi nghe xong câu thách đố, thầy tỏ thái độ khó chịu và nhìn Sáu Búa nói thêm:

– Xin lỗi ông tôi không phải là quan, chứ nếu tôi là quan thì tướng mạo của ông xin làm lính tôi, tôi cũng không nhận, thì khai ông làm gì?

Có lẽ bị cú sốc bất ngờ như xối gáo nước lạnh vào mặt, Sáu Búa nổi nóng liền vói tay chụp lấy cái bình trà để trên bàn và dự định ném vào người thầy. Theo sự tường thuật, thầy điềm nhiên phát biểu:

– Tư cách một ông Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, mà có hành vi thất sách đối với người tù chính trị tôn giáo như tôi à!

Sáu Búa bỗng dừng tay lại và quát to:

– Đồ ngoan cố, mầy là tên phản động, chuyên khuấy đục và bôi bẩn Đảng, mầy về đi!

Chúng ta thấy rằng giới luật pháp tuân lệnh Đảng CS u mê chỉ là bọn vô lại, côn đố tiếp tay cho tội ác để đàn áp nhân dân mà thôi.

Một trường hợp thương tâm khác khi thầy kể lại trong chương 5 là:

“Tôi còn nhớ chỉ sau ngày 30-4-1975 vài hôm, thì ông xã trưởng chính quyền cũ thường được gọi là ( ông xã Điểm) ông xã này trước kia thường bắt nhiều Việt Cộng ban đêm bò ra gài mìn phá đường, phá lộ giựt sập cầu và rãi truyền đơn v.v… Đến khi Sài Gòn đổi chủ, Việt Cộng tiếp quản chính quyền thì ông xã Điểm bị đem xử tử tại xã. Trước khi xử bắn họ tập họp dân lại để kể tội ông, dân theo Việt Cộng dùng cây, kẻ dùng đá, đòn gánh đánh đập túi bụi, đầu cổ ông bị giập nát, mình đầy máu me, máu tuôn chảy đầm đìa lênh láng mà họ còn không buông tha. Trong khi hai tay bị trói chặt, miệng nhét đầy giẻ và thêm một trái chanh rồi bịt miệng bằng một chiếc khăn đen, đã vậy mà hai ba người còn dùng mấy cục đá thật to chạy đến đập vào đầu ông xã Điểm một lần nữa, trước khi lôi kéo thân ông đến một gốc cây họ buộc thật chặt và bắn ba phát súng. Khi nạn nhân ngã qụy tên trưởng toán đến bên xác nắm tóc lên và nả vào màng tang một viên đạn gọi là “ân huệ sau cùng” trước khi kéo xác lấp vào hố.”

Khi được chuyển sang trại cải tạo Cây Gừa lại âm mưu vượt trại và rồi bị thất bại. Năm bạn đồng tù toa rập đào lổ thoát thân, khi nội vụ bất thành, một người bị xử tử, bốn người còn lại bị đày ra miền trung, giam vào trại tù Xuân Phước, nằm trong một thung lủng tử thần, nơi rừng thiên nước độc. Nơi đây tác giả sau cùng lại gặp nhiều tù nhân của càc tôn giáo được giải về đây. Xuân Phước khét tiếng với khu kỷ luật gồm 3 loại cùm, loại khoen tròn, loại khoen chữ V và loại khoen chữ V có khía hình răng cưa. Tùy theo thái độ của người tù mà họ ứng xử, hoặc phát cơm chan ngập nước muối, ăn vào mặn đắng không tài nào nuốt nổi. Đặc biệt trại tù xử dụng những tên gọi là Trật tự để trù dập, đánh đập, bớt nước uống, bớt cơm của tù nhân. Ở trại K1 có tên Tân mang tội hình sự là bộ đội CS, đã từng ăn gan người ở Campuchia, nên đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trông phát khiếp. Tại nhà tù Xuân Phước sự ngược đãi tù nhân rất tàn tệ, người tù sống trong cảnh thiếu thốn mọi bề, vô cùng nghiệt ngã. Nhiều tù nhân bị kiệt sức vì bị cưỡng bức lao động khổ sai hoặc bị đánh đập tàn bạo man rợ, tính trung bình thì tháng nào cũng có vài người chết. Có khi chết liên tục một tháng 3 đến 5 người, đây là chuyện thường xảy ra và thầy đã ra câu thơ:

“Trông thấy người khác chết

Trong lòng rất xót xa

Nửa thương xót kẻ chết

Nửa nghĩ tới phiên ta…!”

Ở hoàn cảnh cùng kẹt không lối thoát người tù đâm ra ù lì liều lĩnh. Một khi chí đã quyết nên phải ra tay, từ đó thầy Thiện Minh cùng với một số bạn đồng tù thân quen trong trại đứng ra tổ chức cướp trại giải thoát cho tù nhân bạn, âm mưu là định giải cứu đem đi 700 người trong số hơn 1000 người của trại. Tất cả sẽ cùng nhau hoạt động trong rừng và hợp tác đấu tranh. Nhưng sự việc bị bại lộ cho nên tù nhân nổi loạn bị bắt và bị cùm quyện tay chân ngày đêm hơn 3 năm.

Trong thời gian điều tra thầy bị đánh đập dã man, đặc biệt những trận đòn hội đồng, bị đánh tập thể gồm có các tên cán bộ an ninh của trung tâm. Chúng đánh bằng báng súng, bằng tay chân và 100 roi điện. Trong một buổi điều tra để khai thác cung để bắt thêm người, các tên đao phủ an ninh trại đánh thầy bằng tay chân tới tấp vào thân thể, đầu, mặt. Phía sau có một tên cán bộ khác dùng họng súng dài, thúc mạnh vào lưng trúng ngay lá phổi làm thầy bị trọng thương té ngất xỉu, máu tuôn ướt đẫm cả áo quần. Sau khi tỉnh dậy, những tên hung thần nầy không cho thầy thay quần áo, thầy đành mặc áo dính máu luôn cho đến khi rách nát. Hậu quả, vết thương lá phổi của thầy đến giờ này cũng còn dây dưa chưa dứt hẳn, nó thường đau buốt và ho liên tục mỗi khi trái gió trở trời. Đánh đấm bằng chân tay và bá súng chưa đủ, chúng đánh tiếp thầy 99 roi điện chỉ vì đếm lộn một roi. Đến khi kết thúc điều tra vụ án trốn trại các tên nầy lập hồ sơ quy kết thầy tổ chức “chống phá trại giam”.

Một bài thơ kỷ niệm được thầy cảm tác như sau:

«TU TÙ…!

Thêm dấu chữ Tu biến chữ Tù

Chung thân hai án ở thiên thu

Tay còng, chân quyện nơi u tối

Cửa sắt, tường cao chốn mịt mù

Thân thể hình hài trông yếu kém

Tinh thần, trí tuệ sáng trăng thu

Thiên đàng, địa ngục phân hai nẻo

Nửa kiếp thầy tu nữa kiếp tù…!

Nửa kiếp Thầy tu nửa kiếp tù

Thiền môn giã biệt bước chân du

Từ bi trí tuệ tình thương gọi

Bác ái nghĩa nhân xóa hận thù…

Y chiến ngày đêm luôn mặc giữ

Nâu sòng kinh kệ gác công phu

Nước non đáp trả tròn xong nợ

Tín, Hạnh, Nguyện, thành vẹn kiếp tu…!”

Trong trại tù thầy gặp những bạn đồng tù của các tôn giáo bạn như: Ông Phan Đức Trọng, 72 tuổi, là Giáo hội trưởng giáo hội “Hòa bình chung sống” ở Tây Ninh, ông là con nuôi của Trung tướng Trần Quang Vinh, Tổng Tư lệnh quân đội Cao Đài. Ông Trần Văn Nhành, một tín đồ thuần thành của đạo Hòa Hảo thuần tuý. Quý Linh Mục Nguyễn Văn Vàng thuộc dòng Chúa Cứu Thế, Linh Mục Nguyễn Quang Minh thuộc nhà thờ Vinh Sơn, Linh Mục Nguyễn Luân, thuộc giáo xứ Phan Rang, Linh Mục Nguyễn Tấn Chức, và nhiều nữa. Sống trong trại, tù nhân bị bạc đãi, quần áo bị mục nát, quần đùi không còn đủ để che thân. Linh Mục Vàng bị ghẻ mủ khắp thân thể, ngoại trừ trên mặt thì không có, ghẻ mủ dầy như dề cơm cháy khét đen, còn Linh Mục Nguyễn Quang Minh thì bị đánh trọng thương, đánh ho ra hộc máu miệng, và cả hậu môn, chỉ vì đem vào trại vài chiếc bánh “thánh” để rồi qua đời sau đó mấy ngày. Riêng Linh Mục Nguyễn Luân bị bệnh phổi nặng, vì chứng ung thư phổi. Do nhiều năm trong kỷ luật bị tra tấn, đánh đập, thầy Thiện Minh bị chứng viêm phổi nặng. Những lúc gần đây tôi được biết thầy thường ho ra máu.  

Tình cảm liên tôn khi Phật giáo và Công giáo chia sẻ những khổ đau vì tai ách giặc Cộng. Cha Nguyễn Luân có biệt hiệu là ông Ba Không. Lý do những tên giám ngục thấy giam hãm ngài nơi kỷ luật quá lâu nên mời ngài lên “làm việc”. Họ chỉ cần yêu cầu Linh Mục viết tiêu đề là:  

“Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”

và ký tên vào thôi! thì chúng sẽ cho Ngài ra khỏi hình phạt kỷ luật ngay. Thế nhưng Linh mục Luân lúc nào cũng viết như sau:

“Cộng Hoà Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam
Không độc lập – Không tự do – Không hạnh phúc”.
 

Những tâm tình giữa Thượng Tọa Thích Thiện Minh và Linh Mục Nguyễn Luân “Ba Không” là khi xứ sở thật sự có tự do nhân quyền, thì một ngôi Chùa và một ngôi Giáo đường được xây kế bên nhau để lễ Giáng Sinh hay lễ Vu Lan thì Con chiên bên Công giáo và Phật tử được thong thả viêng thăm nhau như tinh thần hòa đồng tôn giáo, một ý niệm vô cùng cao đẹp, nhưng nay Linh mục Nguyễn Luân không còn nữa.

Thượng Tọa Thích Thiện Minh trong những chương cuối đế cập những gặp gỡ hay những kỷ niệm khi liên lạc với các bạn đồng tù của chế độ CSVN như Thượng Tọa Thích Không Tánh. Năm 1998, hai thầy gặp nhau trong dịp tiếp kiến phái đoàn Nhân Quyền của LHQ do Ông Abdel Rattah Amor hướng dẫn sang Viêt Nam. CS khuyến khích quý thầy sang Pháp định cư. Tuy nhiên, thầy Thiện Minh khẳng khái đề nghị 4 điểm với phái đoàn LHQ là CS phải:

– Thả tất cả tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, tôn giáo đang bị giam giữ trong nhà tù CS vô điều kiện.

– Đòi trả lại tài sản của các tôn giáo và phục hồi quyền tự do tôn giáo một cách hoàn toàn trong đó có việc phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN.

– Xóa bỏ điều 4 hiến pháp của nước CHXHCNVN để thực hiện một chế độ đa đảng, đa nguyên và bình đẳng giữa các đảng phái.

– Tổng tuyển cử tự do với sự giám sát của LHQ, đôi bên đồng bộ chủ trương tình thương nhân đạo và hóa giải hận thù.  

Trong nhà tù CS, thầy Thiện Minh có dịp Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, một nhân vật bất đồng chính kiến chế độ CSVN, và là Chủ Tịch của Cao Trào Nhân Bản Việt Nam, ông chia sẻ những viên thuốc bổ, thức ăn chay được nhét vào lổ thông hơi như tiếp tế cho sức khoẻ của thầy, ông thể hiện những tình cảm tốt của người bạn đồng tù. Vì thức ăn chay làm giống món thịt như thức ăn mặn nên thầy trả lại qua lổ thông hơi suýt bị bọn cai tù bắt được. Khi BS Quế được phóng thích nhưng ông vẫn cương quyết giữ tinh thần bất khuất và chủ trương dứt khoát đòi hỏi tự do và nhân quyền cho Việt Nam, điều này khiến thầy dành nhiều thiện cảm với vị bác sĩ này. Một tù nhân đặc biệt khác là GS Doãn Quốc Sỹ, ông bị bắt vì đã gởi ra hải ngoại những truyện đả phá chế độ CS. Hậu quả GS Sỹ bị bắt trong vụ án nổi danh là “Biệt Kích Cầm Bút” và ông được xem như thủ lãnh củs nhóm nhà văn “phản động”. Gặp nhau tại khám Chí Hòa, GS Sỹ sáng tác bài thơ ngắn kỷ niệm để tặng thầy, đại ý bài thơ về chú gà mổ những hạt gạo rơi vung vãi dưới đất (trang 223):

“Chú gà mà đi ăn đêm

Thấy hạt cơm mềm vung vãi đâu đây

Đêm khuya tội nghiệp cho mầy

Vất vả cành chầy một bóng thành hai.”  

Tôi có nhắc GS Sỹ về bài thơ này ngày xưa, ông nói trong những ngày bị đọa đầy như vậy, những tù nhân nuôi lý tưởng khao khát tự do, họ trao đổi những chuyện trong tù và ngoài đời. GS Sỹ cũng nói thầy Minh có tính cương trực và thẳng thắn, rất đáng quý.  

Tác giả kể tên nhiều vị gặp trong tù nữa. phần kết luận ở chương 12. Thầy Thiện Minh xác nhận mình là một thành viên của GHPGVNTN, đã bị chế độ CS giam cầm liên tục 26 năm, so với chiều dài lịch sử của dân tộc không là bao, nhưng so với một đời người quả là khủng khiếp. Thầy dành những lời đầy ân tình như khi GHPGVNTN được lãnh đạo bởi Đại Lão Hòa Thượng Tăng Thống Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ.

Thầy xác định lập trường của Giáo Hội là phục vụ dân tộc và chúng sanh. Do đó, dù ở đâu hay trong hoàn cảnh nào, Phật Giáo Việt Nam muôn đời vẫn là Phật Giáo Việt Nam, và muôn đời vẫn là của dân tộc Vịêt Nam. Đề cập về Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ khi phát biểu về thái độ chính trị phải có của một công dân. Trên phạm vi tu hành, sự tham gia vào đời sống chính trị không có nghĩa là ra tranh chức vụ thế quyền, như ứng cử chức vụ dân biểu, hoặc lập đảng phái này nọ, mà là ý thức được trách nhiệm của mình đối với Tổ Quốc. Cho nên khi mọi người dân có quyền suy nghĩ về chính trị, phát biểu về chính trị và hành xử về chính trị thì đó là chúng ta biết xử dụng quyền công dân. Hãy cân nhắc lá phiếu của mình để chọn người xứng đáng đại diện cho mình hay bầu người cầm vận mệnh quốc gia thì dù muốn dù không cũng đã tham dự vào đời sống chính trị rồi.  

Tôi nghe thầy nói trên đài phát thanh về Linh Mục Nguyễn Luân của xứ đạo Phan Rang đã có những khát vọng riêng tư trước khi mất. Ngài tâm sự là:

“Nếu được ra tù hai anh em mình cải cách mối liên hệ tôn giáo theo hướng mới chẳng hạn như: trước nhà thờ, hay bên cạnh Thánh đường thờ Chúa, có ngôi Chùa thờ Phật. Tín đồ Phật tử đi lễ nhà thờ cầu nguyện Chúa và ngược lại Con chiên của Chúa đến Chùa lạy Phật ngày Rằm, bởi các đấng xuất thế luôn chủ trương yêu thương mà người đời thường hay cố chấp. Một khi tinh thần hòa hợp chung thì thể chất mới kết hợp được cho nên nếu các Tôn giáo Đại đoàn kết tạo thành một khối vững chắc đi đầu, thì các tổ chức xã hội mới noi gương… Tôn giáo và nhân quyền là sức mạnh chính làm chuyển hóa chế độ bạo quyền này”.

Tôi xót xa khi nghe thầy Thiện Minh nói on air về cái chết của Linh Mục Nguyễn Luân, tôi ngậm ngùi khi đọc những khát vọng của một cha xứ đáng kính nơi cuối trang 243 của sách “26 Năm Lưu Đày”.

Như GS Doãn Quốc Sỹ nhận xét về sự cương trực và thẳng thắn của Thượng Tọa Thiện Minh, ngài đã trả một cái giá rất đắt là 26 năm tù tội chỉ vì muốn sống đúng với nhân vị, ngài không chùn bước trước bạo lực. 26 năm tù tội để tranh đấu cho quyền làm người. Nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng tại Nam Phi là Nelson Mandela đã lớn tiếng phê phán, chỉ trích nạn kỳ thị màu da khi nhà cầm quyền thiểu số người da trắng đã bóc lột và đè đầu cởi cổ dân đa số dân da đen, để rồi Nelson Mandela chịu đựng 27 năm tù, loại tù chung thân biệt giam tại hòn đảo Robben Island, họ đánh đập trả thù cá tính ươn ngạnh bất phục tùng của ông. Thượng Tọa Thiện Minh không càch xa người lãnh giải Nobel hòa bình này của năm 1993 là bao, vì cả hai chấp nhận ngồi tù gần 3 thập niên cho giá trị cao quý của quyền làm người, cái quyền bẩm sinh của trời đất, nhân quyền không thể van nài hay xin xỏ để được ban phát mới có được.

Văn hào Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn được biết nhiều qua những tác phẩm nổi danh như Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle, truyện kể về trại tù khắt nghiệt Marfino, ngoại ô của Moskova) và Một Ngày trong Đời của Ivan Denisovich (One Day in the Life of Ivan Denisovich), và The Gulag Archipelago (Quần Đảo Ngục Tù), được tuyên bố trúng giải Nobel năm 1970 vì quá khứ cho thấy ông chống báng kịch liệt chế độ độc tài của Liên Sô. Tháng 7 năm 1945 ông bị kết án tù 8 năm tại các trại lao động khổ sai như là gulags cộng thêm 4 năm lưu đày sau đó, vì một bức thư ông viết gửi các bạn bày tỏ quan điểm chống lại chủ nghĩa áp bức người dân của hung thần Josef Stalin. Năm 1965 các tác phẩm của ông bị cấm lưu hành ở Liên Sô. Được phiên dịch và xuất bản ở nước ngoài, các tác phẩm này lại khiến ông bị bắt giữ năm 1974, bị tước bỏ quyền công dân và bị trục xuất ra xứ ngoài. Tác phẩm của Solzhenitsyn là những bản cáo trạng tố cáo tội lỗi của đảng CS Liên Sô, “26 Năm Lưu Đày” của Thượng Tọa Thiện Minh cũng đã trình bày những nỗi ô nhục, những vết nhơ đày đọa nhân dânViệt Nam, thử tượng cảnh tên Sáu Búa đập đầu bà lão đến chết bằng búa, chỉ vì nghi ngờ bà làm điềm chỉ viên cho bên quân đội VNCH. Bao nỗi oan khiên cho dân tộc Việt Nam phải hứng chịu ách Cộng Sản cai trị quê hương oan khiên của chúng ta.

Đọc tác phẩn “26 Năm Lưu Đày” để thấu hiểu những chuổi ngày dài tù tội, để cảm thông với tác giả về những kinh hoàng trên thân xác, những đọa dày về tinh thần. Đọc tác phẩn “26 Năm Lưu Đày” để hiểu rằng những khổ đau của thế giới từ Nelson Mandela đến Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn, tôi xin đề nghị hãy kể thêm những khổ đau của tăng sĩ Thích Thiện Minh hay kẻ sĩ Huỳnh Văn Ba. Tôi cho là vậy: Người chiến sĩ nhân quyền thật đáng kính trọng.

Trần Việt Hải

Link: http://www.ledinh.ca/Bai%20Viet%20Hai%2026%20Nam%20Luu%20Day.html

Sách Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày:
http://baovecovang.wordpress.com/category/h%E1%BB%93i-ky-but-ky/ht-thich-thi%E1%BB%87n-minh-hai-m%C6%B0%C6%A1i-sau-nam-l%C6%B0u-day-d%C6%B0%E1%BB%9Bi-ch%E1%BA%BF-d%E1%BB%99-csvn/

 

 

LM. Phêrô PHAN VĂN LỢI

 

Nghĩ về Thượng tọa Thích Thiện Minh 

 

 Linh mục Phêrô PHAN VĂN LỢI (Cố Vấn Hội Ái Hữu

Trước kia chẳng biết Thầy Minh

Thì nay không hẹn mà mình gặp nhau.

Đức Chúa, Đức Phật trên cao,

Hai ta ngục sĩ kết giao nghĩa tình.

Tôi muốn mô phỏng bài thơ mà đồng nghiệp của tôi, Linh mục Nguyễn Luân, đã tặng cho Thượng tọa Thích Thiện Minh khi hai vị gặp nhau ở trại tù A20 Xuân Phước. Tôi thì chưa có vinh hạnh gặp Thượng tọa diện đối diện, chỉ đôi lần trò chuyện ngắn gọn qua điện thoại thôi. Nhưng tâm hồn tôi đã gặp tâm hồn Thượng tọa từ lâu, ngay sau khi Thượng tọa ra tù ngày 02-02-2005 (cùng lúc với chiến hữu của tôi là linh mục Nguyễn Văn Lý) và bắt đầu trả lời nhiều cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Chân Trời Mới lẫn Quê Hương. Khi ấy, liên tưởng tới lời Đức cố Giáo hoàng Phaolô VI (+1978) nhắn nhủ tín hữu Công giáo: “Làm Kitô hữu trong thời đại này mà chẳng chịu gian khổ thì không thể là Kitô hữu đích thật”, tôi đã thấy ngay rằng một tín đồ Phật giáo, hơn nữa là một tăng sĩ, chịu gian khổ vì công lý 26 năm trời (từ ngày 28-03-79) trong cái chế độ Cộng sản phi nhân tàn ác này, quả là một tín đồ, một tăng sĩ đích thực! Niềm xác tín ấy của tôi được củng cố và còn pha hoà nỗi cảm xúc khi tôi được đọc Thỉnh nguyện thư của Thượng toạ gởi Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ ngày 21-02-2005. Trong Thỉnh nguyện thư này, ngoài việc trình bày đại nạn của bản thân, của các tôn giáo nói chung và Giáo hội PGVNTN nói riêng cũng như đưa ra 10 đòi hỏi đối với nhà cầm quyền Cộng sản VN, Thượng toạ còn đặc biệt nhắc đến cuộc khổ nạn kinh hoàng của rất nhiều chức sắc tôn giáo đã chết hay còn bị giam giữ trong tù ngục Cộng sản, trong đó có nhiều linh mục, đồng đạo và đồng nghiệp của tôi. Lời tiết lộ về tình trạng bi thảm của các chức sắc tôn giáo tù nhân lương tâm đó –mà xưa nay bị chế độ bưng bít rất kỹ- cũng như bảng đòi hỏi 10 điểm của Thượng tọa quả đã gây chấn động toàn cầu, và qua đó bộc lộ một tâm hồn “đại bi, đại dũng” hết sức rung cảm trước nỗi khổ của tha nhân và hết mực can đảm làm chứng cho công lý.  

Và thế là Thượng tọa lại tiếp tục trả giá cho thái độ bênh vực công lý này. Như mọi người, tôi đã theo dõi bước đường gian truân của Thượng tọa trong nhà tù lớn sau khi ra khỏi nhà tù nhỏ. Những trò dụ dỗ, gạt gẫm, sách nhiễu, quấy phá, đấu tố, tịch thu, cấm cản, hăm dọa, ngăn chận… hết sức hạ cấp và vô liêm sỉ –mà chỉ Cộng sản mới dám thực hiện- không những đối với vị ngục sĩ thời danh này mà còn đối với thân nhân bằng hữu của ngài tại Bặc Liêu, một đàng phô bày bản chất dối trá tàn bạo không hề thay đổi, lòng dạ báo thù căm ghét chẳng lúc nào nguôi của chế độ, đàng khác càng làm sáng tỏ ý chí sắt đá và tấm lòng trung trinh của một nhà tu hành rất xuất thế (nghĩa là không dính bén với lợi lộc thế trần, không toa rập với quyền lực thế gian, không ngửa tay xin ân huệ của chính đảng thế tục, để rồi trở thành đồng lõa với những kẻ áp bức) lại vừa rất nhập thế, nghĩa là quyết tâm đem đạo vào đời, xả thân cứu nạn “bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”, dù bản thân mình luôn lâm vòng nguy hiểm do lũ ma vương, ác quỷ, tiểu yêu đội lốt người. Làm sao quên được những lời tường trình đầy bức xúc của Thượng tọa, chẳng hạn như: 

“Khi trả tự do, họ buộc tôi phải về gia đình các em ruột, họ bắt buộc các em tôi phải làm cam đoan, cam kết, dùng tình cảm thân nhân để hạn chế mọi tự do cá nhân trong thường nhật… Hiện nay mỗi khi rời nhà ra đi thì có công an theo dõi, chẳng hạn như ngày 16-02-2005 vừa qua, tôi lên Sài Gòn để siêu âm bệnh ung bướu. Chỉ đi một ngày thôi mà công an Phường 1 Quận Tân Bình và công an Quận này đã khám xét nhà, lập biên bản tạm trú bất hợp pháp, mời tôi và chị ruột là Huỳnh Thị Hai phải đến phường làm việc, điều tra. Từ khi đi khám bệnh tại trung tâm Ung Bướu cho đến khi về nhà chị, kể cả khi lên xe về Bạc Liêu, lúc nào cũng có công an trực chiến 100% và trực tiếp tại nhà chị tôi ! Khi về đến Bạc Liêu thì công an tỉnh tên Minh lại mời em rể thứ tư của tôi thuyết phục để giám sát tôi. Trong một ngày rời khỏi nhà đi khám bệnh, công an điện liên tục hỏi thăm các em tôi đủ mọi điều. Sự theo dõi này khiến tôi cảm thấy tưởng chừng như đang bị cầm tù trong một nhà tù mới khác hơn trại tù cũ mà thôi!” (Trích Thỉnh nguyện thư).  

Bất chấp tất cả, Thượng tọa vẫn tiếp tục con đường tranh đấu của mình. Bằng tâm Đại Hùng-Đại Lực, vào ngày 19-11-2006, Thượng tọa đã cùng một số cựu tù nhân lương tâm, từ trong giới tu hành lẫn trong giới dân sự, đứng ra thành lập Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính trị Tôn giáo Việt Nam. Đó là Giáo sư Hòang Minh Chính, Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Giáo sư Nguyễn Đình Huy, Học giả Trần Khuê, Cựu Trung Tá Trần Anh Kim, Hội trưởng Lê Quang Liêm, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Thượng tọa Thích Không Tánh, Bác sĩ Phạm Hồng Ký giả Nguyễn Khắc Toàn, bản thân kẻ viết bài này và nhiều vị khác nữa…. Thật là một sáng kiến độc đáo, xuất phát từ một tâm hồn đã nếm trải được thế nào là kiếp tù lao và thế nào tình đồng cảnh ngộ, nhất là cảnh ngộ bị giam cầm vì công lý. Sự ra đời của Hội là một biến cố lịch sử và đã được sự hưởng ứng nồng nhiệt từ các nhà đấu tranh trong lẫn ngòai nước mà bản thân đều là các cựu tù nhân chính trị… Dĩ nhiên Thượng tọa Hội trưởng cũng đã phải điêu đứng vì sáng kiến này. Cả một chiến dịch bôi nhọ, đánh phá hết sức đê hèn đã được CS tung ra. Những thông báo và kháng thư tới tấp của Hội Ái hữu Tù nhân đã vạch trần tất cả những màn vi phạm nhân quyền đó. Nhưng làm gì được đối với “thép đã tôi thế đấy” trong hỏa lò tù ngục 26 năm ròng rã? Thế là CS đành trả thù vặt bằng cách kết án vị Phó Hội trưởng là kỹ sư Trương Minh Nguyệt 4 năm tù giam và hai năm quản chế trong một phiên tòa ô nhục ngày 11-12-2007.

Riêng câu trả lời của Thượng tọa Hội trưởng là tập Hồi Ký 26 Năm Lưu Đày trình làng ngày 20-01-2007 tại thành phố San Jose, Hoa Kỳ, nhân Lễ Ra mắt Ban Điều hành Hải ngọai Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị Tôn giáo Việt Nam. Với 12 chương và một phần phụ lục, tác phẩm này là chứng từ giá trị của một nhà tu hành đã gian khổ vì công lý và là sử liệu quý báu về một giai đoạn đen tối nhất của dân tộc. Trong đó bóng tối và ánh sáng chen nhau: bóng tối của hận thù, đàn áp, mưu mô, xảo quyệt, bạo tàn, ác tâm… và ánh sáng của từ bi, nhân ái, hy sinh, nhẫn nại, thứ tha, xả kỷ… Bóng tối tạo nên bởi thứ chủ nghĩa Mác-Lê phi nhân, sai lạc, phá huỷ lương tâm và lương tri con người, bởi thứ chế độ Cộng sản dối gian, tàn bạo, đã hạ con người xuống hàng con vật và biến những kẻ xây nên nó thành những con thú mất hẳn tính người và tình người. Địa ngục âm phủ mà các tôn giáo trình bày có lẽ cũng không ghê gớm bằng địa ngục trần gian do người CS xây nên để đày đọa đồng bào của mình trong đó. Làm sao quên được những đoạn mô tả dù là những sinh hoạt bình thường nhất: 

“Chúng tôi tắm ở một ao nước rất cạn và dơ. Khi tắm giặt, nước bên trên chảy xuống ao, cứ múc lên tắm tiếp. Thậm chí khi khát nước cũng cứ múc lên mà uống. Cái ao này nữ tù cũng cũng thường xuyên tắm giặt, giặt đủ mọi thứ trên đời kể cả tấm tã lót của các cháu bé. Nước ao càng ngày càng bị cạn và đục ngàu, nhưng mọi người tù khát nước cứ tự nhiên múc lên mà uống, uống một cách ngon lành, dường như chẳng có suy nghĩ chuyện gì đã xảy ra” (Chương III, tr. 55, nói về trại giam Vĩnh Lợi, tỉnh Minh Hải). Làm sao quên được chân dung những kẻ có lẽ đã từ nòi ma vương ác quỷ mà sinh ra thôi: tay chấp pháp tên Nguyễn Ngọc Cơ tự Sáu Búa, đương kim Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Minh Hải. “Thời kỳ còn họat động trong rừng, ông này phụ trách thi hành án tử hình. Một hôm nọ, tòa án xử tử hình một bà lão trên 70 tuổi. Cụ bà bị khép vào tội “làm điềm” tức là chỉ điểm cho Quân Đội VNCH… Đáng lý ra ông ta thi hành án xử tử bằng mã tấu. Nhưng đây là phiên tòa nhân dân lưu động đặc biệt, nên xử xong là thi hành án ngay. Hôm đó ông không đem theo mã tấu bên mình, nên đành tạm mượn một chiếc búa của dân làng. Ông phải cật lực và ra đòn đúng sáu nhát búa bà cụ mới tắt thở. Có người cho rằng bà cụ bị hàm oan cho nên khi chết đôi mắt cứ mở trao láo, mà không chịu nhắm nghiền lại… Ở Viện Kiểm sát, tội nhân chỉ nghe danh ông ta thôi thì đã khiếp đảm, rởn tóc gáy rồi !” (Chương V, tr. 85, nói về trại tù Cà Mau).  

Rõ ràng là Thượng tọa đã vẽ nên một địa ngục trần gian, một cơn ác mộng không thể tìm thấy ở một nơi nào trên thế giới. Vậy mà, kinh hoàng thay, nó đã và đang xảy ra tại Việt Nam. Trong chiến tranh, ở một nơi nào đó, người ta có thể giết chết nhau tàn bạo trong tư cách kẻ thù dị chủng. Thế nhưng trên mảnh đất hình chữ S này, trong hòa bình, người ta đã thản nhiên dùng những tay sai hung ác nhất, những thủ đọan tàn độc nhất, những âm mưu thâm hiểm nhất, những trò tra tấn tinh vi nhất để giết hại hằng triệu đồng bào… chỉ vì mục tiêu duy nhất là thỏa mãn bản năng quyền lực cuồng điên và bảo vệ ngai vàng quyền lực hung hãn.

Thế nhưng trong kiếp đọa đày của bản thân, cảnh khốn khổ của gia đình, niềm đau thương của đồng loại và nỗi bất hạnh của dân tộc, suốt 256 trang giấy, Thượng tọa tác giả đã không biểu lộ hay khơi dậy căm thù, mà lúc nào cũng giữ gìn phong thái nhân hiền của một vị tu sĩ: “Cuối cùng tôi nguyện cầu mười phương chư Phật khai thị Phật tánh cố hữu của những tư tưởng bảo thủ trong Đảng CSVN, sớm giải thóat khỏi phiền trược, dứt bỏ ác nghiệp cơ cầu, hồi tâm chuyển ý, quay về nẻo thiện để đưa Dân Tộc, Tổ Quốc Việt Nam ngày càng thăng hoa phát triển” (tr. 256). Đó cũng chính là tình thần của kinh Hoà bình, tác phẩm thời danh của một vị tu sĩ Công giáo, thánh Phanxicô Khó nghèo (1182-1226): “Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lạc lầm”.

Những con Phật, con Chúa rốt cùng cũng gặp nhau nơi tấm lòng nhân ái bao dung, bởi lẽ: “Sự đời sắc sắc không không! Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi” !!!

Viết tại Huế ngày 24-04-2008 (Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi).

Vài lời để in vào phía sau:

“Trong bất cứ tôn giáo nào, kẻ tu hành không hẳn là người thoát ly sự đời, cắt đứt mọi vương vấn rồi tìm đến một tu viện, để gọt dũa chính mình cho hoàn hảo bằng cách luyện đủ nhân đức trong cảnh an tĩnh, nhưng đúng hơn là người có tinh thần từ bỏ mọi sự để quyết chí noi gương và phụng thờ Đấng Tuyệt đối Tối cao bằng cách xả thân cho tha nhân, hy sinh cho đồng loại, dấn mình vào đau khổ để cứu vớt kẻ khổ đau, chấp nhận là nạn nhân của độc ác để giải thoát kẻ ác độc, nhất là khi nơi mình sinh sống đang chịu sự thống trị của bạo lực, độc tài. Tôi thiết nghĩ Thượng toạ Thích Thiện Minh là một mẫu người tu hành như thế!”

LM. Phêrô PHAN VĂN LỢI

Toàn dân nghe chăng??? Sơn Hà Nguy Biến !!!

 

 

Ban hợp ca Câu Lạc Bộ Tình Nghệ sĩ

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: