PHẠM TRẦN ANH: HOÀNG SA TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

 

 

DI CHÚC MUÔN ĐỜI !                

Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta.


Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn
:
 

” Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.”

 

Quá khứ là gốc rễ của tương lai, rễ càng đâm sâu thì cây mới vững vàng và càng vươn cao.

 

TRẦN NHÂN TÔN

(1279-1293)

  

 

TỔ QUỐC LÂM NGUY

 

 

     Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm nổi trôi của vận nước từ khi lập quốc đến ngày nay. Trong suốt tiến trình lịch sử Việt, Hán tộc là một kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Ngay từ thời lập quốc, triều Thương khởi đầu của Hán tộc đã đánh đuổi Việt tộc, chiếm cứ địa bàn cư trú của Việt tộc ở hạ lưu sông Hoàng Hà để thành lập triều đại Thương, mở đầu lịch sử Trung Quốc. 

    Dân tộc Việt đã trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai của chủ nghĩa CS. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc luôn luôn chủ trương xâm lược tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá, ngay cả sau khi Việt tộc đã giành lại độc lập tự chủ. Các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều đem quân xâm lược Việt Nam nhưng đều bị quân dân ta đánh cho tan tành không còn manh giáp. Thế nhưng Hán tộc vẩn luôn tìm cách xâm lấn nước ta mỗi khi nội tình chúng ta chia rẽ khiến tiềm năng đất nước suy yếu.

 

     Bản chất xâm lược của Hán tộc trước sau như một, từ Hán tộc du mục xâm lược xa xưa và Trung Cộng bành trướng ngày nay vẫn tìm cách xâm lấn đất đai, biển cả của chúng ta.

 

    Chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử của Ngô Quyền năm 938 đã mở đầu một thời kỳ Độc lập tự chủ của dân tộc. Sau hơn một ngàn năm độc lập với các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý , Trần, Lê, Nguyễn thì thực dân Pháp lại vào xâm chiếm nước ta. Vận mệnh dân tộc Việt trải qua nhiều thăng trầm dâu bể, hết gần một ngàn năm chịu nô lệ của giặc Tàu lại đến trăm năm đô hộ của giặc Tây.

 

     Trong khi toàn dân đang đấu tranh giành lại độc lập dân tộc thì đảng CSVN đã núp dưới danh nghĩa kháng chiến, lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp để bành trướng chủ nghĩa CS, đưa dân tộc vào thế khốn cùng nhất trong lịch sử. 

     Chúng ta cùng nhìn lại những diễn biến lịch sử cận đại để hiểu rõ hơn về những gì đã và đang ảnh hưởng tới vận mệnh của dân tộc và đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

 

– Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Trung Cộng công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thành trì công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Sau đó, ngày 31 tháng 1 năm 1950, Liên Xô công nhận VNDCCH. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức đứng vào hệ thống Xã hội chủ nghĩa đối đầu với thế giới Tự do.

 

– Ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh công nhận chính phủ Quốc gia do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo. Cuộc chiến Việt Nam đã chuyển sang một cuộc đối đầu quyết liệt giữa chủ nghĩa Cộng sản do Liên Sô chỉ đạo và Thế giới tự do do Hoa Kỳ lãnh đạo. 

– Năm 1954, Trung Cộng chỉ thị cho VNDCCH ký hiệp định Genève chia đôi đất nước ngày 20-7-1954.

 

– Năm 1956, Trung Cộng đánh chiếm đảo Tuyên Đức phía Đông của quần đảo Hòang Sa lãnh thổ VNCH. 

– Ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng ngoại giao VNDCCH, Ung văn Khiêm nói với Đại lý sự vụ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) là Li Zhimin rằng: “Về phương diện lịch sử, Hoàng Sa và Trường Sa là một phần đất của Trung Hoa”. 

– Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Cộng tuyên bố quyền làm chủ biển Đông. 

– Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng VNDCCH Phạm văn Đồng gửi công hàm cho Chu Ân Lai, Tổng lý Sự vụ CHNDTH công nhận Hoàng sa Trường sa thuộc lãnh thổ Trung Hoa.

 

– Sau khi Trung Cộng đánh chiếm Tây Tạng năm 1950. Đảng CSVN nhận chỉ thị thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam ngày 20 tháng 12 năm 1960.

 

– Ngày 19 tháng 1 năm 1974, TC đánh chiếm nốt khu Nguyệt Thiềm phía Tây quần đảo Hoàng Sa do quân lực VNCH trấn giữ. Việt Nam Cộng hòa ra Tuyên cáo về chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam.

 

– Ngày 14-3-1988, Hải quân Trung Cộng huy động toàn bộ hạm đội Nam Hải tấn công xâm chiếm 6 đảo trong quần đảo Trường Sa. Hải quân TC đánh chìm 3 Hải vậm hạm của Hải quân CHXHCNVN, 64 lính hải quân hy sinh mà nhà nước CHXHCNVN giấu nhẹm sự kiện bi thảm này. Hai mươi năm sau 14-3-2008 mới làm lễ truy điệu cho những người lính vô tội đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đất nước này.

 

– Năm 1992, Trung Cộng chiếm thêm 4 đảo và dựng cột mốc trên đảo Đa Lạc của VN. 

– Tháng 2 năm 1992, Quốc hội TC ban hành đạo luật tuyên bố chủ quyền. Tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua phải xin phép, nếu không sẽ bị đánh chìm. 

– Tháng 5-1992, TC ký khế ước với công ty khai thác dầu Crestone trên 1 diện tích 25.000 cây số vuông.

 

– Ngày 25 tháng 12 năm 1999, Lê Khả Phiêu TBT đảng CSVN và Trần Đức Lương, chủ tịch nước CHXHCNVN đi Bắc Kinh ký kết Hiệp ước phân định biên giới. Hiệp ước này chính thức nhượng một phần lãnh thổ thuộc Ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc và nhiều dãy núi thuộc Hà Giang, Lạng Sơn.

 

– Ngày 30 tháng 12 năm 2000, nhà nước CSVN ký kết 2 hiệp ước phân định vùng vịnh Bắc Việt và Hợp tác nghề đánh bắt cá. Với 2 hiệp ước này, Trung Quốc chính thức khai thác tài nguyên hơn 11 ngàn cây số vuông trong vùng vịnh Bắc Việt. 

– Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lãnh hải mới của Trung Cộng. 

– Tháng 11 năm 2007, Trung Cộng chính thức công bố quyết định thành lập Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý 2 quần đảo này thì Thủ Tướng CHXHCNVN Nguyễn tấn Dũng ký giấy phép chính thức cho Trung Cộng độc quyền khai thác bauxite và sản xuất nhôm tại Lâm Đồng và Đắc Nông ở Cao nguyên. Vùng đất này được dành riêng cho TC, người Việt không được lai vãng vì lý do an ninh !!!

 

– Ngày 12 tháng 12 năm 2007 sau khi Bắc Kinh phàn nàn về việc thanh niên sinh viên Việt Nam biểu tình chống TC xâm lược, Tổng Bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh lại khúm núm bày tỏ tấm lòng khuyển mã của những tên Thái thú xác Việt hồn Tàu với lãnh đạo Bắc Kinh: “Vì tình hữu nghị đời đời bền vững với Trung Quốc, lãnh đạo Việt Nam sẵn sàng hiến dâng tất cả …”.

      Vấn đề hiệp định phân chia lãnh thổ và lãnh hải đang gây nhức nhối cho tất cả những người Việt Nam yêu nước thì ngày 1 tháng 11 năm 2007, Nguyễn Tấn Dũng đặt bút ký cho phép Trung Quốc khai thác bauxite thì cao nguyên Lâm Đồng đã chính thức trở thành một “Tô giới” của Trung Cộng. Với cả một vùng cao nguyên rộng bao la lại do người của TC quản lý nên Trung Quốc dùng trăm ngàn cách để tuồn vũ khí vào cất giấu sẵn một cách dễ dàng. Hàng ngàn công nhân TQ sẽ trở thành hàng ngàn tay súng cùng với hàng chục ngàn du khách Trung Quốc có mặt ở Việt Nam bất cứ lúc nào thì đến một thời điểm nào đó, Trung Cộng sẽ có cả chục sư đoàn Hồng quân chiếm giữ cao nguyên, khống chế chia cắt Việt nam ra từng mảnh.

 

      Tất cả người Việt Nam yêu nước chúng ta đều nhìn thấy ý đồ thâm độc của Tầu Cộng qua những bước chiến lược núp dưới vỏ bọc hợp tác phát triển kinh tế của chúng. Ngay cả một viên tướng cộng sản Nguyễn Trọng Vĩnh đã từng làm đại sứ ở Bắc Kinh, trước nguy cơ mất nước cũng đã lên tiếng cảnh báo: Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết TQ đã xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam… không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là để đe dọa VN và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để TQ khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển, (TQ) có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (TQ) có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ, thì độc lập chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?! Đảng cộng sản sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử và nhân dân”.

 

      Thực tế lịch sử đã cho chúng ta thấy rõ vai trò Địa lý chiến lược và địa lý chính trị của vùng cao nguyên này. Bán đảo Đông Dương với cao nguyên Boloven nằm giữa 3 quốc gia Việt Miên Lào, trải dài xuống cao nguyên Trung phần Việt Nam. Chính vì vậy, cao nguyên được xem như “yết hầu của Việt Nam”, nắm được cao nguyên sẽ khống chế Việt Nam nói riêng và 3 nước Việt Miên Lào nói chung một cách dễ dàng. Tất cả những thế lực quốc tế đều quan tâm đặc biệt đến cao nguyên không chỉ ở vai trò chiến lược của nó, mà dưới lòng đất cao nguyên còn tiềm tang một trữ lượng Uranium cần thiết cho vũ khí nguyên tử. Chính vì vậy, các thế lực quốc tế còn lợi dụng yếu tố sắc tộc cư trú trên vùng đất này là đồng bào Chàm và đồng bào Thượng bản địa, để phân hóa và khống chế chủ quyền dân tộc của Việt Nam để thực hiện mưu đồ của họ.

 

     Gần đây, tổ chức The Cham National Federation of Cambodia (CNFC) đã được Liên Hiệp Quốc công nhận dưới qui chế “Deparment of Economic and Social Affaires” viết tắt là DESA kể từ năm 2009. Tổ chức The Overseas Cham Unity Organisation thành lập chính phủ lưu vong Chăm (Cham’s Government in Exile). Chính phủ Chăm lưu vong định ra mắt tại Hải Nam TQ nhưng thấy bất lợi nên ra mắt tại Thụy Điển. Điều này cho thấy đế quốc mới Trung Cộng đã tạo dựng ra tổ chức này để phục vụ cho ý đồ khống chế Việt Nam trong lãnh vực kinh tế, quân sự và chính trị qua việc kiểm soát vùng cao nguyên Trung phần. 

     Trung Cộng sẽ lợi dụng ưu thế của một cường quốc có chân trong Hội đồng Bảo An LHQ để vận động một qui chế tự trị cho 2 sắc dân này, biến vùng nầy thành một vùng “ảnh hưởng” lệ thuộc Trung Quốc. Một khi đã làm chủ cao nguyên, đế  quốc mới của thời đại sẽ  từng bước biến Việt, Miên, Lào thành một tỉnh của Trung Quốc theo thời gian để khai thác tài nguyên uranium và  mở con đường chiến lược xuống eo biển Malacca.

 

     Ngày 13 tháng 5 năm 2009, nhà nước CHXHCNVN dã nạp hồ sơ thềm lục địa tại Liên Hiệp Quốc không bảo vệ quyền lợi của Việt Nam mà chỉ là một văn kiện hợp thức hóa trước Liên Hiệp Quốc việc nhường biển cho Trung Cộng.

 

    Chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước !!! Chúng ta sẽ trở lại thời “ngàn năm đô hộ giặc Tàu”? 

     Lịch sử của ngàn năm Hán thuộc với những đau thương tủi nhục, những u uất căm hờn lại tái diễn trên đất Việt, chúng không bắt dân ta phải lên rừng tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai nữa mà tinh vi hơn, thâm độc qủi quái hơn ngàn lần.

 

      Mới đây, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Trung Quốc  trong thực tế là “Thứ sử Đại Hán” lên Biện Biên Phủ để truy điệu các “Liệt sĩ Trung Cộng” và xây dựng nghĩa trang Liệt sĩ Trung Cộng trên đất nước Việt Nam. Sau đó, nhà nước CHXHCNVN đã ký quyết định thành lập Viện Khổng Tử để tuyên truyền rao giảng văn hóa Hán nhằm nô dịch Hán hóa Việt Nam.

 

    Để thực hiện ý đồ xâm thực văn hóa, sau khi hoàn tất việc cắm cột mốc dâng đất và nộp hồ sơ trước Liên Hiệp Quốc để nhường biển thì Trung Cộng chính thức viện trợ cho không 30 triệu đô la để xây ký Túc xá cho trường đảng và 350 triệu đô la xây cung Hữu Nghị Việt Trung đồ sộ đầy đủ tiện nghi sinh hoạt văn hóa, thể thao giải trí để lôi cuốn nô dịch giới trẻ Việt Nam trong những sinh hoạt văn hóa văn nghệ, lễ hội, phim ảnh, thể thao để rồi thuộc lịch sử TQ hơn lịch sử Việt, tự nhận mình là “Nam tử Hán” quên đi mình là người Việt, tự mình Hán hóa mình. Đó là nguy cơ lớn nhất của dân tộc Việt hôm nay! 

     Đây là một âm mưu xâm thực văn hóa hết sức thâm độc. Viện Khổng Tử để truyền bá tư tưởng văn hóa “Đại Hán”, xây ký túc xá để đào tạo quan chức CSVN mà trong thực chất là các quan thái thú, đảng viên của đảng CS Trung Quốc cai trị dân ta bằng một chính sách thực dân kiểu mới.

 

     Bài học lịch sử cho chúng ta thấy rằng, siêu đế quốc Trung Cộng chỉ mới xâm chiếm Tây Tạng từ năm 1959 đến nay mới có một nửa thế kỷ mà Đức Đạt lai Lạt Ma của Tây Tạng đã ngậm ngùi cay đắng thốt lên: “Tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ và nhân cách của các thế hệ Tây Tạng, vốn qúi gía hơn mạng sống của họ, nay đã gần như bị tiêu diệt ! Đảng cộng sản và nhà nước Trung Cộng đã biến Tây Tạng thành một “Địa ngục trần gian”!!!

 

    Tất cả đồng bào Việt Nam chúng ta, trong và ngoài nước phải làm gì trước khi đã quá muộn? Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ trở thành một Tây Tạng, một Tân Cương thứ hai trong thế kỷ 21 này…???

 

Tổ quốc lâm nguy …

Sơn Hà Nguy Biến …

 

Chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước không xa !!!

 

Toàn dân nghe chăng ???

Sơn Hà Nguy Biến !!!

  

 

“Kính Thưa Đồng chí Tổng Lý, 

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

 

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.

 

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng Lý lời chào trân trọng.

Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958

Phạm văn Đồng

Thủ Tướng Chính phủ

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

  

* Bản công hàm ngoại giao của Phạm văn Đồng Thủ Tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức gửi công hàm ngoại giao cho Chu Ân Lai, Thủ Tướng CHNDTH ngày 14-9-1958 ngay sau khi CHNDTH tuyên bố là chủ biển Đông ngày 4-9-1958.

TUYÊN CÁO

 

CỦA CHÁNH-PHỦ VIỆT-NAM CỘNG-HÒA

 

VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN VIỆT-NAM

 

     Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết nhất của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh-phủ Việt-nam Cộng-hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu. Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt-Nam Cộng-Hòa, Chánh-Phủ Việt-Nam Cộng-Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:

 

 “Quần đảo Hoàng Sa và quân đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt-Nam Cộng-Hòa. Chánh-Phủ và nhân dân Việt-Nam Cộng-Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy. Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt-Nam Cộng-Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh-Phủ và nhân dân Việt-Nam Cộng-Hòa còn tranh đấu để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình. Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có”. 

Trong dịp này, Chánh-Phủ Việt-Nam Cộng-Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt-Nam Cộng-Hòa trên những hải đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển Trung-Phần và bờ biển Nam-Phần Việt-Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt-Nam Cộng-Hòa căn cứ trên những dữ kiện dịa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được. Chánh-Phủ Việt-Nam Cộng-Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách. 

Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh-Phủ Việt-Nam Cộng-Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt-Nam Cộng-Hòa trên những phần đất này.

 

 

Sài gòn, ngày 14 tháng 2 năm 1974 

TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA

NGUYỄN VĂN THIỆU

 

SỰ THẬT LỊCH SỬ

 

     Sau khi Trung Cộng và Liên Xô công nhận nhà nước VNDCCH là nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á có nghĩa là chủ nghĩa CS đã bành trướng đến Việt Nam nên ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh và các nước thế giới tự do công nhận chính phủ Quốc gia Bảo Đại. Đến thời điểm lịch sử này thì cuộc chiến Việt Nam đã chính thức chuyển sang cuộc chiến tranh ý thức hệ đối đầu giữa CS và Tư bản chứ không còn là chiến tranh giải phóng dân tộc nữa như đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam  vẫn tuyên truyền là có công giải phóng dân tộc. 

Hồi ký “ “Mẫu Mực sáng ngời của Chủ Nghĩa Quốc Tế Vô Sản” do La Quý Ba (Luo Guibo), Trưởng Đoàn Cố Vấn Chính Trị cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ 1951-1954, Đại Sứ Trung Quốc tại VNDCCH từ 1954-1975, xuất bản bởi Bắc Kinh năm 2002, đã xác nhận chính Hồ Chí Minh đã “Cõng rắn về  cắn gà nhà” khi họ Hồ năn nỉ Trung Quốc và Liên Sô công nhận cái gọi là Nhà nước VNDCCH. 

Lã Quý ba viết: vào thời điểm này, trên quốc tế chưa có một nước nào công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không có một tổ chức quốc tế nào đặt quan hệ với Việt Nam, Việt nam chưa giành được vị thế quốc tế, cũng không được viện trợ bên ngoài. Vấn đề viện trợ Việt Nam chống quân xâm lược thực dân Pháp như thế nào là một việc lớn mà lãnh đạo tối cao ba phía Trung Quốc, Việt Nam, Liên Xô trao đổi bàn bạc.” La quý Ba xác nhận rằng Hồ Chí Minh đã vội vã đề nghị các nước Xã Hội Chủ Nghĩa công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, mới đầu Liên Sô bác bỏ nhưng sau khi Trung Cộng công nhận VNDCCH ngày 14-1-1950 thì ngày 31-1-1950 Liên Xô mới công nhận VNDCCH. Đầu tháng 1-1950, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc xin được công nhận: “Hồ Chí Minh từ xa xôi nghìn trùng đến Trung Quốc, đi Liên Xô là để mong được sự viện trợ nhiều mặt, nhất là viện trợ về quân sự và kinh tế tài chính. Stalin cho rằng, Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam, hiểu rõ tình hình Việt Nam, còn Liên Xô và các nước Đông Âu chịu nhiều vết thương chiến tranh nặng nề trong chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô còn phải giúp đỡ các nước XHCN Đông Âu khôi phục và xây dựng, trên vai còn rất nặng gánh, mong rằng nhiệm vụ viện trợ Việt Nam, Trung Quốc là chính.”

 

La Quý Ba viết tiếp:

Tháng 1, 1950, Hồ Chí Minh đích thân bí mật đến Bắc Kinh, yêu cầu Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp. Trung ương đảng ta theo yêu cầu của Hồ chí Minh và Trung ương Đảng Đông Dương, đã báo cáo và được Mao Chủ Tịch đồng ý, quyết định cử tôi bí mật sang Việt Nam, làm đại diện liên lạc giữa Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc và Trung Ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Lưu Thiếu Kỳ còn tự tay viêt giấy giới thiệu cho tôi:

“Xin giới thiệu đồng chí La Quý Ba, Bí thư Tỉnh Ủy và chính ủy trong quân đội của chúng tôi đến chỗ các đồng chí làm đại diện liên lạc của Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đi theo có 8 tùy tùng.

Lưu Thiếu Kỳ , Bí Thư Trưởng Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, ngày 17/1/1950” 

La Quý Ba đại diện của đảng CSTQ làm cố vấn chính trị cho Đảng CSVN và tướng Trần Canh làm cố vấn quân sự. Mọi kế hoạch đều do Trần Canh vạch ra và chỉ đạo trực tiếp. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp, La Quý Ba nhận xét:

Bước đầu tiên viện trợ Việt Nam là phải khai thông giao thông biên giới Trung-Việt, vì có thế vật tư viện trợ Việt Nam mới có thể chở sang Việt Nam thuận lợi. Chỉ cần quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm con đường giao thông chủ yếu trên biên giới Trung-Việt thì quân Pháp sẽ mất ưu thế số một. Chỉ có hai lựa chọn khai thông con đường giao thông chủ yếu biên giới Trung-Việt: một là đánh Cao Bằng tiếp giáp giữa Việt Nam và Quảng Tây; một nữa là đánh Lào Cai tiếp giáp giữa Việt Nam và Vân Nam. Đánh Cao Bằng trước hay đánh Lào Cai trước, hay là đánh cả hai cùng một lúc, Trung Ương đảng Cộng Sản Đông Dương và Trung Ương đảng ta đều đã điều tra nghiên cứu, suy nghĩ trao đổi nhiều lần gần 3 tháng. Ngày 02/07/1950, Mao Chủ Tịch gửi điện trả lời Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam:

“Đồng ý ý kiến đánh Cao Bằng trước, phương án tác chiến cụ thể đối với Cao Bằng, chờ sau khi Trần Canh đến, do các đồng chí quyêt định cuối cùng….”. Tài liệu này đã xác nhận một sự thật lịch sử là Trần Canh chính là nhân vật cố vấn tối cao về chiến tranh Việt Nam, không phải Võ Nguyên Giáp cũng không phải Hồ chí Minh. Dĩ nhiên, Mao Trạch Đông là lãnh tụ cao nhất. Quân Ủy và Bộ Chính Trị Trung Cộng giữ vai trò chỉ đạo từ Bắc Kinh. La quý Ba kể thêm về sự khẩn nài của Hồ Chí Minh như sau:

“Mùa đông năm 1951, Hồ Chí Minh một lần nữa bí mật đến Bắc Kinh thăm Trung Quốc.”

Sau khi kể về việc ôm hôn thắm thiết, La Quý Ba cho biết:

“Trong trao đổi, Hồ chí Minh hỏi Mao Chủ Tịch:

“Bộ Chính Trị Trung Ương chúng tôi yêu cầu đồng chí La Quý Ba khi tham gia hội nghị Bộ Chính Trị Trung Ương chúng tôi nêu nhiều ý kiến về các mặt công tác của chúng tôi, giúp đỡ nhiều cho chúng tôi. Nhưng đồng chí quá thận trọng, quá khiêm tốn. Tôi mong các đồng chí giao cho đồng chí ấy nêu nhiêu ý kiến. Mao Chủ Tịch, các đồng chí có đồng ý không?”. Sự kiện này xác nhận một lần nữa vai trò của La Quý Ba chỉ đạo bộ chính tri của đảng CSVN.

Hồ Chí Minh còn đóng kịch là một đệ tử chân thành: “Hồ chí Minh là người rất giầu tình cảm, nhìn thấy rõ người bị truyền cảm bởi sự chân thành của Mao Chủ Tịch, Người đứng dậy nói:
“Tôi và các đồng chí Việt Nam đều cảm nhận sự chân thành giúp đỡ chúng tôi từ trong hành động của các đồng chí”.

La quý Ba còn kể nhiều chi tiết  mọi sinh hoạt của đảng Cộng Sản Việt Nam đều được chỉ thị của Trung Cộng: “Dù là điện của Trần Canh, Vi Quốc Thanh và tôi xin chỉ thị của Mao Chủ Tịch, Trung Ương Đảng hay chỉ thị của Mao Chủ Tịch, Trung Ương đảng đối với chúng tôi, dù là bức điện về mặt tác chiến (như chiến dịch Biên Giới, chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Tây Bắc. v.v..) xây dựng bộ đội và huấn luyện bộ đội, hay là những bức điện vấn đề quan trọng về mặt xây dựng tư tưởng và xây dựng tổ chức của Đảng, công tác tài chính kinh tế, công tác cải cách ruộng đất, viện trợ quân sự, viện trợ tài chính kinh tế và công tác công an, tình báo, dân tộc thiểu số..v.v.. Mao Chủ Tịch đều đích thân phê duyệt, sửa chữa, ký cho chuyễn đi, trong đó có những bức điện đặc biệt quan trọng, Mao Chủ Tịch tự khởi thảo, khi trả lời các bức điện của Hồ Chí Minh, Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam trưng cầu ý kiến Trung Ương Đảng hoặc các bức điện quan trọng của Mao Chủ Tịch, Trung Ương Đảng nêu ý kiến hoặc kiến nghị với Hồ Chí Minh…”.

Sự thật lịch sử này đã phơi bầy rõ rang Đảng CSVN trên thực tế là một chi bộ của đảng CSTQ, cánh tay nối dài của  Trung Cộng để thực hiện ý đồ xâm chiếm VN và các nước Đông Nam Á.

 

     Sau hơn 30 năm, chúng ta mới biết cả Liên Xô Trung Cộng lẫn Bắc Triều Tiên đều tham chiến ở Việt Nam. Sự thật lịch sử này được một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ phát biểu như sau: 

Những vòng hoa nơi này là của người Việt Nam mang đến, người dân nơi đây rất kính trọng các liệt sỹ của chúng ta. Trong giai đoạn giúp Việt chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đã vì Việt Nam mà đóng góp không biết bao nhiêu tài lực, nhân lực, vật lực, pháo binh, công binh, nhân viên đường sắt, nhân viên thư tín, hải quân, không quân, hậu cần vận tải … 16 chi đội (trong quân sự TRUNG QUỐC tương đương với trung đoàn, hoặc sư đoàn), hơn 30 vạn người ở Việt Nam trong hơn 3 năm 9 tháng đấu tranh. Tác chiến đối không 2153 lần, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ, bắt sống 42 phi công Mỹ, viện trợ Việt Nam xây dựng Hải Phòng, Hòn Gai, các thành phố duyên hải và xây dựng hệ thống phòng ngự ở tam giác châu thổ sông Hồng, tu sửa và xây dựng các tuyến đường huyết mạch, sân bay, tuyến đường sắt đông tây, mở đường trên biển và chi viện cho đường mòn Hồ Chí Minh.

 

      Từ năm 1950 đến năm 1978, TQ đã viện trợ cho Việt Nam hơn 200 tỷ mỹ kim, và trong đó đến 93% là viện trợ không hoàn lại, đó là chưa kể xương máu mà 1446 chiến sỹ đã hy sinh, 4200 người trọng thương… những hy sinh đó tuyệt đối không thể tính được bằng tiền“.

 

     Một câu hỏi được đặt ra cho tất cả những người Việt Nam yêu nước là tại sao các nước bị thực dân cai trị đã lần lượt được trả tự do ngay từ thập niên 1950, trong khi dân tộc Việt lại bị đưa vào cuộc chiến tranh ý thức hệ để gần một chục triệu người dân vô tội phải hy sinh một cách oan uổng, hàng chục triệu gia đình Việt Nam ly tán và cho đến ngày nay, đất nước Việt Nam nghèo nàn chậm tiến nhất thế giới ? Chính Hồ Chí Minh, cán bộ của đệ tam quốc tế CS đã rước voi về giầy mả Tổ, đưa dân tộc Việt vào một cuộc chiến tương tàn khốc liệt. Đảng CSVN và cá nhân Hồ Chí Minh chính là tội đồ của dân tộc Việt Nam. 

Năm 1966, Pháo binh và Thiết đạo binh (Công binh) Hồng quân TC tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan trước khi tiến vào lãnh thổ VN giả dạng quân đội nhân dân VN để chiến đấu chống các cuộc oanh tạc của không lực HK. Hướng về Trung Quốc đồng thanh hô lớn: “Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!”. Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ Hồng quân TC.

TRUNG CỘNG 

ĐẾ QUỐC MỚI CỦA THỜI ĐẠI

KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP CỦA DÂN TỘC

     Sau khi “Bành trướng bá quyền Bắc Kinh” xua quân tiến đánh CVN ngày 17-2-1979. Nhà nước CHXHCNVN cho ấn hành quyển “Sự thật về quan hệ Việt Nam Trung Quốc 30 năm qua”. Bạch thư của nhà nước CHXHCNVN đã thừa nhận một sự thật phũ phàng như sau:

     “Ngay sau khi Mao Trạch Đông chiếm được Trung Hoa lục địa đã công khai tuyên bố:

Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã bị phe Đế Quốc chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Cách Mạng 1911, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam (Việt Nam), Hồng Kông, Macao cùng những đảo tại Thái Bình Dương như Sakhalin, Đài Loan, Bành Hồ sẽ phải được giao hoàn cho Trung Quốc“.

    Trung Cộng vẫn gọi nước ta là An Nam An Nam, là Man di như “Thiên triều” Đại Hán xa xưa của chúng. Tháng 8 năm 1965, Mao Trạch Đông tuyên bố trắng trợn ý đồ xâm chiếm Việt Nam được ghi rõ trong quyển “Cách Mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc” xuất bản ở Bắc Kinh năm 1954 như sau: 

Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”.

     Đế quốc đỏ Trung Cộng còn láo xược gọi chúng ta là Chúng còn ngang nhiên vẽ bản đồ Trung Quốc bao gồm nhiều nước chung quanh kể cả Đông Nam Á và biển Đông.

     Một tài liệu mật mới được chính các đảng viên cao cấp đảng CSVN tiết lộ thì trong một cuộc họp mật giữa Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 VN, viên Chánh Ủy TCTB Hoa Nam đã tuyên bố công khai trịch thượng rằng:

 “ Việc Hợp kết Trung Quốc VN là một mốc lịch sử vĩ đại trên đường phát triển của tổ quốc… Việc VN trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn. Trong lịch sử, VN từng là quận, huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đạị thụ Trung Hoa …

.. Đa số tướng lĩnh Việt Nam là ngươì của ta, do ta đào tạo, cất nhắc. Công này là của nguyên chủ tịch Lê đức Anh, ngươì rất biết nhìn xa trông rộng …

… Một khi VN đã nhập vào TQ thì vùng Tây nguyên của VN là của chung nước ta”… Trong thời đại hiện nay, sự sát nhập trở lạị của VN và toàn bán đảo Dông Dương tiếp theo là điều tất yếu… TQ và VN là một. Đó là chân lý đờì đờì. Đó cũng là lờì của Hồ đồng chí (tức Hồ chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng CSTQ và Nông đồng chí (tức là đồng chí Nông đức Mạnh từng tự hào nhận mình là ngừơi Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gở các đại biểu trong Quốc vụ viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc TQ.”

     Lịch sử Việt kể từ thời lập quốc đã bị Hán tộc xâm lấn đẩy lùi dân tộc Việt xuống phương Nam. Sau khi xâm chiếm Nam Việt năm 111TDL, Hán tộc đã thống trị nước ta  gần 1 ngàn năm. Năm 938, Ngô Quyền đại thắng trên sông Bạch Đằng mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của Việt tộc.Bản chất xâm lược bành trướng của đê quốc “Đại Hán” ngày xưa và siêu đế quốc Trung Cộng ngày nay không bao giờ thay đổi đã chứng minh rằng, cái mà nhà nước CS vẫn tuyên truyền rêu rao về tình hữu nghị, tình đồng chí 16 chữ vàng, chính là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. 

CHỦ TRƯƠNG XÂM LƯỢC CỦA TÀU CỘNG 

     Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Trung Cộng công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo.

     Ngày 21 tháng 1 năm 1950 Liên Xô công nhận VNDCCH là nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Chủ nghĩa Cộng sản đã tràn tới Việt Nam nên ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh công nhận chính phủ Quốc gia Bảo Đại để ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á. 

     Ngay sau khi công nhận, Trung Cộng cử tướng Hồng quân TQ là Lã Quí Ba sang làm Tổng Cố vấn cho Bộ chính trị Đảng CSVN. TC gửi quân và vũ khí chi viện tối đa cho đảng CSVN thi hành nhiệm vụ bành trướng chủ nghĩa cộng sản xuống phương Nam, đánh chiếm miền Nam Việt Nam mở đường thông thương ra biển Nam cho đế quốc Trung cộng. Chính đảng cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc vào một cuộc chiến tranh ý hệ đối đầu giữa tư bản và cộng sản để lại một hậu qủa là hàng triệu người Việt Nam vô tội đã phải hy sinh và một đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu nhất thế giới.

     Ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước được ký kết do CS thỏa hiệp chia đôi đất nước với Tư bản giữa lúc phong trào kháng chiến đang thắng lợi.

     Ngày 20 tháng 12 năm 1960, VNDCCH thành lập mặt trận Giải phóng miền Nam theo chỉ thị của Bắc Kinh để mở đầu cho kế hoạch xâm chiếm miền Nam của Mao Trạch Đông. 

     Năm 1972, Hoa Kỳ và Trung Cộng lại thỏa hiệp cấu kết ký hiệp ước Thượng Hải để Hoa Kỳ rút chân ra khỏi VN sau khi đã tách TC ra khỏi Liên Xô.

     Năm 1974, Hoa Kỳ đã  làm ngơ  để Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kisinger bật đèn xanh cho ngoại trưởng TC Chu Ân Lai để Cộng sản Việt Nam vi phạm Hiệp định Paris đem quân xâm chiếm miền Nam ngày 30-4-1975.

     Sau khi chiếm toàn bộ miền Nam, ngày 2 tháng 7 năm 1976 đặt tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đảng CSVN chính thức đổi tên đảng lao động trở lại là đảng CSVN.

KẾ HOẠCH XÂM LƯỢC VIỆT NAM

    Để thực hiện ý đồ này, Trung Cộng đã lần lượt thực hiện lộ trình chín bước chiến lược tiến chiếm Việt Nam, Đông Dương và cả vùng Đông Nam Á như sau:

1. Lập kế hoạch và viện trợ cho VNDCCH thực hiện công trình xây dựng xa lộ Trường Sơn trong “Chiến lược Trường Sơn” của Mao Trạch Đông đề ra năm 1953.

2. Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh, Lạng Sơn và Hà Nội, thiết lập thiết lộ và xa lộ nối liền Côn Minh, Hà Nội, Hải Phòng. 

3. Thực hiện “Chiến lược Trường Sơn”: Trung Quốc đã viện trợ không hoàn lại cho các quốc gia lân cận để xây dựng những con đường chiến lược xuyên suốt Đông Dương:

     – Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Quảng Trị. Con đường nầy đã được nối qua sông Cửu Long và kéo dài đến hải cảng phiá Tây của Thái Lan là Mawlamyine.

 – Cuối năm 2008, Trung Quốc đã hoàn tất công trình tu sửa và mở rộng quốc lộ 13 nối liền Bắc Nam của Lào.

     – Trung Quốc cũng đang tu sửa và mở rộng quốc lộ 7 xuyên Cambodia từ Nam Lào đến hải cảng Sihanoukville ở vịnh Thái Lan. 

     Như vậy, từ nay, những tỉnh phía Tây TQ đặc biệt là Vân Nam, trung tâm công nghệ hoá chất hàng đầu, được nối liền ra ba cửa ngõ Thái Bình Dương và vịnh Thái Lan. Hàng hóa Trung Quốc đã chuyên chở qua những con đường này để trao đổi xuất nhập cảng với thế giới bên ngoài. Những con đường xuyên suốt Đông Dương này sẽ trở thành những con đường chiến lược quân sự khi TC phát động chiến tranh xâm lược các nước Đông Dương và Đông Nam Á.

4. Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất để cung cấp cho Trung Quốc.

5. Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy. Trong khi đó, Trung Quốc xây dựng hàng loạt đập thủy điện trên thượng nguồn sông Cửu Long nằm trong lãnh thổ Trung Quốc để kiểm soát mực nước của các quốc gia nằm ở vùng hạ lưu sông Cửu Long như một hình thức khống chế để bắt các nước này phải lệ thuộc vào đế quốc Trung Cộng trên mọi phương diện.

6. Miễn chiếu khán cho du khách Trung Quốc vào tận mũi Cà Mâu để khi cần thiết sẽ có sẵn đội quân gỉa dạng du lịch ngay trong lòng đất nước Việt Nam.

 7. Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Cao nguyên miền Nam Việt Nam. Trung Quốc bắt đầu xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắc Nông, nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Quốc cung cấp. Vùng này được đặt dưới sự quản lý về an ninh của Trung Quốc để tìm kiếm mỏ uranium bí mật xây dựng lò nguyên tử trên lãnh thổ VN, mặt khác vũ khí  dễ dàng chuyên chở đạn dược đến cất giấu ở cao nguyên chuẩn bị cho cuộc xâm lăng quân sự khi cần thiết. TC cũng viện trợ để làm hệ thống đường sắt từ cao nguyên xuống Bình Thuận để chuyên chở bauxite bằng đường biển về Trung Quốc.

 8. Xây dựng căn cứ quân sự qui mô trên đảo Hải Nam, Hoàng Sa và Trường Sa để sẵn sàng xuất kích đổ bộ phối hợp với chiến lược chia cắt từ cao nguyên để chiếm toàn bộ Việt Nam.

 9. Từ cao nguyên chạy xuống duyên hải Trung Việt khống chế biển Đông và từ Vân Nam chạy thẳng xuống Sihanoukville (Cambodia), Mawlamyine (Miến Điện) vịnh Thái Lan khống chế eo biển Mallacca bảo vệ hải lộ huyết mạch từ Châu Phi qua Mallacca vào biển Đông khi xảy ra chiến tranh.

     Hàng ngàn công nhân TC sẽ trở thành hàng ngàn tay súng cùng với hàng chục ngàn du khách Trung Quốc có mặt ở Việt Nam bất cứ lúc nào thì đến một thời điểm nào đó, TC sẽ có cả chục sư đoàn Hồng quân chiếm giữ cao nguyên, khống chế chia cắt Việt nam ra từng mảnh. Từ vị trí chiến lược cao nguyên kết hợp với hải quân TC từ các căn cứ Hải quân ở Hoàng Sa, Trường Sa  đánh chiếm miền ven bể thì sự sống còn của dân tộc như sợi chỉ treo chuông. Đây là một hiểm họa không lường được ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc.

    Bên cạnh vị trí địa lý chiến lược, cao nguyên còn tiềm tàng trong lòng đất hàm lượng phóng xạ Uranium chưa được khai thác. Không phải tình cờ mà thực dân Pháp xây dựng lò nguyên tử ở Đà lạt và Nhật Bản bỏ ra cả tỉ mỹ kim để xây dựng đập thủy điện Đa Nhim. TC sẽ ngầm xây dựng một lò nguyên tử bí mật trên đất Việt mà chúng ta sẽ phải nhận lãnh thảm họa khi chiến tranh thế giới lần thứ ba xảy ra? 

TRUNG CỘNG 

ĐỘC CHIẾM BIỂN ĐÔNG

– Năm 1992, Quốc hội TC ban hành đạo luật tuyên bố chủ quyền. Tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua phải xin phép, nếu không sẽ bị đánh chìm. Tháng 5-1992, TC ký khế ước với công ty khai thác dầu Crestone trên 1 diện tích 25.000 cây số vuông. 

– Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lãnh hải mới của TC. Tháng 6 năm 2007, đế quốc Trung Cộng đã công khai chiếm lĩnh biển Đông của Trung Cộng bằng việc phổ biến một bản đồ vẽ vùng lưỡi bò trong biển Đông của Việt Nam kéo dài xuống giáp ranh Phi Luật Tân, Nam Dương … bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lãnh hải mới của TC. 

    Trung Quốc đã ngang ngược đưa ra quyền khám phá và sự hành xử liên tục chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường sa là Trung Quốc đã khám phá ra 2 quần đảo này thời Hán năm 206TDL và những sinh hoạt của người TQ thời Tống vào thế kỷ XIII.

– Sách Dị Vật chí đời Hán viết một cách chung chung, không diễn tả cụ thể một đảo nào: “ Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm va băng cát tại Nam Hải, nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm”.

 – Sách Zuo Zhuan viết vào thời Xuân Thu: “ Triều đại vẻ vang của Chu trấn an dân Man Di để viễn chinh vùng Nam Hải (đảo) để làm sở hữu cho Trung Hoa”.

 – Sách Chư Phiên Chí viết vào thế kỷ XI I I chỉ ghi “ Phía Đông Nam Hải là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường và ngoài nữa là những đại dương vô tận”.

 – Sách Hải Lục của Hoàng Chung đời Minh chép: “Vạn Lý Trường Sa ở phía Đông của Vạn Lý Thạch Đường”.

 – Sách Hải Lục của Vương Bình Nam (1820-1842) viết “Lộ trình phía ngoài được nối liền với lộ trình phía trong bời Vạn Lý Trường Sa nằm giữa biển. Chiều dài của các quần đảo khoảng vài chục ngàn dặm. Nó là bức màn phòng thủ phía ngoài của nước An Nam”. Tuy Trung Quốc viện dẫn sách này nhưng chính tác giả Vương Bình Nam lại xác nhận 2 quần đảo này là của Việt Nam.

 – Năm 1950, Trung Quốc đem quân xâm chiếm đảo Phú Lâm trong nhóm đảo An Vinh của VNCH. 

     Lần đầu tiên Nhân dân nhật báo ngày 5-6-19556, Quang Minh nhật báo ngày 7-6-1956, Trung Quốc đã đưa ra một số chứng cứ lịch sử biện minh cho việc chứng tỏ chủ quyền của TQ trên 2 quần đảo nói trên. Đồng thời Trung Quốc cũng tuyên bố Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã xác định chủ quyền của họ qua lời tuyên bố của Ung văn Khiêm, Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao ngày 15-6-1956 với Đại Lý Sự vụ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Li Zhimin rằng: “Theo những tài liệu của Việt Nam, trên phương diện lịch sử, Xisha và Nansha là phần đât thuộc lãnh thổ Trung Quốc”.

     Đặc biệt là sau khi CHNDTH tuyên bố là chủ biển Đông ngày 4-9-1958 thì ngày 14-9-1958, Phạm văn Đồng Thủ Tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức gửi công hàm ngoại giao cho Chu Ân Lai, Thủ Tướng CHNDTH như sau: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.

– Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Cộng huy động toàn bộ lực lượng Không quân và Hạm đội Nam Hải của Hải quân tấn công xâm chiếm khu Nguyệt Thiềm phía Tây quần đảo Hoàng sa và tuyên bố làm chủ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa mà TC gọi là Tây Sa quần đảo.

 – Sau khi xâm chiếm Hoàng Sa, “Học Thời sự Văn Hối báo” và “Thất thập niên Đại nguyệt san” ấn hành số tháng 2,3 và 4 năm 1974 đưa ra những chứng cứ bênh vực cho việc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa. Tề Tân, một học giả của TQ đã viết bài “Nam Hải chư đảo đích chủ quyền dư? Tây Sa quần đảo chi chiến” đã dẫn chứng một số cứ liệu sau: “Vào đời Nam Bắc Triều trong bài Vu Thành phú của Bảo Chiếu có câu Nam tri Thương Ngô Trướng hải, Bắc tấu tử tái Nhạn môn” để chứng minh rằng lãnh thổ của TQ từ biển Trướng hải ở phía cực Nam đến phía cực Bắc nước Tàu. Biển Trươớg Hải theo Tề Tân là gồm cà 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa !!! Ngoài ra, Tề Tân còn viện dẫn một số sách sử của TQ có nói tới Tây Sa và Nam Sa như:

 . Sách Chư Phiên chí của Triệu Nhữ Quát viết “Đời Đường năm 789, triều Đường đặt Quốc Phủ ở Quỳnh Sơn và ở phía Đông Hải Nam có Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch sang biển cả mênh mông, trời đất một màu, tàu bè qua lại phải dùng kim chì Nam, ngày đêm phải giữ gìn cẩn thận nếu không lỡ ra có thể nguy đến tính mạng …”.

 . Sách Tống Sử Ký Sự Bản mạt viết “Nguyên Tướng Lưu Sâm tấn công nhà vua ở vịnh Thiển Loan, Trương Thế Kiệt đánh không lại, phù tá nhà vua chạy đi núi Tú Sơn đến vịnh Tỉnh Áo, nhà vua chạy ra eo biển Tạ Nữ (Hiệp), rồi ra biển đến Thất Li Dương có ý muốn qua Chiêm Thành nhưng không được …”.

 . Nguyên sử quyển 162 viết “Năm 29, Sử Bật cùng với 5 ngàn người họp quân xuất phát đi Tuyền Châu gặp sóng to gió mạnh, thuyền bè tròng trành, sĩ tốt mấy ngày không ăn uống được. Qua khỏi Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường tới địa giới của Giao Chỉ và Chiêm Thành …”.

 . Vũ Bị chí của Mao Nguyên Nghi đời Minh viết “Niên hiệu Tuyên Đức từ năm 1405 đến 1433, Trịnh Hòa 7 lần xuống Tây Dương đã từng qua Vạn Lý Thạch Đường”. Theo Tế tân, Vạn Lý Thạch Đường tức Nam Sa quần đảo nơi cao nhất đã đào bới được thứ tiền đồng niên hiệu Vĩnh Lạc. Hiện nay vẫn còn tên đảo Tuyên Đức và Vĩnh Lạc chứng tỏ cách đây hơn 500 năm đã có người TQ cư trú ở đó rồi.

. Sách Hải Quốc Kiến văn Lục và Lý Chuẩn Tuần hải Ký đời Thanh, niên hiệu Quang Tự năm 28 tức năm 1904,  tháng 4 triều đình có phái Thủy sư Đề Đốc Lý Chuẩn chỉ huy 3 chiến hạm Phuc Ba tới các đảo trên biển Nam hải điều tra tình hình và thượng cờ Hoàng long và bia đá trên đó. 

. Năm 1911, tỉnh Quảng Đông xuất bản địa đồ ghi rõ các đảo trên biển Nam Hải là một bộ phận của tỉnh Quảng Đông TQ. 

     Trung Quốc còn đưa ra luận điệu cho rằng mãi tới đầu thế kỷ XIX, vua An Nam mới phái Hải quân tới khai phá quần đảo Paracels và Hội nghị Cựu Kim Sơn San Francisco TQ không phản đối vì họ không tham dự. Ngày 15-8-1951 ngoại Trưởng Chu Ân Lai lên tiếng thanh minh và nhấn mạnh quần đảo Tây Sa và đảo Nam Uy cũng như quần đảo Nam sa đều thuộc về lãnh thổ TQ.

– Năm 1991, Wang Hengjie thuộc trung tâm nghiên cứu về các sắc tộc thiểu số đã dẫn sách “Hậu Hán thư” viết : “Chen Mao được bổ nhiệm làm quan Thái Thú tỉnh Giao Chỉ (Jiaozchi) đã thám thính, tuần tiễu trên biển Nam Hải”.

 – Trung Quốc và các học gỉả TQ đã viện dẫn Hiệp Ước Pháp-Thanh 1887 để cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Họ trích một đoạn trong văn bản:“Từ Quảng Đông, những điểm tranh chấp nằm từ phía Đông đến phiá Tây Bắc của Móng Cái, ngoài biên giới đã được 2 phái bộ xác định, có thể xem là thuộc về Trung Quốc. Những hòn đảo nằm ở phiá Đông dọc đường kinh tuyến Đông 10543’ của Paris, có nghĩa là trục Bắc Nam đi qua điểm phiá Đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm ở phía Tây của đường kinh tuyến thuôc về An Nam …”. Từ đó họ cho rằng Hoàng sa, Trường Sa nằm ở phía Đông kinh tuyến Đông 10543’ của Paris nên thuộc về Trung Quốc.

 – Năm 1992, Quốc hội TC ban hành đạo luật tuyên bố chủ quyền. Tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua phải xin phép, nếu không sẽ bị đánh chìm. Tháng 5-1992, TC ký khế ước với công ty khai thác dầu Crestone trên 1 diện tích 25.000 cây số vuông.

 – Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lãnh hải mới của TC.

 – Tháng 11 năm 2007, Trung Cộng chính thức công bố quyết định thành lập Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý 2 quần đảo này.     

 Tuyên bố ngang ngược của TC tháng 6 năm 2007 về chủ quyền Lãnh hải chiếm gần hết biển Đông

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: