NHÌN LẠI CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

LTS: Cuộc chiến Việt Nam đã xem như chấm dứt được ba mươi bảy năm nhưng vẫn còn để lại những “Hội Chứng Việt Nam” trong lòng tất cả con dân nước Việt. Cho đến ngày nay, kể cả những người từng tham dự cuộc chiến, cầm súng chiến đấu vẫn không nhận chân được vấn đề là bản chất của cuộc chiến Việt Nam? Chiến tranh Việt Nam có phải là cuộc chiến để giành độc lập dân tộc như Cộng Sản Việt Nam vẫn rêu rao tuyên truyền? Thật vậy, đồng bào miền Bắc nhất là các đảng viên đoàn viên bị nhồi nhét tuyên truyền “Bác Hồ” là người yêu nước và đảng Cộng sản Việt Nam có công giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp. Trong khi đó, Đồng bào trong Nam thì chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh ý thức hệ để ngăn chặn làn sóng đỏ, bảo vệ miền Nam tự do. Đối với đa số quần chúng nhân dân thì hiểu đơn giản là cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn. Thật vậy, đối với quần chúng và nhất là giới nghệ sĩ thì đó là một cuộc nội chiến tương tàn “Ba mươi năm nội chiến từng ngày …” nồi da xáo thịt “Người chết hai lần … thịt da nát tan …!” khiến 4 triệu đồng bào Việt Nam ở miền Bắc đã hi sinh cho một cuộc chiến vô nghĩa. Sở dĩ CSVN còn tồn tại tới giờ này vì đa số đảng viên CS tuy thất vọng về tập đoàn lãnh đạo Việt gian CS nhưng vẫn còn biện minh, bám víu vào luận điểm cho rằng HCM và đảng CSVN có công giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Một khi biết rõ sự thật lịch sử thì họ sẽ cùng với toàn dân đứng lên chuyển đổi lịch sử trong nay mai.

     Chính vì vậy, chúng ta phải tìm hiểu bản chất của cuộc chiến hay nói cách khác, hiểu rõ ý đồ của các thế lực quốc tế toan tính những gì trên xương máu mồ hôi và nước mắt của toàn dân Việt Nam, từ đó chúng ta mới thấy rõ toàn bộ vấn đề. Để hiểu rỏ bản chất cuộc chiến Việt Nam, với tư cách một người nghiên cứu lịch sử trên quan điểm dân tộc, chúng tôi chỉ đưa ra những nhận định trung thực không nhằm mục đích tuyên truyền cho một chế độ nào, một đảng phái chính trị nào. Chúng ta cùng lược duyệt các sự kiện lịch sử trọng yếu, các hiệp ước quốc tế liên quan đến Việt Nam đối chiếu với thực tế chính trị sau đây:

– Hiệp Ước Patenôtre 1884 ký kết ngày 6-6-1884 giữa triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp qui định Nam Kỳ Tự trị và Pháp chính thức áp đặt chế độ bảo hộ Bắc và Trung Việt Nam.

– Ngày 9-3-1945, Quân Phiệt Nhật lật đổ Thực dân Pháp. Ngày 11-3-1945, Cơ Mật Viện triều Nguyễn họp khẩn cấp và ra tuyên bố “Huỷ bỏ Hiệp ước 1884 và Khôi phục chủ quyền cuả  Việt Nam”. Ngày 12-3-1945, Cao Miên tuyên bố độc lập và ngày 15-4-1945, Lào tuyên bố độc lập. Ngày 8-5-1945, Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố chương trình Hưng Quốc, lá cờ “Quẻ Ly” được chọn làm quốc kỳ và bài “Đăng Đàn” của triều đình nhà Nguyễn được chọn làm quốc ca.

– Ngày 17-8-1945, Tổng hội giáo giới tổ chức cho công chức Hà Nội biểu tình để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc biểu tình diễn hành qua các đường phố thì cán bộ CS trương cờ đỏ sao vàng biến cuộc biểu tình của công chức thành biểu tình ủng hộ mặt trận Việt Minh. Ngày 19-8-1945, biểu tình lớn tại nhà hát lớn Hà Nội, mặt trận Việt Minh xuất hiện cùng với cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi. Việt Minh “Cướp Chính quyền”, chiếm các công sở trong thành phố. Ngày 22-8-1945, Mặt Trận Việt Minh chính thức xuất hiện tại Hà Nội và Sài Gòn. Vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị.

– Ngày 2-9-1945, Hồ Chí  Minh độc “Tuyên ngôn Độc lập” và trình diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hà Nội. Ngày 11-11-1945, Đảng CS Đông Dương tuyên bố tự giải tán để trở thành “Nhóm Nghiên cứu Mác Xít”.

– Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh ký kết hiệp ước sơ bộ với Pháp cho phép quân Pháp đổ bộ vào Bắc bộ thay thế quân đội Trung Hoa hậu thuẫn cho Việt Nam Quốc Dân Đảng để rảnh tay tiêu diệt đối thủ là VNQD. Ngày 19-12-1946, Chiến tranh Việt Pháp bùng nổ bắt đầu từ Hà Nội.

– Ngày 5-6-1948 công bố bản Tuyên ngôn Vìệt Pháp trên chiến hạm Duguay-Trouin tại vịnh Hạ Long giữa Cao Ủy Pháp Émile Bollaert và Thủ tướng Lâm thời Nguyễn văn Xuân. Tuyên ngôn vịnh Hạ Long minh định Pháp quốc thừa nhận Việt Nam là một quốc gia Độc lập và thống nhất trong Liên Hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết.

-. Ngày 14-1-1950, nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc chính thức thừa nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ngày 31-1-1950, Liên bang Sô Viết thừa nhận Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chính thức đứng vào hàng ngũ các nước cộng sản nên Trung Quốc bắt đầu công khai viện trợ vũ khí tối tân cho VNDCCH.

-. Ngày 7-2-1950, Hoa Kỳ, Anh quốc thừa nhận quốc gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa CS xuống Đông Nam Á. Kể từ thời điểm này, cuộc chiến Việt Nam không còn là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mà đã trở thành cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa 2 hệ thống tư tưởng: Chủ nghĩa CS và chủ nghĩa Tư Bản của thế giới tự do.

-. Ngày 20-7-1954, Ký kết thỏa ước ngưng bắn giữa Giữa Pháp và Việt Minh. Tuyên bố chung kết Hội nghị Genève qui định các điều khoản chính trị về việc tạm thời chia đôi đất nước và tổ chức Tổng tuyển cử được Anh, Pháp, Ai Lao, Trung Quốc, Liên Sô, Cambodia và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa thuận. Tuyên bố Chung kết không được thi hành vì Hoa Kỳ không thỏa thuận và không hỗ trợ Tuyên bố Chung này. Ngay khi các bên vừa đặt bút ký kết hiệp định, Ngoại trưởng Trần văn Đỗ khóc và tuyên bố Chính phủ Quốc Gia Việt Nam phản đối việc ký kết hiệp định đình chiến trái với nguyện vọng độc lập và thống nhất của dân tộc Việt Nam cũng như sự lạm quyền của Tổng tư lệnh Pháp tự ý ấn định ngày tổng tuyển cử… Tuy nhiên, Việt Nam cũng cố gắng hoan nghênh mọi nỗ lực để tái lập hòa bình và không dùng võ lực để cản trở việc thi hành hiệp định”.

– Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Cộng tuyên bố quyền làm chủ biển Đông. Ngày 14-9-1958, Thủ tướng VNDCCH gửi thư cho Thủ tướng quốc vụ viện Chu Ân Lai “Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

– Mao Trạch Đông tuyên bố trắng trợn ý đồ xâm chiếm Miền Nam Việt Nam như sau: Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”. CSVN nhận chỉ thị phát động cuộc chiến tranh “Giải phóng” miền Nam VN. Tháng 4 năm 1959, Ủy ban Trung ương đảng họp lần thứ 15 quyết định dùng vũ lực xâm chiếm miền Nam Ngày 20-12-1960: Hà Nội công bố Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam do LS Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch.

– Ngày 27-1-1973 Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã ký HIỆP ĐỊNH CHẤM DỨT CHIẾN TRANH VÀ TÁI LẬP HÒA BÌNH TẠI VIỆT NAM Hiệp Định Hòa Bình Paris nhằm “kết thúc chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam”. Vào lúc ký hiệp định, VNCH kiểm soát 75% lãnh thổ và 85% dân số.

Điều 15 qui định “Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Nam và Miền Bắc, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào, thời gian thống nhất sẽ do Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam đồng thỏa thuận.

 TNG KT CUC CHIN TRANH VIT NAM   

    Việt Nam với bờ biển dài như hình chữ S nhìn ra biển Đông Thái Bình Dương, khống chế toàn bộ hải trình từ Đông sang Tây và ngược lại nên được xem như “ngã tư giao thương quốc tế”. Ngoài vị trí “địa lý chiến lược” hết sức quan trọng, Việt Nam còn có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một hải phận rộng 1 triệu km2 với trữ lượng dầu hỏa tiềm tàng đã khiến các cường quốc luôn tìm mọi cách xâm chiếm, can thiệp vào Việt Nam. Lịch sử cận đại chứng minh khu vực Đông Nam Á nói chung và Đông Dương nói riêng là một khu vực địa lý-chính trị và quân sự nên cuộc chiến tranh ở Việt Nam kéo theo cả Đông Dương (Việt, Miên, Lào) và cả khối Đông Nam Á trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo ở vùng này.

    Ngày 3-2-1930 Hồ Chí Minh thành lập đảng CSVN đến tháng 10-1930 theo chỉ thị của Cộng sản quốc tế đổi tên là đảng Cộng Sản Đông Dương. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh thực dân Pháp. Ngày 11-3-1945, Cơ Mật Viện triều Nguyễn họp khẩn cấp và ra tuyên bố “Huỷ bỏ Hiệp ước 1884 và Khôi phục chủ quyền cuả  Việt Nam”. Ngày 12-3-1945, Cao Miên tuyên bố độc lập và ngày 15-4-1945, Lào tuyên bố độc lập. Như vậy, Việt Nam trên nguyên tắc đã chính thức độc lập kể từ ngày 11-3-1945 với chính phủ Trần Trọng Kim đầu tiên trong lịch sử. Cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp mà Cộng Sản phát động dưới danh nghĩa giải phóng các dân tộc Việt Miên Lào trong thực chất là để bành trướng chủ nghĩa  Cộng Sản, nhuộm đỏ cả Đông Dương để mở đường cho Trung Cộng tiến xuống Đông Nam Á. Ngày 14-1-1950, Trung Quốc công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 31-1-1950 Liên Sô công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa là nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á nên ngày 7-2-1950, Anh, Hoa Kỳ và các nước tự do công nhận chính phủ quốc gia Bảo Đại. Hồ Chí  Minh lãnh đạo chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chính thức đứng vào hàng ngũ Cộng Sản nên cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc đã trở thành chiến tranh ý thức hệ giữa Cộng Sản và tư bản, đưa dân tộc Việt Nam vào thế khốn cùng. Để lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân, ngày 11-11-1945, đảng Cộng Sản Đông Dương giải tán rồi thành lập đảng Lao Động (16-3-1951) trá hình của đảng  Cộng Sản để lãnh đạo phong trào Việt Minh.

    Ngày 2-6-1948, thành lập chính phủ Trung Ương Lâm thời do Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng, ban hành Hiến chương Lâm thời của nước Việt Nam, chọn quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ và bài “Thanh niên Hành khúc” sau khi đã đổi lời của Lưu Hữu Phưóc làm quốc ca. Ngày 5-6-1948 công bố bản Tuyên ngôn Vìệt Pháp gọi là Tuyên ngôn vịnh Hạ Long minh định Pháp quốc thừa nhận Việt Nam là một quốc gia Độc lập và thống nhất trong Liên Hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết.

    Từ tháng 8-1945 đến 1-1946, Hồ Chí Minh đã gửi 8 bức thư cho TT Harry S Truman và bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi HK xin được công nhận và giúp ngăn quân đội Pháp trở lại Đông Dương. Thế nhưng, toán OSS cơ quan tình báo chiến lược của Hoa Kỳ ở Đông Dương do Thiếu tá Thomas More và Đại úy Patty sống cùng với Hồ Chí Minh trong hang Pắc Pó đã báo cáo Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Ái Quốc, nhận chỉ thị của Đệ tam quốc tế CS nên vẫn sinh hoạt đảng, hát quốc tế ca, học tập chủ nghĩa Mác Lê. Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã không công nhận chính phủ Hồ Chí Minh. Nếu là bất cứ người Việt Nam nào thì vận mệnh đất nước Việt Nam đã thay đổi ngay từ lúc đó, nếu không độc lập ngay thì cũng hưởng qui chế chế độ Ủy trị của Liên Hiệp Quốc. Đặc biệt là sau thế chiến lần thứ hai, với sự ra đời của Liên Hiệp Quốc và nhất là chủ trương giải thực của Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt đã mở đầu cho phong trào dân tộc tự quyết của các quốc gia Đông Nam Á. Indonesia  tuyên bố độc lập ngày 17 tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Philippines năm 1946, Burma giành lại độc lập từ tay người Anh năm  1948 và Pháp chính thức rút khỏi Đông Dương sau hiệp định Genève 20-7-1954. Người Anh đã trao lại độc lập cho Malaya năm 1957 và sau đó là Singapore, Sabah và Sarawak năm 1963, trong khuôn khổ Liên Bang Malaysia.

    Từ thực tế lịch sử trên, nếu Hồ Chí Minh không đem chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam thì đất nước chúng ta đã độc lập mà không phải hy sinh oan uổng hàng triệu người Việt Nam vô tội cho tham vọng xâm lược bành trướng của Cộng sản. Chính Cộng Sản Việt Nam đã phản bội kháng chiến để thỏa hiệp với thực dân Pháp, ký kết hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia đôi đất nước trong lúc cao trào kháng chiến của toàn dân đang trên đà thắng lợi. Chính phủ quốc gia Việt Nam không đặt bút ký kết hiệp định Genève để phản đối sự cấu kết giữa Cộng sản và thực dân Pháp chia đôi đất nước. Nguồn sử liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam sau này cho biết Trung ương đảng đã nhận chỉ thị của đảng Cộng Sản Trung Quốc ký kết chia đôi đất nước. Ngay khi vừa ký hiệp định, Cộng Sản Việt Nam đã chỉ thị cho 85 ngàn đảng viên chưa bị lộ rút vào hoạt động bí mật, chôn giấu hơn 1 vạn súng và nhiều điện đài. Đến năm 1955, bộ máy chỉ đạo của đảng từ xứ ủy, tỉnh ủy đến huyện ủy đã được sắp xếp xong và chuyển hướng hoạt động bí mật chờ thời cơ. 

    Ngày 8-9-1954, Liên minh Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization gọi tắt là SEATO) được thành lập bao gồm 8 nước là Australia, Pháp, Anh, New Zealand, Pakistan, Philippine, Thái Lan và Hoa Kỳ để ngăn chặn sự xâm lược của chủ nghĩa Cộng Sản xuống Đông Nam Á. Ngày 20-11-1954, Thủ tướng Pháp Mendès France viếng thăm Hoa Kỳ xác nhận: “Chấm dứt sự kiểm soát của Pháp về kinh tế, thương mại và tài chánh tại Việt Nam : Chuyển giao quân đội Quốc gia cho Việt Nam, chuyển giao trách nhiệm huấn luyện quân đội quốc gia cho Hoa Kỳ và rút hết quân đội Viễn chinh Pháp ra khỏi Việt nam ”. Ngày 9-8-1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố chính phủ của ông không ký hiệp định nên không bị ràng buộc bởi hiệp định Genève và việc bầu cử không thể  thực hiện được “Chừng nào mà chế độ Cộng Sản chưa cho phép người dân Việt nam được hưởng những quyền tự do dân chủ và những quyền căn bản của con người.”. 

    Ngay sau khi vừa đặt bút ký hiệp định Genève, Ban chấp hành trung ương đảng Lao Động trá  hình của đảng Cộng Sản Việt Nam đã họp để chuẩn bị sách lược đấu tranh thống nhất đất nước. Các cơ sở đảng để lại sau hiệp định có nhiệm vụ phát động nhân dân đấu tranh chính trị đòi hiệp thương giữa 2 miền Nam Bắc, thực hiện tổng tuyển cử, phong trào hòa bình Sài Gòn Chợ Lớn đòi các quyền tự do dân chủ… Để đối phó với các hoạt động nằm vùng này, giữa năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm cho phát động chiến dịch “Tố Cộng” trên toàn quốc. Trước những thiệt hại nặng nề này, Cộng Sản Việt Nam quyết định tiến hành khủng bố và ám sát những viên chức địa phương, những giáo viên có lập trường quốc gia. Theo báo cáo của tòa Đại sứ HK thì cuối năm 1960 đã có 700 viên chức Việt Nam Cộng Hòa bị sát hại. Tháng giêng năm 1959, đảng Lao Động (CSVN) ra nghị quyết kết hợp đấu tranh chính trị với lực lượng vũ trang, chuyển người và vũ khí vào miền Nam. Tháng 3 năm 1959, chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt Việt Nam Cộng Hòa trong tình trạng chiến tranh.

    Sau khi Trung Cộng đánh chiếm Tây Tạng năm 1959, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore.Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …” nên tháng 4 năm 1959, Ủy ban Trung ương đảng họp lần thứ 15 quyết định dùng vũ lực xâm chiếm miền Nam. Ngày 20-12-1960, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam do LS Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch được thành lập với chiêu bài “Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập, tiến tới thống nhất tổ quốc”. Đầu năm 1961, quân đội giải phóng Miền Nam Việt nam hoạt động mạnh với 3 thành phần gồm đội quân chủ lực là binh sĩ miền Bắc và cán bộ tập kết trở về, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ hoạt động hiệu qủa ở miền Nam. Chính phủ Hoa Kỳ đưa ra sách lược chống du kích do sir Robert Thompson người Anh cố vấn cho chính phủ Ngô Đình Diệm, đồng thời gia tăng quân số, vũ khí với sự giúp đỡ của cố vấn Hoa Kỳ. Giữa năm 1961, kinh tế gia Eugene Staley được phái sang cố vấn chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thành lập Ấp Chiến lược để tách rời dân chúng ra khỏi sự kiểm soát khống chế của quân Cộng sản. Ngày 11-10-1961, Thống tướng Maxwell Taylor được TT Kennedy cử sang nghiên cứu tình hình nghiêm trọng của VN về phúc trình lên TT là để ngăn chặn quân xâm nhập từ miền Bắc qua biên giới Lào cần ít nhất là 3 sư đoàn quân chiến đấu Mỹ. Bản phúc trình của bộ trưởng quốc phòng Mac namara và bộ trưởng Ngoại giao Dean Rush đều nhấn mạnh trách nhiệm của Hoa Kỳ là phải bảo vệ Việt Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản. Bản phúc trình viết “… Chúng ta phải chuẩn bị để đưa lực lượng chiến đấu Hoa Kỳ vào Việt Nam nếu điều đó cần thiết để thành công. Tùy theo hoàn cảnh, có thể quân đội Hoa Kỳ cũng phải đánh vào nguồn xâm lược ở Bắc Việt”.

     Trước tình hình này, TT Ngô Đình Diệm ban bố tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc ngày 15-10-1961. Ngày 3-2-1962, thành lập ủy ban trung ương đặc trách ấp chiến lược do cố vấn Ngô Đình Nhu chỉ huy. Theo báo cáo kết qủa 1 năm thực hiện đã lập xong 5.917 ấp chiến lược qui tụ 8 triệu dân. Bộ chỉ huy yểm trợ Quân sự Hoa Kỳ (MACV) được thành lập, số cố vấn quân sự tăng từ 700 lên 12.000 người vào giữa năm 1962.

    Ngày 23-7-1962, Hiệp định Trung lập Lào được ký kết, phe tả đã đưa Pathet Lào vào chính phủ liên hiệp để không cho Hoa Kỳ can thiệp vào tình hình Lào. Đồng thời, quân Cộng sản vẫn sử dụng đường mòn Hồ Chí Minh ở phiá Đông do phe Pathet Lào kiểm soát để chuyển vận ồ ạt vũ khí đạn dược vào chiến trường miền Nam. Từ năm 1962, đường mòn được mở rộng để cho những đoàn xe tải dài từ 50 đến 75 dặm (miles) di chuyển vào ban đêm dưới sự bảo vệ của trên 70 ngàn quân chính qui Cộng sản. Mỗi tháng có thể chuyển được 8 ngàn quân và 10 ngàn tấn vũ khí đạn dược cung ứng cho nhu cầu chiến trường ngày càng ác liệt.

    Trong khi quân Cộng sản quấy rối khắp nơi thì tình hình chính trị miền Nam có nhiều rối loạn kể từ cuối năm 1960 với cuộc đảo chánh của tư lệnh lực lượng nhảy dù. Cuộc đảo chánh do các đảng phái quốc gia tổ chức tuy thất bại nhưng chứng tỏ sự suy yếu của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ngay từ khi về nhận chức Thủ Tướng, ông Ngô Đình Diệm đã được sự ủng hộ nồng nhiệt của quân đội quốc gia và 1 triệu đồng bào di cư. Chính sự ủng hộ này khiến TT Ngô Đình Diệm và nhất là cố vấn Ngô Đình Nhu có những tính toán chủ quan sai lầm dẫn đến sự sụp đổ của nền đệ nhất Cộng Hòa. Việc dẹp Bình Xuyên là cần thiết nhưng dẹp luôn các giáo phái khác và các đảng phái quốc gia nhất là áp dụng triệt để dụ số 10 ngăn cấm hoạt động của một số hội đoàn, các tôn giáo đã gây nên sự chia rẽ trong hàng ngũ quốc gia. Ngày 7-7-1963, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã tự vẫn trong tù để lại di chúc “Lịch sử” đắng cay cho những người quốc gia: “Ðời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do”.

    Đầu tháng giêng năm 1963, Cộng quân tấn công ấp Bắc gây tiếng vang bất lợi cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại quốc hội Hoa Kỳ. Theo phúc trình của phái bộ  quân sự  Mỹ  Macv thì Cộng quân kiểm soát được gần một nửa dân số và lãnh thổ về ban đêm. Ngày 15-12-1964, bộ trưởng quốc phòng Mac Namara phải sang Việt Nam thị sát tình hình. Một kế hoạch có tên là Oplan 34A áp dụng biện pháp mạnh để thuyết phục Hà Nội vì lợi ích của chính họ mà từ bỏ ý định xâm lược miền Nam. Kế  hoạch chưa thi hành thì vụ Maddox xảy ra. Hạm trưởng chiến hạm Maddox loan báo chiến hạm bị các tiểu đĩnh của Cộng Sản dự định tấn công ngoài hải phận quốc tế từ ngày 2 đến 4 tháng 8-1964. Ngày 5-8-1964, sau cuộc họp với lãnh tụ lưỡng đảng quốc hội, TT Hoa Kỳ Johnson ra lệnh oanh tạc Bắc Việt. Nghị  quyết “Vịnh Bắc Việt” được quốc hội thông qua ngày 7-8 với đa số phiếu tuyệt đối ở hạ viện và 88-2 ở thượng viện cho phép quân đội HK được tham chiến mở đầu cho thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất tại Việt Nam từ 1965 đến 1973. 

    Trước khi có những biện pháp quyết liệt, ngày 13-8 TT Johnson đã nhờ trung gian Seaborn trong phái đoàn Canada gặp Phạm văn Đồng một lần nữa để nhắc lại đề nghị của Mỹ hồi tháng 6 về việc “nhận viện trợ hay bị tàn phá?” thì Phạm văn Đồng nhẹ nhàng nhắc Seaborn rằng lần sau trở lại với những đề nghị mới của Mỹ nên dựa trên căn bản hiệp định Genève. Sau khi quân Cộng sản tấn công phi trường Pleiku ngày 7-2-1965, máy bay Mỹ từ đệ thất hạm đội tấn công cơ sở quân sự ở Đồng Hới. Chiến dịch “Sấm Rền” với hàng trăm phi cơ tấn công các kho đạn, các cầu đường ở miền Bắc.

     Sau khi đưa ra các đề nghị không được Cộng Sản Việt Nam chấp nhận, ngày 8-3-1965 hai tiểu đoàn Thủy quân lục chiến đổ bộ Đà Nẵng để giữ an ninh cho phi trường. Cộng Sản Việt Nam tuy tuyên bố mạnh nhưng cũng hiểu rõ quyết tâm của Hoa Kỳ nên Phạm văn Đồng mới bắn tiếng đề nghi Hoa Kỳ thương thuyết trên căn bản hiệp định Genève. Khi Hoa Kỳ leo thang oanh tạc miền Bắc thì quốc tế Cộng Sản phải vận động tuyên truyền cho phong trào phản chiến trên toàn thế giới chống chiến tranh. Ngày 16-10-1965, những cuộc biểu tình chống chính sách Mỹ tại VN được tổ chức đồng loạt tại London, Copenhagen, Stockholm, Brussels, Rome và 40 thành phố ở Hoa Kỳ.

    Tính đến cuối năm 1965 thì số quân Mỹ tham chiến là 175 ngàn. Chi phí chiến tranh cũng tăng lên đến 2,9% của ngân sách quốc gia. Ngày 29-9-1967, Tổng Thống Johnson đọc diễn văn ở San Antonio hứa ngưng oanh tạc nếu Cộng Sản Việt Nam không lợi dụng việc ngưng oanh tạc để đưa thêm người và vũ khí vào miền Nam. Hà Nội bác bỏ đề nghị có điều kiện này để chờ tình hình bầu cử TT Hoa Kỳ năm 1968 sẽ thuận lợi hơn. Tình hình chiến sự năm 1967 cho thấy quân Cộng Sản đã không đương đầu được với lực lượng cơ động “Tìm và diệt” của quân đồng minh. Tuy đạt được vài thắng lợi nhưng sau đó bị tiêu diệt nên lực lượng bị tiêu hao dần. Chính vì vậy, Cộng Sản Việt Nam quyết định đốt giai đoạn phát động “Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa” để giành thắng lợi quyết định trước khi ngồi vào bàn hội nghị. Lợi dụng dịp tết Mậu Thân, Hà Nội kêu gọi hưu chiến 48 giờ. Chính phủ VNCH tuân thủ lệnh hưu chiến cho quân đội công chức về quê ăn tết. Ngày 30-1-1968, Hà Nội ra lệnh tổng tiến công Mậu Thân trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 11-2-1968, Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh Tổng Động viên. Ngày 24-2-1968, quân lực Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm thành phố Huế. Theo thống kê thì 4.954 binh sĩ VNCH tử trận, 3.895 binh sĩ Hoa Kỳ và các nước đồng minh và 14.300 thường dân bị chết oan. Về phiá Cộng Sản đã thú nhận thất bại nặng nề vì “đánh giá cao lực lượng mình, đánh giá thấp lực lượng địch và do tư tưởng nóng vội muốn giành thắng lợi lớn, kết thúc chiến tranh nhanh nên nhiều vùng nông thôn giải phóng của ta trước đây bị địch chiếm. Mục tiêu của cuộc tổng tiến công và tổng nổi dậy không đạt được đầy đủ. Lực lượng của ta bị tổn thất nhiều với 111.306 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và chính trị ở miền Nam đã hy sinh và bị thương…”. Sau cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân, về phương diện quân sự thì hầu như toàn bộ lực lượng quân giải phóng bị tiêu diệt. Về phương diện chính trị cũng hoàn toàn thất bại vì nhân dân miền Nam không những không ủng hộ mà còn chán ghét ghê tởm hành động dã man của cộng quân. Nếu đồng minh Hoa Kỳ và VNCH biết khai thác thời cơ, huy động các sư đoàn chủ lực thiện chiến như lực lượng nhảy dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt Động quân tung ra những trận đánh thẳng vào miền Bắc thì tình hình có thể đã thay đổi. 

    Sự kiện tòa đại sứ Mỹ bị tấn công và hơn 3 ngàn quân nhân Mỹ tử thương đối với nhân dân và quốc hội Mỹ là một tổn thất hết sức nặng nề về mặt tâm lý. Người dân bất bình với chính quyền Johnson vì danh dự bị tổn thương, đời sống khó khăn hơn vì phải đóng thuế thêm 10% cho ngân sách quốc phòng. Ngay trong đảng dân chủ, TT Johnson bị nhóm chủ hòa phê phán chỉ trích. Ngày 31-10-1968, TT Johnson tuyên bố ngưng các cuộc tấn công trên lãnh thổ Bắc Việt trừ khu vực dưới vĩ tuyến 20 và đề nghị mở hòa đàm với Bắc Việt. Đồng thời TT Johnson tuyên bố sẽ không ứng cử và cũng không chấp nhận đảng dân chủ đề cử để hậu thuẫn cho Phó TT Humphrey tranh cử Tổng Thống. Ứng cử viên Mac Govern của đảng dân chủ với lập trường chủ hòa, sẵn sàng lập chính phủ liên hiệp với Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam nên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không chịu tham gia hòa đàm. Trong khi ứng cử viên Nixon của đảng Cộng Hòa với lập trường cứng rắn tuyên bố úp mở rằng đã có kế hoạch bí mật để chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã thắng cử với đa số phiếu cử tri đoàn (302/191) và 43,3%/ 42,7% số phiếu cử tri. 

    Sau khi TT Nixon nhậm chức ngày 20-1-1969, thì phiên họp chính thức đầu tiên giữa “Hai phe, bốn bên” bắt đầu ngày 25-1-1969 với sự tham dự của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa. Trong bài diễn văn ngày 14-5-1969, TT Nixon xác định quân đội Hoa Kỳ và quân đội Cộng Sản Bắc Việt đồng thời rút khỏi miền Nam Việt Nam và Hà Nội phải ngưng mọi cuộc tiếp viện về người và vũ khí cho Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Cộng Sản Việt Nam chủ trương vừa đánh vừa đàm để khai thác thời cơ bầu cử TT Hoa Kỳ sẽ tạo lợi thế cho họ. Về phía Hoa Kỳ, Nixon tiếp tục chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh. Ngày 8-6-1969, TT Hoa Kỳ Nixon họp với TT Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu tại Midway loan báo sẽ rút 25 ngàn quân nhân Mỹ khỏi VN trước tháng 8. Để mở đầu cho kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh, bộ trưởng quốc phòng HK yêu cầu quốc hội chuẩn chi 156 triệu mỹ kim để tăng cường khả năng chiến đấu của quân đội Việt nam Cộng Hòa. Hoa Kỳ chuyển giao phi cơ, chiến hạm, máy bay trực thăng, xe quân sự đủ loại, hơn 1 triệu khẩu súng M 16 cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng tăng quân số từ 850 ngàn lên khoảng 1 triệu binh sĩ. Ngày 15-11-1969, hơn 250 ngàn người biểu tình tuần hành tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn cùng với các cuộc biểu tình khác ở Pháp, Tây Đức và Anh. Đây là cuộc biểu tình phản chiến lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

    Ngày 9-1-1971, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ Henry Kissinger bí mật đến Bắc Kinh đã thảo luận với Chu Ân Lai về vấn đề Việt Nam: “Nhân danh tổng thống Nixon, tôi xin thông báo với Thủ tướng một cách trịnh trọng nhất rằng trước hết, chúng tôi sửa soạn rút quân hoàn toàn ra khỏi Đông Dương và ấn định ngày giờ rút quân, nếu có một cuộc ngưng bắn và phóng thích tù binh của chúng tôi.  Thứ đến, chúng tôi sẽ để cho giải pháp chính trị của Nam Việt Nam tự diễn biến và phó mặc cho một mình người Việt… Điều chúng tôi yêu cầu là một khoảng thời gian chuyển tiếp giữa sự rút quân và diễn biến chính trị.  Không phải là để chúng tôi có thể trở lại Việt Nam mà chúng tôi để cho dân tộc Việt Nam và dân tộc các nơi khác ở Đông Dương tự quyết định lấy số phận của họ… Hôm qua, tôi đã thưa với Thủ tướng, và tôi muốn nhắc lại rằng, nếu sau khi quân đội Mỹ rút lui hoàn toàn,  mà các dân tộc Đông Dương thay đổi chính quyền của họ, Hoa Kỳ sẽ không can thiệp.”. Trong một thông điệp gửi đến người dân Mỹ liên quan tới chiến tranh Việt Nam, ngày 7 tháng 4 năm 1971, Tổng thống Nixon đã nói: “Vấn đề rất đơn giản đó là như thế này: chúng ta sẽ rời khỏi Việt Nam theo cách mà – bởi những hành động của chính chúng ta – cố ý chuyển giao đất nước cho những người Cộng sản? Hay là chúng ta sẽ rời khỏi theo cách, cho người miền Nam Việt Nam một cơ hội hợp lý để tồn tại như là những người tự do? Kế hoạch của tôi sẽ chấm dứt sự tham gia của người Mỹ theo cách sẽ cung cấp cho miền Nam cơ hội đó. Và một kế hoạch khác sẽ kết thúc nó một cách vội vàng và trao chiến thắng cho những người Cộng sản”.

     Ngày 21-2-1972, TT Nixon viếng thăm Trung Quốc. Trong cuộc họp đầu tiên với Chu Ân Lai ngày hôm sau 22-2-1972, tổng thống Nixon đề cập ngay đến vấn đề Việt Nam: “Nếu tôi ngồi vào bàn với bất cứ nhà lãnh đạo nào của Bắc Việt Nam, và cùng nhau bàn bạc về việc đình chiến và nhận lại tù binh của chúng tôi, tất cả người Hoa Kỳ sẽ được rút ra khỏi Việt Nam trong sáu tháng kể từ ngày đó…  Chúng tôi đã đề nghị rút hết người Hoa Kỳ, mà không để cái “đuôi” đàng sau – như cách nói của Thủ tướng – và ngưng bắn trên toàn Đông Dương, miễn là chúng tôi lấy lại được tù binh.  Sau đó, chúng tôi sẽ để cho dân chúng ở đó tự quyết định.”. Kết qủa chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Nixon năm 1972, đã giúp Hoa Kỳ chấm dứt sự tham gia trong chiến tranh Việt Nam không phải là cách mà Tổng thống Nixon, Hoa Kỳ và nhiều người Việt mong đợi. Thế nhưng chuyến đi này của Tổng thống Nixon đã đã làm thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu cũng như lập ra một trật tự thế giới mới. 

Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Bắc Kinh. Photo hôm 25-2-1972courtesy National Archives & Records Administration.

Thông cáo chung được ký kết tại Thượng Hải ngày 28 tháng 2, trong đó hai nước cam kết đi đến bình thường hóa, cùng nhau hợp tác trao đổi trên nhiều lĩnh vực. Hoa Kỳ công nhận Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc và hai bên cam kết giải quyết vấn đề Đông Dương trong đó có chiến tranh Việt Nam. 

    Chuyến công du của TT Nixon đã tạo ra những chuyển biến lịch sử, Hoa Kỳ đã thành công trong việc phân hóa hàng ngũ Cộng Sản để Trung Quốc trở thành đồng minh với Hoa Kỳ. Để thực hiện điều này, Hoa Kỳ đã bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc  nên không phủ quyết cuộc bỏ phiếu của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 25-10-1971 theo đó, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) được giữ ghế đại biểu Trung Quốc thay Trung Hoa Dân Quốc.  Chính vì quyền lợi của Hoa Kỳ và quyền lợi cá nhân của Nixon, ông ta đã hy sinh quyền lợi của đồng minh” nên muốn TT Nguyễn văn Thiệu ký vào bản hiệp định trước ngày bầu cử TT Hoa Kỳ. Để thuyết phục Việt Nam Cộng Hòa, TT Nixon đã viết thư cho TT Thiệu ngày 16-10-1972 cam kết “Trong thời kỳ tiếp theo cuộc đình chiến, Ngài có thể hoàn toàn an tâm là chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho chính phủ của Ngài sự yểm trợ đầy đủ nhất, kể cả viện trợ kinh tế và bất cứ viện trợ quân sự nào phù hợp với những điều khoản của hiệp định… Tôi cam kết với ngài rằng bất cứ sự bội tín nào về phiá họ cũng sẽ bị chúng tôi lên án khắt khe nhất và nó sẽ có hậu qủa trầm trọng nhất… Tôi tin chắc rằng đó là giải pháp tốt nhất mà chúng ta có thể đạt được và cũng là giải pháp đáp ứng được điều kiện tuyệt đối của tôi là Việt Nam Cộng Hòa phải được tồn tại là một quốc gia tự do…”. Ngày 26-10-1972, sau khi đến Sài Gòn thuyết phục chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ký vào hiệp định bị TT Nguyễn văn Thiệu cương quyết từ chối nhưng khi trở về Hoa Thịnh Đốn, ngoại trưởng Henry Kissinger tuyên bố “Hòa bình đang ở trong tầm tay”. Người dân Mỹ tin rằng đã có một giải pháp để chấm dứt chiến tranh nên đại đa số người dân Hoa Kỳ đã bầu cho Nixon với tỷ lệ 60,7% so với 37,5% cho Mac Govern. Trong khi đó, đảng dân chủ thắng lớn với 76 dân biểu và 8 Thượng nghị sĩ phản chiến vào quốc hội.

    Sau khi thắng cử thì Nixon cương quyết hơn nên ra lệnh tiến hành chiến dịch oanh tạc Linebacker II lớn nhất trong chiến tranh VN ngày 27-12-1972, tập trung vào khu vực Hà Nội, Hải Phòng để buộc Hà Nội phải đi đến thỏa hiệp. Hà Nội đã bắn 1.200 hỏa tiễn Địa không do chuyên viên Liên Sô điều khiển, hạ 15 B52 và 15 phi cơ khác, 93 phi công chết hay mất tích. Sau đó, ngày 17-1-1973, TT Nixon gửi thêm lá thư cam kết cụ thể với TT Thiệu như sau “Tự do độc lập của nước VNCH vẫn luôn luôn là mục tiêu trọng đại trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Tôi đã theo đuổi mục tiêu này trong suốt cuộc đời chính trị của tôi… Tôi xin nhắc lại những cam kết đó như sau: Thứ nhất, Hoa Kỳ công nhận chính phủ của Ngài là chính phủ duy nhất hợp pháp ở miền Nam Việt Nam. Thứ hai, Hoa Kỳ không công nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ miền Nam và thứ ba, Hoa Kỳ sẽ phản ứng mãnh liệt nếu nếu bản hiệp định bị vi phạm”. Sau khi Việt Nam Cộng Hòa đồng ý ký, TT Nixon đã gửi ngay 1 lá thư ca tụng TT Nguyễn văn Thiệu như sau “Thưa TT, Với lòng can đảm và kiên trì, Ngài đã bảo vệ được quyền lợi của dân tộc Việt Nam trong công cuộc theo đuổi mục tiêu duy trì tự do và độc lập”. Cuối cùng, Hiệp định chấm dứt chiến tranh và Tái lập Hòa bình tại Việt Nam được ký kết tại Paris giữa Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Vào thời điểm ký kết hiệp định 27-1-1973, VNCH kiểm soát 75% lãnh thổ và 85% dân số. Ngày 29-3-1973, các đơn vị cuối cùng của Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam.

    Một biến cố khác xảy ra đã tác động trực tiếp vào sự suy vong của miền Nam Việt Nam. Ngày 6-10-1973, Khối Ả Rập bất ngờ tấn công Do Thái đang cử hành “Lễ Đền tội Yum Kippur”. Quân Do Thái bị thảm bại nên TT Nixon cho thiết lập cầu không vận tiếp liệu cho Do Thái. Do Thái phản công, sau hơn 3 tuần, khối Ả rập phải ký hiệp định đình chiến. Sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho Do Thái khiến khối Ả Rập tức giận, OPEC quyết định giảm mức sản xuất khiến giá dần thô tăng gấp 4 lần đồng thời các nước Abu Dhabi, Libyia, Saudi Arabia, Algeria và Kuwait cấm vận, cắt đứt dầu hỏa xuất cảng sang Hoa Kỳ. Chính phủ Nixon phải áp dụng chính sách khắc khổ nên nên người dân bất mãn và Việt Nam Cộng Hòa chịu hậu quả trầm trọng của cuộc chiến này. Quân viện của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa tài khóa 1972-1973 là 2,1 tỷ dollars, sau khi Hoa Kỳ bị cấm vận dầu lửa, quân viện giảm xuống còn 1 tỷ 2 và tài khóa 1974-1975 là 1 tỷ. Tháng 8 năm 1974, mức chuẩn chi 1 tỷ cho Việt Nam Cộng Hòa bị cắt xuống còn 700 triệu dollars. Khi TT Nixon xin quốc hội viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa thì quốc hội chỉ chuẩn chi 313 triệu Mỹ kim. Như vậy, quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa từ 2,1 tỷ bị, số tiền bị cắt 1,4 tỷ được chuyển sang cho Do Thái nên quân viện Do Thái tăng lên 1,5 tỷ cũng cắt còn 700 triệu trong năm này.

    Chính sách của Hoa Kỳ trong thực tế được quyết định bởi một “Thế Lực Ngầm”, đó là một tập hợp của các tài phiệt như Rockfeller, Ford foundation … mà hầu hết do vốn của các doanh nhân Do Thái. Tình hình thế giới đã thay đổi khi các chiến lược gia Hoa Kỳ quyết định phá vỡ thế cân bằng chiến lược cũ để tạo một chiến lược mới có lợi cho Hoa Kỳ nhiều hơn. Về mặt chính trị, Hoa Kỳ hy sinh Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Việt Nam Cộng Hòa, chuyển giao một phần công nghệ chế tạo vũ khí tối tân để Trung Quốc trở thành đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ khiến Liên Sô suy yếu và đi tới sụp đổ. Trên phương diện kinh tế, thị trường trên 1 tỷ người dân Trung Quốc là món hàng béo bở hấp dẫn và nguồn nhân công rẻ mạt cho các nhà tài phiệt đầu tư Hoa Kỳ. Chính quyền lợi của tập đoàn tài phiệt này nên Hoa Kỳ đã phản bội lời cam kết với các đồng minh Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Việt Nam Cộng Hòa. Thêm vào đó, quyền lợi của đảng Dân Chủ nói chung và của Thượng Nghị Sĩ chủ hòa Mac Govern đã chủ trương rút khỏi Việt Nam bằng mọi giá, tích cực hỗ trợ cho phong trào chống chiến tranh đang được Cộng Sản quốc tế yểm trợ tối đa nên ngày càng lên cao đến mức không thể kiểm soát nổi khiến chính giới Hoa Kỳ bao gồm cả hành pháp và cả những nhà lập pháp chân chính cũng đành bó tay chấp nhận không thể làm gì khác hơn được. Theo Thượng Nghị Sĩ Jim Web thì chính thành phần này đã cộng tác với cái gọi là Liên Hiệp Hòa Bình Đông Dương, một tổ chức ngoại vi của Cộng Sản đã được Edward Kennedy, Mac Govern là những “phần tử của một nhóm quyền lực ngầm gọi là Liên lạc Ngoại giao (SFR) được tài trợ bởi hệ thống tài phiệt quốc tế như Rockfeller, Ford Foundation… có ảnh hưởng vô cùng lớn trong chính trường đã phát động phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974 đã vận dụng nữ tài tử Jane Fonda và Tom Hayden đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại Việt Nam Cộng Hòa”. Phong trào chống chiến tranh Việt Nam được sự chi viện tối đa của Cộng sản quốc tế về nhân lực và tài chánh nên tác động đồng loạt trên toàn thế giới. Tài liệu của đảng Cộng Sản Liên Sô cho biết đã cung cấp 2 tỷ dollars mỗi năm và huy động 500 ngàn đảng viên xâm nhập phong trào phản chiến biểu tình trên khắp thế giới. Tại quốc hội Hoa Kỳ, một “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chánh”trong đó có Harold Ickes và Bill Clinton nỗ lực vận động những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô Viết và Trung Cộng yểm trợ. Năm 1974, Thượng viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu thuận với tỷ lệ 43-38 để kèm vào việc chuẩn chi ngân sách quốc phòng một điều kiện gọi là “Tu chính Kennedy”. Ngày 11-7-1974, Ted Kennedy đề nghị cắt 50% viện trợ kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa và ngày 8-8-1974, TT Nixon phải từ chức vì hậu qủa của vụ Watergate khiến tình hình Việt Nam trở nên bi đát hơn. Khi Nixon từ chức, ông bắt buộc phải ký thành luật một mức tối đa ngân sách quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa là 1 tỷ. Ngay khi nhận chức, Tổng Thống H. Ford đã tái cam kết thực hiện “Những gì nước tôi đã cam kết với quý quốc…” nhưng chỉ vài ngày sau, ủy ban chuẩn chi của thượng viện đã cắt từ “Mức chấp thuận” là 1 tỷ xuống còn 700 triệu. Trong khi đó, tình hình chiến sự ngày một gia tăng với sự xâm nhập ồ ạt binh sĩ và vũ khí của quân Cộng Sản mà theo phúc trình của Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thì số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng 6 năm 1975 nên chỉ còn đủ cung ứng được từ 30-45 ngày. Thế lực ngầm qua quốc hội một lần nữa tìm đủ mọi cách để tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa qua những quyết nghị cấm không được dùng quỹ Đối giá của viện trợ nhập cảng để trả lương cho cảnh sát, bộ quốc phòng cấm luôn cơ quan quốc phòng DAO tài trợ… GS Warren Nutter, cựu phụ tá Tổng trưởng quốc phòng Hoa Kỳ đặc trách phần tài chính của chương trình Việt Nam hóa chiến tranh đã nói thẳng với TT Thiệu: “Quốc hội HK đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy. Cái trung tâm Tài nguyên Đông Dương đang hết sức tìm cách tiêu diệt VNCH…”. Ông khuyến cáo chính phủ Hoa Kỳ rằng:“Bỏ miền Nam là rơi vào đổ vỡ và thảm sát chỉ vì hơn kém nửa tỷ dollars sẽ có hậu qủa còn sâu sa hơn đó là xé nát lương tâm nước Mỹ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của HK tuy còn mạnh mà đang yếu dần trên chính trường quốc tế…”. Ngày 26 tháng 2 năm 1975, TT Ford gửi thư cho TT Thiệu gợi ý về việc điều đình để có 1 giải pháp chính trị “…Chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng việc thực thi hiệp định Paris, cùng các cuộc điều đình trực tiếp giữa các phe phái Việt Nam, là con đường nhanh nhất, hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc đổ máu tại Việt Nam…”. Cuối cùng, ngày 13-3-1975, đảng Dân chủ chiếm đa số tại thượng viện và Hạ viện bỏ phiếu cho một nghị quyết chống bất cứ viện trợ nào thêm cho Việt Nam. Trước thực trạng đó, TT Thiệu đã phải quyết định “Tái phối trí” lực lượng vì không còn đủ khả năng phòng thủ diện địa nữa. Ngày 15-3-1975, cuộc di tản chiến thuật từ Pleiku tạo nên một bầu không khí hoảng loạn của quân dân cán chánh VNCH. Do áp lực của quốc hội, TT Nguyễn văn Thiệu bàn giao chính quyền cho Phó TT Trần văn Hương rồi TT Hương bàn giao cho Đại Tướng Dương văn Minh mở đầu cho sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng hòa ngày 30-4-1975.

     Sau hơn ba thập niên, sự thật lịch sử của cuộc chiến Việt Nam đã cho chúng ta những nhận định sau:

1.   CHIẾN TRANH VIỆT NAM KHÔNG PHẢI LÀ CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC. 

    Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên truyền rêu rao là đã hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc thoát khỏi sự thống trị của 2 đế quốc Pháp và Hoa Kỳ. Thế nhưng, sự thật là sau khi quân Nhật lật đổ chế độ thực dân Pháp, ngày 11-3-1945, Cơ Mật Viện triều Nguyễn đã tuyên bố “Hủy bỏ Hiệp ước 1884 qui định Pháp bảo hộ Việt Nam và Khôi phục chủ quyền cuả một nước Việt Nam độc lập”. Ngày 12-3-1945, Cao Miên tuyên bố độc lập và ngày 15-4-1945, Lào tuyên bố độc lập. Nhận chỉ thị của Cộng Sản quốc tế đấu tranh vũ trang lật đổ chế độ quốc gia Việt Nam, ngày 19 tháng 8 năm 1945, đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới danh nghĩa Việt Minh cướp chính quyền. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập và thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh ký thỏa hiệp sơ bộ với thực dân Pháp đồng ý để quân Pháp ra Bắc thay thế quân đội Trung Hoa giải giới quân Nhật để lợi dụng cơ hội này tìm cách tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Sau khi cấu kết với thực dân Pháp bất thành, ngày 19-12-1946, Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, cuộc chiến tranh Việt Minh và Pháp bắt đầu. Tháng 12,1947, Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long được ký kết giữa Cao Ủy Pháp Bollaert với Quốc Trưởng Bảo Đại để thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam. Theo Hiệp Ước này Pháp long trọng thừa nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam được tự do tiến hành thủ tục thực hiện thống nhất quốc gia chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết. Ngày 8-3-1949, TổngThống Cộng Hòa Pháp và nhân danh Chủ Tịch Liên Hiệp Pháp, đã ký với Quốc Trưởng Bảo Đại Hiệp Định Elysée công Nhận Việt Nam Thống Nhất và Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 23-4-1949 Quốc Hội Nam Kỳ đã giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất.   

     Lịch sử đã chứng minh rằng, Cộng sản Việt Nam đã núp dưới danh nghĩa kháng chiến, lợi dụng lòng yêu nước của người dân Việt Nam để nhuộm đỏ cả Đông Dương, bành trướng chủ nghĩa CS mở đường xuống Đông Nam Á. Chính Hồ Chí Minh đã không giấu giếm sự thật khi gặp Salisbury tai Hà Nội năm 1965: “Những ngày tuyệt diệu rồi đây sẽ đến khi tất cả các đồng chí đã đến bên nhau. Tất cả mọi người đang nỗ lực tranh đấu để đem đến sự thành công của Miền Bắc Việt Nam, đó chính là sự thành công của những người Nga, những người Tàu, và những chế độ tại Đông Âu. Tất cả đều muốn làm cho Miền Bắc Việt Nam trở thành một mẫu mực, một nơi triển lãm thu hút muôn người, và một mẫu mực lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản có thể đưa đến cho các dân tộc tại Á Châu và đặc biệt nhất là vùng Đông Nam Á.”. Đây là bằng chứng quá rõ ràng cho mọi người thấy Hồ Chí Minh đã không bao giờ thực tâm tranh đấu vì Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc cho dân tộc Việt Nam mà sử dụng cả dân tộc Việt Nam như một công cụ để phục vụ tham vọng bành trướng của Đế Quốc Cộng Sản Nga Sô.

     2. CUỘC CHIẾN VIỆT NAM LÀ CUỘC CHIẾN TRANH Ý THỨC HỆ.

    Tháng 1 năm 1945, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc xin đứng vào hàng ngũ quốc tế CS nên ngày 14-1-1950 Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng) công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Ngày 31-1-1950, Liên Sô công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thành trì công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Sự kiện lịch sử này đánh dấu một bước ngoặt lịch sử là VNDCCH chính thức đứng vào hàng ngũ cộng sản nên ngày 7-2-1950, Hoa Kỳ, Anh và các nước thế giới tự do công nhận chính phủ quốc gia Bảo Đại để ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á. Cuộc chiến Việt Nam chính thức trở thành cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Cộng sản và thế giới tự do. Sau khi Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore.Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”. Tháng 4 năm 1959, Ủy ban Trung ương đảng họp lần thứ 15 quyết định thành lập Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ngày 20-12-1960, với chiêu bài “Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập, tiến tới thống nhất tổ quốc”. Sau khi chiếm được cả miền Nam, chính Lê Duẫn, tổng bí thư của đảng CSVN đã xác nhận một lần nữa:“Chúng ta đánh cho Mỹ cút ngụy nhào” là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc và ngày nay, yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”. Bộ mặt thật của CS đã phơi bầy trước lịch sử. Cuộc kháng chiến của dân tộc đã bị lợi dụng, Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã hy sinh hàng triệu người VN vô tội để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ cả Đông Dương. 

      3. CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM ĐỐI ĐẦU GIỮA CS VÀ TƯ BẢN KHIẾN SINH LỰC CỦA DÂN TỘC BỊ TIÊU HAO TRẦM TRỌNG.  

    Trước đây, chúng ta bị bộ máy tuyên truyền của Cộng sản lừa dối rằng lực lượng đồng minh Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Thái Lan và Đại Hàn đến Việt Nam để chống lại một nước nhỏ bé là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và nhân dân miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, sau hơn 30 năm, chúng ta mới biết cả Liên Sô, Trung Cộng lẫn Bắc Triều Tiên đều tham chiến ở Việt Nam. Việt Nam trở thành chiến trường giữa 2 khối Cộng Sản và thế giới tự do. Sự thật lịch sử này được một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc phát biểu như sau: “Trong giai đoạn giúp Việt Nam chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đã vì Việt Nam mà đóng góp không biết bao nhiêu tài lực, nhân lực, vật lực, pháo binh, công binh, nhân viên đường sắt, nhân viên thư tín, hải quân, không quân, hậu cần vận tải … 16 sư đoàn, hơn 300.000 lính Hồng quân Trung Quốc ở Việt Nam trong hơn 3 năm 9 tháng đấu tranh. Tác chiến đối không 2153 lần, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ, bắt sống 42 phi công Mỹ, viện trợ Việt Nam xây dựng Hải Phòng, Hòn Gai, các thành phố duyên hải và xây dựng hệ thống phòng ngự ở tam giác châu thổ sông Hồng, tu sửa và xây dựng các tuyến đường huyết mạch, sân bay, tuyến đường sắt đông tây, mở đường trên biển chuyên chở vũ khí vào miền Nam và chi viện cho đường mòn Hồ Chí Minh. Từ năm 1950 đến năm 1978, TQ đã viện trợ cho Việt Nam hơn 200 tỷ mỹ kim, trong đó 93% là viện trợ không hoàn lại, đó là chưa kể xương máu mà 1446 chiến sỹ đã hy sinh, 4200 người trọng thương… những hy sinh đó tuyệt đối không thể tính được bằng tiền“. Gần đây, chúng ta mới biết được là các đơn vị phòng không Liên Sô và phi công Bắc Hàn cũng tham dự cuộc chiến tranh VN. Cựu Trung Tướng Yevgeni Antonov, nguyên trưởng đoàn cố vấn quân sự của Liên Sô tại Việt Nam tiết lộ rằng Liên Bang Sô Viết đã gởi một trung đoàn phòng không với đầy đủ vũ khí và trang bị sang Việt Nam tham chiến và 13 người lính phòng không Liên Xô đã chết trên chiến trường miền Bắc. Trung đoàn phòng không Liên Sô  đã bắn rơi những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên trên bầu trời Hà Nội, kể cả chiếc chiến đấu cơ A-4 Skyhawk của Thượng Nghị Sĩ John McCain. Theo tiết lộ của cựu trung tướng Liên Xô Yevgeni Antonov, chỉ huy lực lượng phòng không Liên Xô tại Việt Nam từ 1969 đến 1970 thì Việt Nam là một phòng thí nghiệm cho vũ khí Liên Sô để chuẩn bị cho việc máy bay Mỹ và NATO oanh tạc vào nội địa Liên Sô trong trường hợp có chiến tranh giữa hai khối sau này. Sự thật lịch sử đã chứng minh rằng chính Hồ Chí Minh, cán bộ của CS quốc tế đã đưa dân tộc vào cuộc chiến tranh ý hệ, hy sinh xương máu của hàng triệu người dân lành vô tội để bành trướng chủ nghĩa CS xuống toàn cõi Đông Dương. Sinh lực của dân tộc bị tiêu hao trầm trọng, hàng triệu người dân vô tội hy sinh, đất nước nghèo nàn tan hoang đổ nát, lòng người ly tán. Cái gọi là thống nhất đất nước chỉ là sự xâm lăng của bạo lực và hận thù khiến dân tộc Việt Nam ly tán, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Cộng sản Việt Nam đã phơi bầy bản chất độc tài dã man trả thù, hành hạ đày đọa quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tù gọi là “Cải tạo” cùng với biện pháp đổi tiền, đánh tư bản mại sản, bắt đi kinh tế mới để tước đoạt tài sản của nhân dân… Cộng sản Việt Nam tuyên truyền rằng đã “Thống nhất được đất nước” nhưng thực tế đã chứng minh rằng cái gọi là giải phóng miền Nam đã để lại trong lòng dân tộc một sự phân ly ngăn cách không gì có thể hàn gắn được.

4. HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CSVN CHÍNH LÀ TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

     Điều 1 của Hiến chương Hội Quốc Liên và Liên Hiệp Quốc đều nhấn mạnh đến quyền dân tộc tự quyết. Phong trào giải thể chế độ thực dân là xu thế của thời đại được ghi rõ trong Hiến Chương Đại Tây Dương 1941 và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Các đế quốc Tây Phương Mỹ Anh Pháp Hòa Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho các thuộc địa Á Châu như Phi Luật Tân, Syrie và Liban năm 1946, Ấn Độ và Pakistan độc lập năm 1947, Miến Điện-Tích Lan và Palestine năm 1948, Việt Nam-Ai Lao, Cao Miên và Nam Dương năm 1949. Chính vì Hồ Chí Minh và nhà nước VN Dân chủ Cộng Hòa đứng vào hàng ngũ CS, chủ trương đấu tranh võ trang cướp chính quyền để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản nên dân tộc Việt mới hứng chịu thảm họa khốc liệt của chiến tranh.  Hàng triệu người Việt Nam vô tội phải hy sinh, gia đình Việt Nam nào cũng chịu cảnh thương đau mất mát, thống khổ triền miên. Chính Cộng Sản Việt Nam đã đưa dân tộc Việt Nam vào thế trên đe dưới búa của cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Cộng Sản và thế giới tự do. Chính Cộng Sản Việt Nam đã rước voi Mác Lê về giầy mả tổ Hùng Vương, cõng rắn độc Trung Cộng về cắn gà nhà dân tộc khiến gần 4 triệu người dân Việt đã hy sinh cho cuộc chiến tranh phi nghĩa này để rồi đất nước Việt Nam sau hơn 30 năm vẫn là một nước nghèo nàn chậm tiến nhất thế giới.  Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN chính là tội đồ của dân tộc Việt Nam.

5. MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM LÀ CÔNG CỤ CỦA ĐẢNG CSVN.

     Trong chiến tranh, Cộng Sản rêu rao tuyên truyền Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam do những người miền Nam đứng lên “Chống Mỹ Cứu Nước” nên được giới trí thức tả khuynh trong phong trào phản chiến ủng hộ. Sau khi đem quân xâm chiếm Tây Tạng năm 1959, Mao Trạch Đông đã chỉ thị phải chiếm miền Nam VN bằng mọi giá để mở đường xuống Đông Nam Á nên ngày 20-12-1960, đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Sau khi xâm chiếm miền Nam Việt Nam, ngày 2-7-1976, Quốc hội Cộng sản tuyên bố thống nhất Việt Nam, đặt tên nước là Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cờ và hiến pháp là cờ và hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phạm văn Đồng tiếp tục làm Thủ tướng. Cái gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng” và “chính quyền Lâm thời Việt Nam” bị giải tán. Ngày 14 đến 20-12-1976, Đại hội Đảng Lao Động họp lần đầu quyết định lấy lại tên là đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẫn được bầu là Tổng Bí Thư. Bộ mặt thật của đảng Cộng sản Việt Nam đã phơi bầy trước lịch sử. Sự kiện này chứng tỏ việc loan báo đảng CS Đông Dương tự giải tán ngày 11-11-1945 rồi thành lập đảng lao Động 16-3-1951 chỉ để che giấu bản chất CS, lừa dối nhân dân dưới danh nghĩa đảng Lao Động. Núp dưới danh nghĩa Việt Minh, dùng chiêu bài kháng chiến giành độc lập dân tộc nhưng thực chất là lợi dụng xương máu của đồng bào để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ Việt Nam và các nước Lào, Camphuchia mà thôi.

6. CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ HY SINH HÀNG TRIỆU NGƯỜI VN VÔ TỘI ĐỂ TIÊU HAO SINH LỰC HOA KỲ CHO LIÊN SÔ.

     Khi bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản xuống Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, cả Liên Sô lẫn Trung Quốc đều chủ trương đánh Mỹ, tiêu hao sinh lực Hoa Kỳ cho đến người Việt Nam cuối cùng để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản. Mỗi năm Hoa Kỳ đã chi tiêu 20 tỷ dollars cho chiến tranh trong khi Liên Sô chỉ chi viện 1 tỷ dollars khiến ngân sách Hoa Kỳ kiệt quệ. Đảng CS Liên Sô đã thành công trong việc phân hóa hàng ngũ lãnh đạo Hoa Kỳ khiến nội tình nước Mỹ bị chia rẽ trầm trọng. Cái gọi là “Hội chứng Việt Nam” đã làm mất niềm tin nơi người dân Hoa Kỳ và của cả đồng minh của Hoa Kỳ trên thế giới nữa.

7. CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ HY SINH HÀNG TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM VÔ TỘI ĐỂ MỞ ĐƯỜNG CHO ĐẾ QUỐC MỚI TRUNG CỘNG TIẾN XUỐNG ĐÔNG NAM Á.

    Đối với đế quốc mới Trung Cộng đây là một thắng lợi vì chiếm được miền Nam làm bàn đạp mở đường tiến xuống Đông Nam Á, mặt khác cuộc chiến Việt Nam đã hủy hoại tiềm lực của Việt Nam để Trung Quốc dễ bề thống trị. Chính vì món nợ trong chiến tranh nên Cộng Sản Việt Nam phải dâng đất nhường biển cho Trung Quốc. Ngày 25 tháng 12 năm 1999, Lê Khả Phiêu TBT đảng CSVN và Trần Đức Lương, chủ tịch nước CHXHCNVN đi Bắc Kinh ký kết Hiệp ước phân định biên giới. Hiệp ước này chính thức nhượng một phần lãnh thổ thuộc Ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc và nhiều dãy núi thuộc Hà Giang, Lạng Sơn. Ngày 30 tháng 12 năm 2000, nhà nước CSVN ký kết với Trung Quốc 2 hiệp ước phân định vùng vịnh Bắc Việt và Hợp tác nghề đánh bắt cá. Với 2 hiệp ước này, Trung Quốc chính thức khai thác tài nguyên hơn 11 ngàn cây số vuông trong vùng vịnh Bắc Việt. Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lãnh hải mới của Trung Cộng. Cuối cùng, người thắng trong 2 cuộc chiến tranh này chính là Trung Cộng và kẻ thua chính là Cộng Sản Việt Nam vì bộ mặt thật hại dân bán nước đã phơi bày trước nhân dân và họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

8. HỘI CHỨNG VIỆT NAM CHO HOA KỲ

     Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã để lại cho họ một hội chứng “sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ nước Mỹ”, đồng thời uy tín của Hoa Kỳ sút giảm trên chính trường quốc tế. Về phương diện chính trị, Hoa Kỳ đã bị đánh bại bởi chính quốc hội Hoa Kỳ với đa số đảng viên đảng dân chủ đã đặt quyền lợi đảng lên trên quyền lợi quốc gia để bị Cộng sản lừa dối và tùng phục quyền lực ngầm chi phối chính sách của Hoa Kỳ.

    Trong lịch sử Hoa Kỳ, nền dân chủ chính trị đã xây dựng nên một quốc gia hùng mạnh là biểu tượng của dân chủ tự do cho toàn thế giới, thế nhưng chính nền dân chủ đó đã bị giới tài phiệt lũng đoạn qua việc gây quỹ ứng cử nên các dân biểu nghị sĩ dễ bị lèo lái vì quyền lợi của nhóm tài phiệt. Việc hoạch định chính sách thay vì toàn thể hội đồng an ninh quốc gia quyết định thì hầu như giao phó cho viên cố vấn an ninh toàn quyền quyết định nên đã bị nhóm quyền lực ngầm thao túng vì quyền lợi riêng tư phe nhóm mà quên đi quyền lợi và cả danh dự của nước Mỹ. Chính trường Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam bị nhóm quyền lực ngầm mua chuộc tác động cả quốc hội Hoa Kỳ đã đưa nước Mỹ vào một sự kiện từng có trong lịch sử gọi là “Hội chứng Việt Nam” nên Tổng thống Johnson đã phải cay đắng thốt lên sự thật đau lòng:“Chính chúng ta đã đánh bại chúng ta!!!”.

     Vào thập niên năm mươi-sáu mươi, Hoa Kỳ tham dự chiến tranh Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. Bước sang thập niên bảy mươi, lợi dụng sự mâu thuẫn giữa Liên Sô và Trung Quốc sau cuộc chiến tranh biên giới  giữa hai nước hồi tháng 8 năm 1969, dẫn đến việc Liên Xô đưa ra các kế hoạch chi tiết cho một cuộc tấn công hạt nhân vào Trung Quốc. Mao Trạch Đông lo ngại và muốn tìm một sự hòa giải với Hoa Kỳ để Trung Quốc rảnh tay mà đối phó với Liên Sô nên Hoa Kỳ lại dùng chiến tranh Việt Nam để phân hoá hàng ngũ quốc tế Cộng sản. Để hoá giải ý đồ của Liên Sô muốn Hoa Kỳ sa lầy trong cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ đã “Việt Nam hoá” chiến tranh và tìm giải pháp rút quân trong danh dự. Hoa Kỳ đưa Trung Quốc vào thay Trung Hoa Dân Quốc trong hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và bỏ ngỏ vùng biển Đông Nam Á để Trung Quốc tách hẳn khỏi Liên Sô và trở thành đồng minh của Hoa Kỳ. Sau khi rút chân ra khỏi Việt Nam, chi phí dành cho chiến tranh được dồn sang chế tạo vũ khí cạnh tranh quốc phòng với Liên Sô nên năm 1981, chỉ với 11 tỷ dollars Hoa Kỳ đã chế tạo được phi thuyền con Thoi vượt xa Liên Sô trong lãnh vực không gian. Cuối năm 1988, cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa cộng sản ở các nước Đông Âu đã dẫn tới những biến đổi lịch sử: Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc quay trở lại theo con đường Tư bản chủ nghĩa. Cộng Hòa Dân chủ Đức sát nhập vào Cộng Hòa Liên bang Đức. Ngày 21-8 đảng Cộng sản Liên Sô bị đình chỉ hoạt động trong toàn liên bang, chính phủ Sô viết bị giải thể. Mười một nước cộng hòa tuyên bố độc lập, tách ra khỏi Liên bang Sô Viết. Một làn sóng chống đảng Cộng sản và chống Xã hội chủ nghĩa dâng cao khắp mọi nơi. Ngày 21-12-1991 chính thức thành lập các quốc gia độc lập SNG buộc Tổng thống Liên Sô M Gorbachev phải từ chức và cùng ngày đó, ngày 25-12-1991 lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điện Cẩm Linh (Kremlin) sau 74 năm bị hạ xuống. Đây là một thất bại nặng nề của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, dẫn đến hệ thống thế giới của chủ nghĩa Cộng sản trên thực tế không còn tồn tại nữa. Chính Hoa Kỳ đã góp phần giật sập Liên Sô, thành trì của chủ nghĩa Cộng Sản nên xét cho cùng, Hoa Kỳ thắng lợi nhất trong cuộc chiến này.

     Lời thú nhận “Tất cả chúng ta đều đã bị lừa” của Jane Fonda, người đã ủng hộ tích cực nhất cho phong trào phản chiến bị giựt dây bởi Cộng sản đã phải xin lỗi quân đội và nhân dân Hoa Kỳ đã nói lên tất cả sự thật. Không chỉ một Jane Fonda mà cả nước Mỹ và cả cán bộ đảng viên và nhân dân miền Bắc cũng bị lừa dối bởi bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chủ nghĩa Cộng Sản đã và đang bị nhân loại vất vào giỏ rác của lịch sử. Cuối cùng, hơn ba mươi năm sau, kẻ gọi là chiến thắng lại phải trải thảm đỏ mời người gọi là chiến bại để mong được là đối tác hàng đầu cả về kinh tế lẫn quân sự đã trả lời cho câu hỏi ai thắng ai trong cuộc chiến Việt Nam.

9. DÂN TỘC VIỆT NAM THẮNG

     Trong suốt thời gian chiến tranh, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng cả 5 trận đánh lịch sử. Cộng Sản Việt Nam đã thất bại nặng nề trong tổng công kích tết Mậu Thân 1968, trên phương diện chính trị Cộng Sản Việt Nam lại thất bại hơn vì không có một người dân nào ở miền Nam tự do “Tổng Nổi Dậy” theo lời kêu gọi của cái gọi là mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Thống Tướng Westmoreland, tư  lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đã chua chát nhận định: “Chúng ta đã tham dự một cuộc chiến mà bị trói một tay, một cuộc chiến tranh không được thắng. Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết với quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn…”. Hơn ba mươi năm sau khi kết thúc cuộc chiến, Henry Kissinger, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã tự nhận lỗi lầm: “Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải VNCH”.

 

     Sau ngày Cộng sản xâm chiếm miền Nam, hàng triệu người phải bỏ quê hương ra đi tìm tự do nhưng sau gần 37 năm, ngọn cờ vàng vẫn tung bay trên khắp thế giới như biểu tượng cho dân chủ tự do. Cuộc chiến ngày nay không còn là cuộc chiến của miền Nam tự do nữa mà đã trở thành cuộc chiến của toàn dân tộc chống tập đoàn Việt gian Cộng Sản độc tài, bất nhân hại dân bán nước. Một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ sẽ chuyển đổi lịch sử trong nay mai và mà thắng lợi cuối cùng chính là của dân tộc Việt Nam.

PHẠM TRẦN ANH

(Trích trong bộ  LƯỢC SỬ VIỆT NAM sẽ phát hành trong tháng 9 năm 2012) 

 

TUYÊN BỐ

 

TUYÊN B

 

1.     Nhận định rằng Quốc hội Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam vừa biểu quyết thông qua “Luật Biển 2012” ngày 21-6-2012, đồng thời việc xác nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc Việt Nam Cộng Hòa là việc làm cần thiết để bảo vệ chủ quyền không thể phủ nhận được của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2.     Nhận định rằng việc Công ty Quốc doanh Dầu khí của Trung Quốc CNOOC, đã mời các công ty nước ngoài đấu thầu thăm dò năng lượng trong 3 lô nằm trong đặc khu kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam là một hành động xâm chiếm lãnh hải và thềm lục địa của Việt Nam.

 3.     Lời Kêu Gọi toàn dân xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược của Đức Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống nhất ngày 1 tháng 7 năm 2012 đáp ứng nguyện vọng bức thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Trước hành động xâm lược của đế quốc mới Trung Cộng đang chuẩn bị gây chiến để chiếm cứ quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

TỔ  QUỐC LÂM NGUY, SƠN HÀ  NGUY BIẾN

 MẶT TRẬN DÂN TỘC CỨU QUỐC LONG TRỌNG TUYÊN BỐ:

 1.     Lịch sử đã chứng minh rằng, Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Chính Trung Quốc đã xâm chiếm đất đai của cộng đồng Bách Việt là lãnh thổ Trung Quốc hiện nay. Ngày 19-1-1974, Trung Cộng đã đánh chiếm Hoàng Sa thuộc chủ quyền của chế độ Việt Nam Cộng Hòa nên “Luật Biển 2012” cũng như việc xác nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là việc làm cần thiết để bảo vệ chủ quyền không thể phủ nhận được của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 2.     Cực lực lên án thái độ gây chiến xâm lược của đế quôc mới Trung Cộng. Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi công luận quốc tế của cả nhân loại tiến bộ hãy lên tiếng về việc đế quốc mới Trung Cộng xâm lược, thách thức lương tri của cả nhân loại tiến bộ. Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi Hiệp Hội các nước Đông Nam Á, các quốc gia văn minh yêu chuộng hòa bình hãy liên kết để ngăn chặn hành động xâm lược bành trướng của Trung Quốc.

 3.     Trước tình trạng Tổ Quốc Lâm Nguy Sơn Hà Nguy Biến, toàn thể nhân dân Việt nam trong và ngoài nước, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, địa phương, đảng phái, chính kiến quyết tâm xuống đường thể hiện lòng yêu nước để bảo vệ  giang sơn gấm vóc của chúng ta. Chúng tôi kêu gọi thanh niên sinh viên yêu nước, Đồng bào dân Oan, Công nhân bị bóc lột đồng loạt xuống đường chống Trung Cộng xâm lược.

 

Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả quân nhân yêu nước, các đảng viên Cộng Sản yêu nước hãy cùng với đồng bào toàn quốc đứng lên chuyển đổi lịch sử, sẵn sàng loạt trừ những phần tử phản quốc làm tay sai cho Trung Quốc đàn áp bắt bớ những người Việt Nam yêu nước biểu tình chống Trung Quốc xâm lược.

 

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

Dân Tộc Việt Nam Bất diệt

Việt Nam Muôn Năm…

Nguyện Cầu Hồn Thiêng Sông Núi độ trì cho Dân Tộc Việt Nam

 

Việt Nam ngày 30-6-2012 

MẶT TRẬN DÂN TỘC CỨU QUỐC

 

PHẠM TRẦN ANH

 

Biển Đông đầy biến động

Việt-Long, RFA

2012-06-29

Nói biển Đông lại nổi sóng e không còn đúng nữa, vì trên thực tế đó đã là vùng biền động thường xuyên trên khía cạnh chính trị. Biến động mới nhất là Việt Nam phản đối Trung Quốc gọi thầu khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên biển Đông.

Illustrated Wikipedia map

Vùng biển Thái Bình không yên bình

Không coi luật biển Việt Nam ra gì

Trung Quốc bác bỏ, nói sự phản đối đó vô hiệu. Trước lúc sự kiện này xảy tới, Trung Quốc đã phản đối Luật biển của Việt Nam vừa được quốc hội thông qua.  Tại sao Trung Quốc gọi thầu vào lúc này?

Đó là những lô dầu khí nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam, trùng lên những lô từ 128 đến 132, và trùng từ lô 145 đến lô 156. Từ giới hạn đó vào Quảng Ngãi chỉ cách 76 hải lý, cách khu gần nhất ở Nha Trang là 60 hải lý.  Điểm gần nhất giữa Nha Trang và Phan Thiết có 57 hải lý và cách đảo Phú Quý 30 hải lý, theo như Tổng Giám Đốc PetroVietnam tuyên bố.

overlapped-blocks

Việt Nam mạnh mẽ phản đối và kêu gọi các công ty ngoại quốc đừng tham gia đấu thầu, vì khu vực này đã được thăm dò và khai thác từ nhiều năm nay do PetroVietnam cùng các đối tác ngoại quốc là các Tập đoàn dầu khí gồm ONGC VIDESH của Ấn Độ, GAZPROM của Nga, và Exxon Mobil của Hoa Kỳ.

Trung Quốc gọi thầu có thể để trả đũa việc mà Trung Quốc đã phản đối là Luật Biển của Việt Nam được quốc hội thông qua hồi tuần trước. Trung Quốc muốn chứng tỏ Luật Biển của Việt Nam vô hiệu, Bắc Kinh không coi ra gì.

Tái khẳng định “Lưỡi Bò”

Có ý kiến khác hơn thế, cho rằng bằng cách gọi thầu như vậy, Trung Quốc vừa trả đũa vừa tái xác định chủ quyền lãnh hải theo đường Lưỡi Bò mà họ áp đặt.  CNOOC, tức Tập đoàn dầu khí hải dương quốc gia Trung Quốc, nói là 7 lô trong số 9 lô này nằm trong vùng trũng mà họ gọi Trung Kiến Nam và 2 lô nằm trong một phần của các vùng trũng Vạn An và Nam Vĩ Tây, cũng do Trung Quốc đặt tên.

Tuy nhiên đây cũng không phải là điều bất ngờ, mà Việt Nam có thể đã dự đoán trước sau gì Trung Quốc cũng làm như vậy, từ khi Bắc Kinh phản đối New Delhi về dự án hợp tác với Việt Nam ở hai lô 127, 128 mà sau cùng Ấn Độ đã bỏ.

Ấn Độ quả đã rời đi và phải trả cho PetroVietnam 15 triệu đô la đền lại hợp đồng, nhưng New Delhi tuyên bố rằng công ty Ấn Độ đã rời bỏ hoàn toàn vì lý do kỹ thuật.

Việc mời thầu của Trung Quốc ở 9 lô trùng lên hải phận đặc quyền kinh tế của Việt Nam sẽ có triền vọng ra sao?

Ai vội bỏ thầu!

Có hy vọng là các công ty ngoại quốc sẽ tiếp tục khai thác, thăm dò ở những nơi đã có  hợp đồng, nhưng sẽ phải do dự, chần chừ, để chờ xem diễn tiến cuộc tranh chấp lãnh hải ra sao ở những nơi chưa ký hợp đồng, và cũng chờ xem thái độ của Hoa Kỳ , Nhật Bản, Ấn Độ như thế nào.

Là những công ty quốc tế già đời, họ chưa vội lao ngay vào chỉ vì mối lợi dầu khí.

Thứ nhất, nhiều công ty quốc tế chủ trương không làm ăn ở những nơi có tranh chấp. Và thứ nhì là nguồn dầu khí để thăm dò và khai thác không hề thiếu đối với họ.

Thêm vào đó các công ty phương Tây làm ăn còn có đạo đức chính trị, một phần nữa cũng có sự tham vấn với chính phủ của họ, mà người ta tin rằng những chính phủ này không bênh vực Trung Quốc.

indian-oil-rig

Hoa Kỳ  và Nga từng tuyên bố họ có toàn quyền hợp tác kinh tế tại biển Đông, trong lãnh hải hợp pháp của các quốc gia liên quan. Các công ty đó sẽ quyết định hợp tác ở phần nào, với nước nào trong khu vực.

Ngoài ra, khu vực bị Trung Quốc gọi thầu đã có sẵn những phần diện tích mà các công ty Ấn Độ, Nga và Mỹ đã ký hợp đồng thăm dò – khai thác với Việt Nam. Total với BP chẳng lẽ tranh giành những lô dầu sát cạnh hay trùng hợp với GazProm, Exxon Mobil và ONGC?

Quyền tự do lưu thông

Trong những công ty quốc tế đó có Exxon Mobil của Mỹ. Hoa Kỳ không phê chuẩn Công ước Luật biển, Exxon Mobile có thể phán định phần nào thuộc về nước nào không?

Tuy không phê chuẩn Công Ước Luật biển nhưng Hoa Kỳ vẫn tôn trọng quan điểm của các quốc gia đối tác về lãnh hải và thềm lục địa. Song song với sự tôn trọng đó, Hoa Kỳ cũng giành quyền sử dụng hành lang đường biển dọc bờ biển mọi quốc gia trên khắp thế giới, trong những điều kiện không vi phạm luật biển quốc tế.

Ở biển Đông người ta thấy có lần Trung Quốc đã gây sự với máy bay thám sát của Hoa Kỳ hoạt động ở phía Nam đảo Hải Nam, chính vì Mỹ giành lấy quyền tự do lưu thông đó.

Biển Đông là hải lộ sinh tử của Trung Quốc cũng như của Nhật Bản và Hàn quốc ở Đông bắc Á.

Nhật, Hàn là hai đồng minh chí cốt,  hai cái chân đứng vững chắc của Hoa Kỳ ở Đông Á. Một phần lớn là vì yếu tố đó mà Mỹ thường nói hành lang thuỷ lộ biển Đông liên quan đến quyền lợi thiết yếu của họ .

Lưỡng đầu thọ địch?

Trong khi đó thì Philippines cùng Trung Quốc rút tàu ra khỏi Scarborough, và Manila lại khánh thành nhà trẻ trên đảo Thị Tứ mà họ đặt tên là Paga-sa. Phải chăng Việt Nam rơi vào thế “lưỡng đầu thọ địch”?

Thực ra Manila chẳng qua chỉ gỡ thể diện với người dân của họ trong lúc diễn ra cuộc đối đầu ở Scarborough, nơi mà hai bên bảo nhau kéo tàu ra khỏi vùng bãi cạn.

Thế “lưỡng đầu thọ địch”, có thể hình dung như uốn mình theo chữ S để tay với nắm Hoàng Sa, chân với giữ Trường Sa, thì Việt Nam đã phải gánh chịu từ khi Trung Quốc tấn công biên giới năm 1979 rồi công khai trở mặt áp bức trên biển Đông, chẳng phải chỉ vì mấy cái nhà trẻ của Philippines.

Đảo Thị Tứ là đảo lớn thứ nhì ở Trường Sa. Lớn nhất ở Trường Sa là đảo Ba Bình, cũng là tên của Việt Nam đặt, nhưng đã do Đài Loan chiếm đóng.  Đảo Thị Tứ trên bản đồ thế giới vẫn mang tên là Thitu Island, vì các nhà địa lý, hải hành quốc tế không biết viết dấu chữ Việt, chứng tỏ Việt Nam đã công bố chủ quyền nơi đó từ lâu. blue-ridge-flagship

Nhưng chủ quyền ở Trường Sa nói chung, thì trên thực tế Việt Nam chỉ giữ được những đảo, đá, bãi hiện đang chiếm giữ chứ không thể nào giữ được tất cả, vì nó quá xa Bà Rịa- Vũng Tàu,  trong khi Palawan của Philippines ở gần nó hơn.

Việt Nam ban hành Luật biển xác định chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa để rộng đường ăn nói trên trường quốc tế và đề cao tinh thần tuân thủ Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc. Nhưng Trung Quốc cứ gọi đó là sự vi phạm Bản Tuyên bố về Ứng xử và vi phạm các hiệp ước song phương về lãnh thổ, lãnh hải.

Thực ra, về lãnh hải, hai bên chỉ ký Hiệp ước phân định vịnh Bắc bộ, theo đó Việt Nam vì nguyên tắc quốc tế về đường trung tuyến giữa hai lãnh hải, đã phải nhường cho Trung Quốc một số diện tích kha khá. Lãnh hải biển Đông nơi có các lô dầu khí không nằm trong hiệp ước này.

Bản tuyên bố về Ứng xử thì chính Trung Quốc đã vi phạm trước cả Philippines lẫn Việt Nam bằng những hành vi gây căng thẳng như diễu tàu Ngư Chính, đánh cá ở sát bờ Philippines, bắt giữ trấn lột tàu cá Việt Nam, gọi thầu ở vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam… nhưng vẫn lu loa lên án, vu ngược cho láng giềng “16 chữ vàng”!

Dù sao chăng nữa…

Việt Nam còn có lợi thế được phương Tây ủng hộ. Trong khi Hoa Kỳ kiên quyết đặt chân đứng ở châu Á, Bộ trưởng quốc phòng Leon Panetta chẳng phải ngẫu nhiên đến thăm tàu Mỹ và đặt nhẹ bàn chân lên bãi cát trắng Cam Ranh, thì Trung Quốc khó lòng lấn chiếm vào hải phận miền Trung bằng kinh tế cũng như bằng vũ lực.

Nhưng dù sao chăng nữa, nai lưng gánh vác lấy nhiệm vụ của chính mình, Việt Nam phải thật cương quyết chống lấn chiếm và xâm thực cả trên biển lẫn trên đất, cả chính trị lẫn kinh tế, thì mới mong giữ được nước.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved

ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC, CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?”

 TS Nguyễn Anh Tuấn, nhà văn Chu Tấn, học giả Vũ Hữu San,

nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh

        Nhà văn Chu Tấn, Học giả Vũ Hữu San, Nhà Biên Khảo

Phạm Trần Anh, GS TS Nguyễn Xuân Vinh và LS Trần Thanh Hiệp

                   Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh và học giả Vũ Hữu San

Nhạc sĩ Hoàng Vân, Học giả Vũ Hữu San và LS Trần Thanh Hiệp

 

NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HẢI NGOẠI 

HỘI LUẬN

 

“ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC”

CHÚNG TA PHẢL LÀM GÌ? 

  

Little Saigon 03-06-2012

 

Hơn 200 đồng hương đã tới tham dự buổi giới thiệu Tuyển Tập “Biển Đông Nổi Sóng” và cuộc hội luận “Đại Họa Mất Nước”, chúng ta phải làm gì?” do Hội Quốc tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á tổ chức tại hội trường Văn Lang vào lúc 2.30pm ngày Chủ nhật  3-6-2012. Thành phần diễn giả và quan khách tham dự được giới truyền thông báo chí ghi nhận là hết sức đặc biệt với sự hiện diện của Luật sư Trần Thanh Hiệp chủ tịch Trung Tâm Nhân quyền về Việt Nam đến từ Pháp Quốc, Tiến sĩ Khoa học chính trị Nguyễn Anh Tuấn từ Hawai, Học giả Vũ Hữu San đến từ SanDiego và nhà văn Chu Tấn đến từ SanJose. Thành phần quan khách gồm có GS Tiến sĩ khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch Tập thể Cựu Chiến sĩ QLVNCH, LS NguyễnXuân Nghĩa, CT CĐNVQG Nam California, Tiến sĩ Phạm Kim Long, Nghị viên Tạ Đức Trí, phó thị trưởng thành phố Wesminster, Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhà văn Trần Phong Vũ, Nhà văn nhà báo Đỗ Tiên Đức, Nguyễn vạn Hùng, gs Song Thuận CLB Hùng Sử Việt, bs Ngiêm Phú, Bs Nguyễn Xuân Quang, LS Đỗ Thái  Nhiên, ĐS Trần Ngọc Thiệu, nhà thơ Vũ Lang, nhà thơ Ngô Xuân Hậu, nhân sĩ Phan Đa Văn, Trần Thế Ngữ,  … đông đủ các cơ quan truyền thông báo chí và anh chị em nghệ sĩ Câu Lạc bộ Tình Nghệ sĩ, CLB Thi văn Tao Đàn Hải Ngoại.

 

Mở đầu chương trình GS TS Nguyễn Thanh Liêm, CT Hội Quốc tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á lên chào mừng và tường trình sinh hoạt của hội QTNC Biển Đông Nam Á sau hơn 2 năm hoạt động. Kế tiếp ca sĩ Lan Hương, Khánh Vân và Xuân Thanh của  Ban Tù ca Xuân Điềm đã đồng ca bài Dân Oan của nhạc sĩ Xuân Điềm diễn tả nỗi oan khiên của cả triệu dân oan tiến về Hà Nội, Sài Gòn để đòi lại đất đai nhà cửa đã bị tập đoàn bạo quyền tư sản đỏ cướp đoạt. Nghệ sĩ Phi Loan diễn ngâm lôi cuốn cử tọa qua bài thơ “Em tôi đau vì tiền đồ Tổ Quốc” do chính cô sáng tác, cử  tọa lại hừng hực căm hờn xót sa với bản huyết lệ ca “Việt Nam Tôi Đâu” của nhạc sĩ trẻ yêu nước Việt Khang qua giọng ca truyền cảm vang vọng của ca sĩ Xuân Thanh. Bầu không khí trong hội trường như chùng xuống, cử tọa im lặng xót sa trước hiện tình bi đát của đất nước và Luật sư Trần Thanh Hiệp nguyên luật sư các tòa Thượng Thẩm Paris, Sài Gòn, cựu Bộ Trưởng Bộ Lao Động Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lên thuyết trình đề tài “Từ bảo vệ Hoàng Sa Trường Sa đến chống Trung Cộng xâm lược”. Mặc dù đã gần 90 tuổi, giọng nói sang sảng của nhà cách mạng lão thành Trần Thanh Hiệp đã được cử tọa nhiệt liệt tán thưởng. Chúng ta phải lên tiếng trước nỗi đau của dân tộc, Vì  sao? Vì  bọn “Thù Trong, Giặc Ngoài” được anh chị em nghệ sĩ trong CLB Tình Nghệ sĩ trình bày cuốn  hút người nghe. Một lần nữa, tham dự viên Hội luận lại nhiệt liệt vỗ tay tán thưởng Học giả Vũ Hữu San nguyên Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư với đề tài “Xem Bản đồ Biển Đông thì biết rõ Hải Phận…”. Chúng ta phải phục hồi sự thật lịch sử, phục hồi danh dự của quân lực VNCH, phát huy chính nghĩa quốc gia để giải thể chế độ CS bạo tàn bất nhân hại dân bán nước đó là nội dung của đề tài “Ba mươi sáu năm sau cuộc chiến Việt Nam, Ai thắng ai?” do TS Khoa học Chính trị Nguyễn Anh Tuấn thuyết trình. Những chứng cứ cụ thể được trích dẫn từ gần 200 cuốn sách của các học gỉa Mỹ và cả người trong cuộc, chứng nhân của lịch sử cựu TT Richard Nixon đã được cử tọa cổ võ bằng những tràng pháo tay dòn dã.  Ca sĩ Tuấn Minh của Hưng Ca Việt Nam với giọng hát hết sức truyền cảm đã  trình bày bài Biển Đông Dâng Sóng Tự Do của nhạc sĩ  Nguyệt Ánh nhóm Hưng Ca Việt Nam.

 

Sau đó, MC đã mời chủ tọa đoàn cuộc hội luận gồm LS Trần Thanh Hiêp, GS Nguyễn Xuân Vinh, Học gỉa Vũ Hữu San, Nhà Biên Khảo Lịch sử Phạm Trần Anh, TS Nguyễn Anh Tuấn, nhà văn Chu Tấn lên bàn chủ tọa. Nhà Biên Khảo Lịch sử Phạm Trần Anh được chủ tọa đoàn tín nhiệm điều hợp cuộc Hội luận. Thuyết trình viên, nhà văn Chu Tấn đã đưa ra nh ững nhận định thực tế rồi đưa ra phương cách để cứu quốc và kiến quốc….Với giọng nói hùng hồn đanh thép, nhà văn Chu Tấn đã được hội thảo viên tán thưởng nồng nhiệt. Sau đó là phần hội luận dưới sự điều hợp của nhà biên khảo lịch sử Phạm Trần Anh. Nhiều tham dự viên đã lên thảo luận tìm phương cách cứu dân cứu nước sôi nổi. Các ý kiến của thuyết trình viên và của hội thảo viên đã được nhà Biên Khảo lịch sử Phạm Trần Anh đúc kết trong Bản Tuyên Cáo của cuộc Hội Luận về “Đại Họa Mất Nước, Chúng ta phải làm gì?”. Buổi hội luận kết thúc sau khi nhà Biên khảo lịch sử Phạm Trần Anh  đọc toàn văn bản Tuyên Cáo:

 

Hôm nay, ngày 3-6-2012, cuộc hội luận về hiện tình Đất nước với chủ đề “ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC, CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?” được tổ chức tại Little SàiGòn, thủ đô của Người Việt Tỵ nạm Cộng Sản đã đồng thanh nhận định: 

 

1. Nhận định rằng dân tộc Việt đang đối mặt với “Đại Họa Mất Nước” của “Thù Trong” là tập đoàn Việt gian Cộng sản hại dân bán nước và “THÙ NGOÀI” là đế quốc mới Trung Cộng đang lăm le xâm lược nước ta. Tổ Quốc Việt Nam đang Lâm Nguy, Sơn hà đang nguy biến.

 

2. Nhận định rằng nhiệm vụ của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước chúng ta là phải góp phần của mình để cứu nguy đất nước và xây dựng kiến thiết quốc gia trong thời kỳ hậu Cộng sản.

 

3. Nhận định rằng gần 90 chục triệu đồng bào Việt Nam của chúng ta đang quằn quại rên xiết dưới sự thống trị bạo tàn của Cộng sản bất nhân hại dân bán nước. Chế độ Việt gian Cộng sản càng ngày càng công khai cướp đoạt trắng trợn đất đai ruộng vườn của nông dân từ vụ Tiên lãng đến Văn Giang, Vụ Bản…. để vơ vét tài sản của nhân dân làm giàu cho giai cấp tư sản đỏ, cường quyền đỏ trên mồ hôi, nước mắt và xương máu của nhân dân. Tập đoàn Việt gian Cộng sản đã sử dụng bộ máy công an, bọn  xã hội đen đàn áp dã man những người dân bị cướp đất. Hành động cướp ngày này khiến người dân phẫn uất cùng cực đã phải phản ứng chống lại qua tiếng súng của Đoàn văn Vươn và bản huyết lệ ca “Việt nam Tôi Đâu?” của nhạc sĩ yêu nước Việt Khang. 

 

4. Nhận định rằng đồng bào dân oan cả nước đã xuống đường để đòi lại đất đai, tài sản mồ hôi nước mắt của họ, xuống đường để giành lại quyền sống làm người, quyền làm chủ đất nước trước nạn ngoại xâm Trung Quốc xâm lược. Gần 4 triệu đồng bào Việt Nam yêu nước sinh sống tại Hải ngoại đã liên tục đấu tranh, vận động công luận quốc tế ủng hộ cho công cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta. Chưa bao giờ công luận quốc tế và các quốc gia văn minh ủng hộ chính nghĩa của toàn dân Việt Nam như lúc này.

 

5. Nhận định rằng chưa bao giờ đất nước dân tộc chúng ta lại trải qua một thời kỳ bi thảm và ô nhục như ngày hôm nay. Ô nhục vì chưa một triều đại nào, một tập đoàn cầm quyền nào trong lịch sử lại ươn hèn nhục nhã cam tâm bán nước để cầu vinh như những tên thái thú xác Việt hồn Tàu trong bộ chính trị của đảng CS Việt gian. Chúng ta đang trải qua thời kỳ bi thảm vì tập đoàn Việt gian CS đã hèn với giặc lại tàn ác với nhân dân. Hàng triệu dân oan trong nước đang kêu gào thảm thiết “Đất Đai tôi đâu?”, hàng chục triệu đồng bào Việt Nam yêu nước đang cất lên tiếng nói từ đáy lòng “Việt Nam Tôi Đâu?”, đây chính là ý nguyện của toàn dân và 150 ngàn chữ ký của đồng bào Hải ngoại cùng với 149 Hội Đoàn thống nhất hành động kêu gọi chính là một hội nghị Diên Hồng Thời Đại xuất phát từ ý nguyện của nhân dân kêu gọi toàn dân đấu tranh cho dân chủ tự do, đấu tranh giành lại quyền sống làm người.  Chúng tôi, những công dân Mỹ gốc Việt nhân danh “WE THE PEOPLE” thỉnh nguyện Tổng Thống Hoa Kỳ và các nước văn minh trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

 

Căn cứ vào những nhận định trên, Chúng tôi những Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại long trọng tuyên cáo:

 

1. Cương quyết chống tập đoàn Việt gian Cộng sản hại dân bán nước và chống Trung Cộng xâm lược Việt Nam. Toàn thể đồng bào Việt nam trong nước và hải ngoại quyết tâm bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải, quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Philippine trên đảo Bãi Cạn, đồng thời kêu gọi các chính phủ và công dân các nước ASEAN có những hành động cụ thể nhằm đoàn kết với Philippines để bảo vệ chủ quyền biển Đông Nam Á của các nước ASEAN theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Để bảo vệ chủ quyền lịch sử Đông Nam Á, bảo vệ nguồn tài nguyên vô tận của khu vực Đông Nam Á, tất cả các nước Đông Nam Á đồng chủng tộc, đồng văn hóa phải cùng chung một tiếng nói của cả khu vực, không thảo luận riêng rẽ mà phải đa phương hóa, quốc tế hóa Biển Đông Nam Á theo đúng Hiến chương Đông Nam Á ký kết tháng 11 năm 2007. Mặt khác, các quốc gia Đông Nam Á phải hợp nhất sức mạnh để thành lập một liên minh Phòng thủ chung (SEATO) tạo một đối trọng quân bình quyền lực với đế quốc mới Trung Quốc.

 

2. Quyết tâm thực hiện 2 sứ mạng Cứu Quốc và Kiến Quốc, phục hồi sự thật lịch sử, phát huy chính nghĩa quốc gia để vận động toàn dân đứng lên giành lại quyền dân chủ tự do, giành lại quyền tự quyết của nhân dân và xây dựng một chế độ dân chủ Pháp trị, Nhân bản và chính thống cho dân tộc Việt nam.

 

3. Quyết tâm hậu thuẫn và yểm trợ tích cực cho Phong Trào Dân oan, phong trào nông dân đòi đất đai, phong trào công nhân đòi quyền sống ngày một lớn mạnh trên qui mô toàn quốc, kết hợp với phong trào đòi tự do, Dân chủ, Nhân quyền tiến tới toàn thắng tại Việt nam.

 

4. Chúng tôi thành tâm tha thiết kêu gọi các đảng phái, các mặt trận, phong trào và các lực lượng đấu tranh trong và ngoài nước cùng thống nhất hành động để hình thành LIÊN MINH DÂN TỘC VIỆT NAM làm chủ lực cách mạng, vận động toàn dân quốc nội quốc ngoại, vận động quốc tế đưa cuộc cách mạng dân tộc Dân chủ đến thắng lợi cuối cùng.

 

5. Chúng tôi thành tâm tha thiết kêu gọi các tôn giáo, các đoàn thể, các cộng đồng cùng đồng bào các giới trong và ngoài nước, không phân biệt gìa trẻ, gái trai cùng chung sức chung lòng vận động thành hình HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI để tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc cứu nguy tổ quốc.

       Làm tại Little Saigon, Thủ đô Tinh Thần của Người Việt Tỵ nạn Cộng Sản ngày 3-6-2012

TẦU CỘNG TUNG TIN THAY ĐỔI CHÍNH TRỊ-VIỆT CỘNG GIỞ TRÒ CỦNG CỐ QUYỀN LỰC

LÝ ĐẠI NGUYÊN
 

TẦU CỘNG TUNG TIN THAY ĐỔI CHÍNH TRỊ

VIỆT CỘNG GIỞ TRÒ CỦNG CỐ QUYỀN LỰC

 

Để chuẩn bị dư luận cho Tập Cận Bình, người thừa kế Hồ Cẩm Đào lên lãnh đạo nước Tầu, sang Hoa Thịnh Đốn hội kiến với tổng thống Mỹ,  Barack Obama, ngày 14/02/2012, Ôn Giao Bảo thủ tướng Trungcộng, nhân kỷ niệm thành lập nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa 01/10/1949 – 2011 đã lớn tiếng tuyên bố: “Chúng ta sẽ nỗ lực lớn để đảm bảo và kiện toàn dân chủ và giải quyết những vấn đề người dân quan tâm nhất, cũng như lợi ích liên quan tới họ”. “Chúng ta sẽ có nỗ lực lớn để đẩy mạnh mở cửa và cải cách kinh tế, cải cách hệ thống chính trị, văn hóa và xã hội”. “Chúng ta  sẽ có nỗ lực lớn để bảo vệ công bằng xã hội và đảm bảo quyền dân chủ của người dân và công bằng tư pháp”. Trong cuộc gặp tổng thống Mỹ Obama, Tập Cập Bình cũng dựa theo quan điểm trên đây của Ôn Gia Bảo để hứa hẹn rằng: “Chính phủ của chúng tôi luôn luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, coi trọng nguyện vọng và đòi hỏi của nhân dân. Trong khả năng của các điều kiện quốc gia, chúng tôi sẽ tiếp tục theo đuổi những chính sách và biện pháp để thăng tiến công bằng xã hội, công lý và hài hòa xã hội và đẩy mạnh nguyên tắc nhân quyền”.

 

Trong cuộc họp báo sau lễ bế mạc kỳ họp toàn thể Quốc Hội Trungcộng, tại Nhân Dân Đại Sảnh ở Bắckinh ngày 14/03/12, Ôn Gia Bảo một lần nữa lên tiếng: “Phải có những cải cách chính trị khẩn cấp ở thượng tầng nhà nước và đảng Cộngsản, để Trungquốc có thể tiếp tục phát triển, đồng thời tránh nguy cơ tái diễn lại một thảm họa kiểu “Cách Mạng Văn Hóa”. “Cải cách chính trị của Trungquốc không thể dậm chân tại chỗ, hay đi dật lùi, bởi vì không đem lại lối thoát”. Hệ thống dân chủ của Trungquốc sẽ tiến tới phù hợp với các điều kiện quốc gia, không có trở lực nào có thể đẩy lui tiến trình này”. “Chính phủ phải học từ những sự chỉ trích”. Ông nói: “Tôi vẫn thường xuyên tìm các quan điểm phê phán trên Internet…có nhiều người dân Trungquốc vẫn không hài lòng về tình trạng bất công pháp lý”. Ông bảo đảm rằng: “Trungquốc  sẽ có thể được dân chủ hóa dần dần qua kinh nghiệm ở các địa phương…Nến nhân dân có khả năng quản lý một làng, thì họ cũng có thể quản lý công việc của một xã, một huyện. Vì thế chúng ta cần khích lệ nhân dân can đảm theo hướng đi đó”. Ngày 16/03/12, Tâp Cận Bình than phiền: “Đảng Cộngsản chỉ là nơi tập trung thành phần giá áo túi cơm, cần phải được trong sạnh hóa”.

 

Một cuộc thanh trừng cánh tôn thờ chủ nghĩa Mao Trạch Đông là Bạc Hy Lai, bí thư thành ủy Trùng Khánh, một trong số 21 ủy viên Bộ Chính Trị Trungcộng, vây cánh của Chu Vĩnh Khang là ủy viên Thường Trực Bộ Chính Trị, coi về an ninh, một trong số 9 người lãnh đạo tối cao của Trungcộng. Khiến cho đảng và nhà nước Trungcộng rúng động. Theo tác giả Li Heming trên mạng Epochtimes – China News tiết lộ về nguồn tin cao cấp từ Bắckinh thuộc thành phần chủ chốt lãnh đạo Đảng Cộngsản Trungquốc thì họ đã đạt được 4 điểm đồng thuận về phương hướng chung là Trungquốc sẽ đi theo con đường dân chủ: “1- Mọi người từ tất cả các tầng lớp xã hội, các đảng phái chính trị, tổ chức xã hội nên cử đại diện để thành lập một ủy ban chuẩn bị cho một Hiến Pháp mới. Họ sẽ soạn thảo một Hiến Pháp Mới bảo vệ các quyền của công dân tự do lập hội và các đảng phái chính trị. 2- Sẽ có thông báo của Đảng Cộngsản Trungquốc đã hoàn thành sứ mệnh của nó như là đảng cầm quyền. Đảng viên sẽ cần phải được tái đăng ký, với sự lựa chọn vào lại đảng hoặc bỏ đảng. 3- Ngày 04 tháng 06, Pháp Luân Công và tất cả các nhóm người bị đàn áp sai lầm trong quá trình cống hiến bản thân để thực hiện dân chủ cho Trungquốc sẽ được phục hồi và được bồi thường. 4- Quân đội sẽ được Quốc Hữu Hóa”. Đây có thể là tung tin thăm dò dư luận. Có thể là phát xuất từ sự nóng lòng của những người có lòng. Đây cũng có thể chỉ là tin vịt.

 

Nhưng lời tuyên bố đúng nhất, thật nhất của Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông, Uông Dương, người đã cho dân chúng làng Ô Khảm trực tiếp bầu ra những nhà quản trị của Làng mình, đưa ra hôm 09/05/12 rằng: “Nói đảng Cộngsản và chính quyền phục vụ dân là một điều sai quấy, cần phải dẹp đi”. “Chúng ta phải vất bỏ đi ý tưởng sai lầm cho rằng, hạnh phúc của nhân dân là do đảng và chính phủ mang lại” Ấy thế mà cái đảng Việtcộng chết tiệt, trong khóa họp lần thứ 5 của Ban Chấp Hành Trung Ương – khóa XI về thay đổi Hiến Pháp 1992, vẫn giữ lại nội dung của Điều 4: “Đảng cộng sản Việtnam…là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”. “Đất đai…thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện sở hữu và thống nhất quản lý”.Thành lập Ban Chỉ Đạo Trung Ương phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính Trị do đồng chí Tổng Bí Thư là trưởng ban”. Có nghĩa là đảng trao cho Nguyễn Phú Trọng chiếc búa chống tham nhũng để trị chính phủ của Nguyễn Tấn Dũng. Thối nát vẫn là thối nát. Trong khí đó tổng thống Mỹ, Barack Obama vừa ký lệnh mới chống cái ác, vi phạm nhân quyền. Ông cho đây là khuôn khổ Định Chế Hoá. Ông tuyên bố: “Chúng ta cần làm đủ mọi việc để ngăn ngừa và đáp ứng với những tội ác như vậy. Không thể nhân danh chủ quyền quốc gia để giết hại người dân”. Thời nhân danh chủ quyền quốc gia để đàn áp, bóc lột, giết hại dân lành đã chấm dứt. Hình như giới lãnh đạo Trungcộng đã hiểu được điều đó. Còn Việtcộng vì ngu, tham,  ác,vẫn coi dân là kẻ thù để dễ bề đàn áp, bóc lột. Rồi sẽ bị đền tội chẳng sai. Hãy chờ xem!

 
LÝ ĐẠI NGUYÊN  Little Saigon ngày 15/05/2012.
 

KHƠI DÒNG SỬ VIỆT

KHƠI DÒNG SỬ VIỆT

 

(Viết lại theo ý bài nói chuyện nhân Đại Nhạc Hội “KHƠI DÒNG SỬ VIỆT” do Little Saigon Foundation SanDiego tổ chức với sự tham dự của hơn 1.500 đồng hương)

 

Kính thưa quý vị quan khách

Kính thưa quý đồng bào, quý chiến hữu và các bạn trẻ yêu nước

Kính thưa quý vị,

 

Trước hết, tôi xin gửi lời chào trân trọng nhất tới toàn thể quý vị và cũng không quên cám ơn các bạn trẻ yêu nước trong Little Saigon Foundation San Diego đã tổ chức thành công một Đại Nhạc Hội “KHƠI DÒNG SỬ VIỆT” với sự tham dự đông đảo chưa từng có như ngày hôm nay. Thưa quý vị, tôi thực sự xúc động khi đứng trước quý vị để chúng ta cùng ôn lại những dòng lịch sử thương đau mất mát của dân tộc. Quý vị đã bỏ một buổi tối cuối tuần bên mái ấm gia đình để đến đây không những khơi dòng lịch sử mà chính quý vị, chúng ta cùng với toàn dân trong nước đang góp phần tranh đấu chuyển đổi lịch sử để cứu dân cứu nước trước cảnh thù trong, giặc ngoài trong giờ phút lịch sử trọng đại này.

 

Thưa quý vị,

 

Đã 36 năm qua đi, 36 năm lưu vong nơi đất khách quê người nhưng trong lòng lúc nào cũng ấp ủ hoài bão một ngày trở về quang phục quê hương. Ngày hôm nay, Little Saigon Foundation do anh em giới trẻ SanDiego tổ chức một “Đại Nhạc Hội KHƠI DÒNG SỬ VIỆT nhân kỷ niệm “Ngày Quốc Hận 3-4-1975”. Tưởng niệm ngày Quốc hận để chúng ta cùng kính cẩn tưởng niệm những chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì lý tưởng tự do, chúng ta kính cẩn cúi đầu trước những tấm gương oai hùng dũng liệt của những tướng lãnh sĩ quan và binh sĩ quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tuẫn tiết khi Sài Gòn rơi vào tay quân CS. Đồng thời chúng ta cũng không quên kinh cẩn tưởng niệm những chiến sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ sau ngày mất nước đã bị chế độ CS bạo tàn bất nhân đem ra pháp trường xử tử và những chiến sĩ lao tù đã chết vì bệnh tật đói khát trong các trại tù khắc nghiệt của CS.

 

 

Thưa quý vị,

 

Lịch sử tiến hoá một dân tộc không bao giờ là con đường thẳng mà thăng trầm trước những chông gai thách thức nhưng theo sử gia Arnold Toynbee, Việt Nam là một trong số nền văn minh tối cổ ngang hàng với văn minh Trung Hoa, văn minh Ấn Độ, văn minh Hy Lạp, văn minh La Mã của nhân loại còn tồn tại mãi tới ngày nay. Sử gia thời danh Arnold Toynbee đã nhận định là “Nếu thiếu những bức bách đòi hỏi dân tộc đó phải biết vận dụng một cách vượt bực khả năng xoay chuyển tình thế thì không có điều kiện để dân tộc đó thể hiện được hết sức mạnh và sự sáng tạo của họ. Chính những sự đáp ứng thích hợp trước những thách thức để vận dụng mọi cách vượt bậc khả năng xoay chuyển tình thế đã đưa tới những thành tựu văn hoá lớn lao, đã tạo nên bản lĩnh của dân tộc đó”.

Các công trình nghiên cứu mới nhất, khoa học nhất, thuyết phục nhất đã chứng minh rằng Việt tộc là một đại chủng, Dân tộc Việt là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất với “VĂN MINH HÒA BÌNH”, một nền văn minh tối cổ của nhân loại. Chúng ta có quyền tự hào là một dân tộc có lịch sử lâu đời với gần năm ngàn năm văn hiến, một dân tộc có sức sống mãnh liệt nhất nên trải qua gần một ngàn năm nô lệ vẫn giành lại đươc nền đôc lập để tồn tại mãi với thời gian. Trên thế giới có lẽ không một dân tộc nào chịu đựng thử thách gian nan khốn khó hơn dân tộc Việt Nam. Lịch sử cũng đã chứng minh là dân tộc ta đã đáp ứng được những yêu cầu bức bách, những thách thức của từng thời đại để Việt Nam còn tồn tại mãi tới ngày nay.

Những kỳ tích lịch sử kể từ thời lập quốc đến nay bắt nguồn từ truyền thống của một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến với nền văn minh đạo đức tự xa xưa. Chính truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc con Rồng cháu Tiên đã viết lên những trang sử huy hoàng có một không hai trong lịch sử nhân loại. Nhà sử học phương Tây Buttinger cũng thừa nhận cái sức sống vô biên của Việt tộc: “Từ khi người Trung Quốc khuất phục đến khi thống trị được họ, văn hoá Trung Quốc vẫn không thâm nhập được vào quần chúng Việt Nam”. Không những không thâm nhập được mà sức chiến đấu mãnh liệt của dân tộc Việt Nam để đồng hoá dân tộc thống trị hơn là bị đồng hoá vào dân tộc thống trị như nhà Việt Nam học Paul Mus đã viết:“ Ngay từ ngày lập quốc, tất cả then chốt của lịch sử Việt Nam đều ở cái tinh thần đối kháng đã biết kết hợp một cách kỳ lạ, một bên là năng lực đồng hoá lạ lùng, bên kia là ý chí quật khởi quốc gia không chịu khuất phục mặc dầu bị thua trận, bị phân tán, bị chinh phục. Hơn một ngàn năm bị sát nhập hoàn toàn vào Trung Quốc, từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên đến thế kỷ thứ mười sau kỷ nguyên, thay vì làm cho dân tộc Việt Nam kiệt quệ thì ngược lại đã làm cho dân tộc Việt trở nên hùng cường..”.

Thưa toàn thể quý vị,

 

Dân tộc Việt là một dân tộc có lịch sử bi hùng nhất từ thời lập quốc cho đến ngày nay. Lịch sử chứng minh rằng không một dân tộc nào trên thế giới chịu nhiều thương đau mất mát như dân tộc Việt Nam. Không một dân tộc nào có thể vùng lên giành lại độc lập dân tộc sau gần 1 ngàn năm bị kẻ thù truyền kiếp thống trị. Lịch sử cũng đã chứng minh rằng không một dân tộc nào có thể chống lại đạo quân thiện chiến hung hãn nhất nhân loại thế kỷ thứ mười ba, thế mà chỉ có dân tộc Việt mới chiến thắng được đạo quân gọi là “Bách Chiến Bách Thắng” này không chỉ một lần mà chiến thắng oanh liệt cả ba lần khiến đế quốc Mông Cổ phải ngậm đắng nuốt cay rồi suy vong.

 

Dân tộc chúng ta đang đứng trước một khúc quanh của lịch sử, chúng ta đang đối mặt với “Thù Trong Giặc Ngoài”, thế nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh rằng “Không có gì thắng được cái sức sống mạnh mẽ của người Việt Nam” và Trung Cộng, đế quốc mới của thời đại cũng lại nhận lãnh bài học nhớ đời trong nay mai nếu dám xâm lược nước ta một lần nữa. Bản tuyên ngôn độc lập, một thiên anh hùng ca bất hủ viết bằng máu của biết bao thế hệ Việt Nam đã được danh tướng Lý Thường Kiệt tuyên cáo trước nhân loại:

    Sông núi Trời Nam của nước Nam

Sách Trời định rõ tự muôn ngàn

    Cuồng ngông giặc dữ vào xâm lấn

    Chuốc lấy bại vong lấy nhục tàn!

Toàn thể đồng bào Việt Nam trong nước và Hải ngoại sẽ chiến đấu đến hơi thở  cuối cùng để Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn, Dân tộc Việt Nam bất diệt …

  

Thưa quý vị,

 

Ngày hôm nay, nhân tưởng niệm 37 năm “Ngày Quốc Hận” chúng ta cùng nhìn lại cuộc chiến Việt Nam để có một kết luận cuối cùng “Ai thắng Ai?” trong cuộc chiến này. Phải chăng Việt Nam Cộng hòa là người thua trận và Cộng sản Việt Nam là kẻ chiến thắng? Quân đội VNCH nói riêng và Miền Nam VN nói chung bị đồng minh bán đứng trở tay không kịp trong một ván bài quốc tế nên trở thành người chiến bại. Quân cán chính VNCH đã làm hết sức mình để bảo vệ phần đất tự do nhưng không thể làm gì hơn khi tương quan lực lượng đã thay đổi: Quân số CS gần gấp đôi quân lực VNCH sau khi Mỹ rút quân, vũ khí đạn dược thua kém quân CS nhất là khi HK chỉ viện trợ cho VNCH sau năm 1972 có 18 triệu dollars, trong khi Liên Xô và Trung Cộng viện trợ cho Hà Nội 1 tỷ rưỡi dollars nên quân đội chúng ta không còn đạn dược để tác chiến.  Vả chăng, một khi thượng tầng chính trị đã xụp đổ do những tính toán sai lầm thì kéo theo sự tan rã của quân sự là một điều không tránh được. Thế hệ chúng ta đã chiến đấu can trường dũng cảm nhưng cũng không thể cứu vãn được tình thế để rồi ngỡ ngàng tức tưởi chứng kiến:

 

Ngày tháng đó suốt đời ta nhớ mãi

Cả Sài Gòn nức nở một màu tang

Cờ hạ xuống bao hồn thiêng u uất

Nước ngậm ngùi cau mặt khóc tang thương …

 

Ta đứng đó lặng nhìn thành phố chết

Bao hờn căm u uất bỗng dâng trào

Lặng nghe lòng thổn thức những thương đau

Ôm mặt khóc, trời ơi mình chiến bại !!!

(Đoạn Trường Bất Khuất của  Phạm Trần Anh)

 

Hàng triệu người Việt Nam yêu tự do đã phải bỏ nước ra đi, họ đã chấp nhận hy sinh tất cả đánh đổi mạng sống để sống chết với hai chữ “Tự Do”. Một cuộc bỏ phiếu bằng chân ý nghĩa nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại: Một cuộc bỏ phiếu bằng cả tính mạng của hơn nửa triệu con người cho lý tưởng “TỰ DO”. Bài học lịch sử đầy máu và nước mắt đã cho chúng ta thấy rằng, không chỉ chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử mà cả quân đội Hoa Kỳ cũng bị các lãnh tụ chính trị ở Washington hy sinh hơn 58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ trên chiến trường Việt nam để phục vụ cho ý đồ của họ. Thực tế phũ phàng đến mức chính Tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam, tướng Westmorlant đã cay đắng tuyên bố “Quân đội chúng ta phải tham dự một cuộc chiến với một tay bị trói sau lưng, một cuộc chiến không được thắng…”. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích “Cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẽo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng. Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ…”.  Tiến sĩ Sorley cho rằng: “Không có cách nói nào khác để giải thích nguyên do đưa đến kết cuộc bi thảm đó. Rốt cuộc chúng ta đã bỏ rơi miền Nam. Chúng ta đã hứa nếu giao tranh mới xảy ra, nếu miền Bắc vi phạm hiệp định Paris thì Hoa Kỳ sẽ trừng phạt những hành động vi phạm đó, ở đây tôi muốn nói tới việc dùng hỏa lực của không quân và hải quân. Ngoài ra theo tinh thần hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã hứa sẽ thay thế các hệ thống, các thiết bị quân sự cho miền Nam trên căn bản một đổi một, kể cả xe tăng, súng ống, chiến đấu cơ vv… Ngoài ra, Hoa Kỳ hứa sẽ duy trì nguồn tài trợ dồi dào cho miền Nam. Tại một cuộc họp ở Tòa Bạch Ốc giữa Tổng Thống Thiệu và Tổng Thống Nixon, con số được nhắc tới là 1 tỉ đôla một năm, vô thời hạn. Thế nhưng tới thời điểm quyết định, tôi lấy làm tiếc là chúng ta đã không giữ cả 3 cam kết đó, trong khi sự giúp đỡ của các quan thầy Nga và Trung Quốc dành cho Cộng sản miền Bắc tiếp tục gia tăng.”

 

 

Để phân hoá hàng ngũ CS quốc tế, Hoa Kỳ đã làm mọi cách để lôi kéo Trung Cộng tách ra khỏi Liên Xô mà tài liệu giải mật cho biết, chính Hoa Kỳ đã bí mật cung cấp nhiều phương tiện, vũ khí hiện đại cho Trung Cộng và rút khỏi Đông Dương mặc thị để Trung Cộng giữ một vai trò quan trọng tại vùng châu Á Thái Bình Dương. Để Trung Cộng bỏ Liên Xô về hợp tác với Hoa Kỳ, người Mỹ đã dùng quần đảo Hoàng Sa như một món qùa đầu tiên và kế tiếp là cam kết mật với Trung Cộng là sẽ không can thiệp vào Đông Dương trong bất cứ tình huống nào. Do đó, Trung Cộng đã bật đèn xanh cho Hà Nội đem quân xé bỏ hiệp định Paris tấn công miền Nam với sự chi viện ồ ạt những vũ khí tối tân nhất cho quân đội CSVN. Trong tính toán của Nixon, làm được như vậy vừa có lợi cho nước Mỹ đồng thời tạo điều kiện cho Nixon rút quân ra khỏi VN để thắng thêm 1 nhiệm kỳ nữa. Thế nhưng vụ Watergate xảy ra, Nixon phải từ chức vào tháng 8 năm 1974. Tình hình bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ đã tác động hết sức ngặt nghèo đến cuộc chiến ở Việt Nam. Đảng dân chủ với ứng cử viên Tổng Thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, Thượng Nghị  sĩ  McGovern đã nói với  Jim Web sau này là  Thượng Nghị sĩ rằng: “Anh không hiểu là tôi KHÔNG MUỐN chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?”. Theo Thượng nghị sĩ Jim Web thì  “Cuộc bầu cử vào quốc hội với sự thắng lợi của 76 dân biểu và 8 Thượng nghị sĩ đảng dân chủ tranh cử với cương lĩnh phản chiến của Mac Govern.…Ông McGovern là phần tử của một nhóm quyền lực ngầm gọi là Liên lạc Ngoại giao (SFR) được tài trợ bởi hệ thống tài phiệt quốc tế như Rockfeller, Ford Foundation… có ảnh hưởng vô cùng lớn trong chính trường đã  phát động phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974, đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều được cho là “những con ác quỷ trong chánh quyền Nam Việt Nam”. Phong trào chống chiến tranh VN được sự đóng góp tối đa của Cộng sản quốc tế về nhân lực và tài chánh nên tác động đồng loạt trên toàn thế giới. Tại quốc hội Hoa Kỳ, một “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chánh”trong đó có Harold Ickes và Bill Clinton nỗ lực vận động những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô Viết và Trung Cộng yểm trợ. Tháng Ba năm 1975, phe Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49 đã bác bỏ đề nghị của Tổng Thống Gerald Ford xin viện trợ 300 triệu dollars bao gồm đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ cho miền Nam Việt Nam theo như cam kết của TT Nixon cũng như Hiệp Định Paris 1973 đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam. Thế lực ngầm của tập đoàn tài phiệt đã buộc chính giới Hoa Kỳ bức tử VNCH theo đúng kế hoạch để nhảy vào thị  trường Trung Quốc với hơn 1 tỷ dân tiêu thụ, lương bổng công nhân rẻ mạt sẽ hạ giá thành sản phẩm để  thu lợi nhuận tối đa. Đồng thời dùng số tiền viện trợ cho Việt Nam để chi viện cho Do Thái, chiến tranh với Irac để sản xuất cung ứng cho quân đội Hoa Kỳ và bán vũ khí cho các nước Trung Đông. Hoa Kỳ đã lún sâu vào cuộc chiến hết Irac tới Apganixtan khiến ngân sách quốc phòng ngày càng gia tăng, kinh tế suy thoái kiệt quệ. Chính quyền lợi của tập đoàn tư bản tài phiệt đã làm lu mờ hình ảnh một nước Mỹ với lý tưởng cao đẹp, đưa nước Mỹ vào cuộc khủng hoảng chính trị và suy thoái kinh tế chưa từng có như hiện nay.

 

Đến ngày nay, phần lớn hồ sơ đã được giải mật cho chúng ta thấy rằng, Cộng sản Việt nam đã không thắng được quân lực VNCH và họ cũng không thể nào thắng được quân đội Mỹ. Cuối cùng người Mỹ đã thua cộng sản ngay tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn của nước Mỹ khiến chính Tổng Thống L. B. Johnson đã phải thừa nhận: “Chúng ta đã đánh bại chính ta…”. Ba mươi sáu năm sau, Henry Kissinger, chứng nhân sống của lịch sử trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã nói lên sự thật: “Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải VNCH”.

 

     Trên thực tế, cái gọi là “Đại thắng mùa Xuân!” chính là sự thất bại không gì cứu vãn nổi cuả CSVN kể từ ngày 30-4-1975. Từ trước tới nay, Cộng sản Việt Nam vẫn thường rêu rao họ chiến đấu để giải phóng dân tộc, giành lại độc lập dân tộc. Tất cả đã được phơi bầy khi Trung Cộng và Liên Xô công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Cộng sản Việt Nam là nhà nước Công-Nông, là thành trì của Xã hội chủ nghiã đầu tiên ở Đông Nam Á vào ngày 14-1-1959 và 31-1-1950. Chính vì vậy, ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đã công nhận chính phủ  Quốc Gia do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo và  nhân danh thế giới tự do trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến ở Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. Nhân dân Việt Nam lâm vào thế trên đe dưới búa của một cuộc chiến tranh giữa 2 thế lực tư bản và cộng sản mà kết cục bi thảm là mấy triệu đồng bào Việt Nam đã hi sinh một cách vô nghĩa hết sức phi lý. Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn là thế kỷ XX là thế kỷ chấm dứt chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bằng chứng cụ thể là Hoa Kỳ tự ý trả lại chủ quyền cho Phi Luật Tân (Philippine) năm 1946, Anh Quốc thừa nhận nền độc lập của Ấn Độ năm 1947, Hoà Lan giao trả độc lập cho Nam Dương (Indonesia) năm 1949 mà không phải hy sinh một ngươì dân nào. Thế thì tại sao, nhân dân Việt Nam phải hy sinh hàng triệu người để giành độc lập dân tộc? Đó chính là cốt lõi của vấn đề mà bất cứ ai cũng nhận thấy sau khi phân tích cụ thể rõ ràng. Chính vì Hồ Chí Minh là cán bộ đệ tam Quốc tế cùng với những Trần Phú, Lê Hồng Phong … đã rước voi Mác-Lê về giầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn Trung Cộng về cắn gà nhà dân tộc! Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng lòng yêu nước, dưới chiêu bài “Kháng chiến, giải phóng dân tộc” hy sinh hàng triệu người dân vô tội để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản xuống Đông Nam Á.   

 

     Lịch sử một lần nữa lại chứng tỏ CSVN là tập đoàn Việt gian án nước khi Phạm văn Đồng xác nhận bằng văn bản chủ quyền của Trung Cộng đối với quần đảo Hoàng Sa năm 1958 và lịch sử cũng chứng minh Việt gian CS là công cụ của quốc tế CS khi hy sinh công cuộc kháng chiến để ký kết hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 theo chỉ thị của Bắc Kinh. Thật vậy, giữa lúc cao trào kháng chiến dâng lên cao, thực dân Pháp bị lâm vào thế bí dẫn đến sự thất bại hoàn toàn về quân sự thì CSVN bị áp lực của quốc tế CS phải vào bàn hội nghị Genève chia đôi lãnh thổ. CSVN đã biến kháng chiến thành thỏa hiệp chia đôi đất nước, một lần nữa Việt Nam lại chịu cảnh qua phân hai miền Nam Bắc. Sau khi Mao Trạch Đông tuyên bố phải chiếm miền Nam để mở đường đánh chiếm các nước Đông Nam Á bằng mọi giá thì ngày 20 tháng 12 năm 1960, CSVN lại dựng lên cái gọi là “Mặt trận Giải phóng miền Nam” lợi dụng chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ cả đất nước Việt Nam. Đặc biệt, sau khi xâm chiếm miền Nam, bộ mặt thật của đảng CSVN đã tự  phơi bày trước lịch sử. Ngày 25-4-1976 quốc hội bù  nhìn gồm toàn đảng viên CSVN đã đặt tên là nhà  nước Cộng Hòa Xã  Hội Chủ  nghĩa Việt Nam và ngày 20-12-1976, CSVN đã  đổi tên đảng Lao Động Việt Nam trở  lại là  đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng kể từ ngày toàn quốc kháng chiến, nhân dân Việt Nam yêu nước tham gia mặt trận Việt Minh để đánh đuổi thực dân Pháp chứ nhân dân Việt Nam không hề ủng hộ hoặc tham gia đảng CSVN. Do đó, nếu gọi là “công lao kháng chiến” thì cái “công lao” đó là của toàn dân là chứ không phải của đảng CSVN. Nếu nói rằng do đảng lãnh đạo thì trong lịch sử Việt, biết bao nhiêu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đâu cần có đảng CS lãnh đạo cũng chiến thắng quân thù. Ngược lại, sự thật đã chứng tỏ CSVN chỉ lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân VN để bành trướng chủ nghĩa CS mà thôi. Nếu Hồ Chí Minh không phải là cán bộ quốc tế cộng sản hoặc là bất kỳ một người Việt Nam nào khác thì Tổng Thống Roosevelt đã đặt Viêt Nam dưới sự ủy trị của Liên Hiệp Quốc rồi và đất nước Việt Nam đã độc lập tự do và giàu mạnh từ lâu. Sự thật lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh nói riêng và Đảng CSVN nói chung không hề có công mà ngược lại là có tội với nhân dân Việt Nam, họ mới chính là những “kẻ phản động” là “Tội đồ” của dân tộc vì đã hành động ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam, đã dâng đất nhường biển từng bước bán đứng VN cho Tàu Cộng.

 

     Đối với tất cả người Việt Nam yêu nước thì ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “Quốc hận”. Ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “mất nước” không phải do ngoại xâm mà là kẻ nội thù ngay trong lòng dân tộc và hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu nước chuộng tự do dân chủ đã phải bỏ nước ra đi. Hơn tám mươi triệu đồng bào Việt Nam đang sống quằn quại trong một nhà tù khổng lồ mệnh danh là nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam do chính những người cộng sản Việt Nam thống trị. Những người cộng sản tuy là người Việt Nam nhưng họ đã bán linh hồn cho Các Mác-Lênin, họ không còn là người Việt Nam nữa mà là những cỗ máy vô hồn vô cảm kềm kẹp nhân dân mình, họ chính là những tên “Thái thú Thời đại Xác Việt hồn Tầu”. Giai cấp mới thống trị là lớp đảng viên được hưởng đặc quyền đặc lợi trở thành những cường hào đỏ, những tư sản đỏ, mặc sức vơ vét tài sản của nhân dân, cướp nhà cướp đất để làm giàu trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân. Hàng triệu dân oan bị cướp nhà cướp đất, hàng triệu công nhân bị giai cấp thống trị cấu kết với tư bản nước ngoài bóc lột sức lao động của họ, hàng triệu công nhân đưa đi xuất khẩu lao động, hàng trăm ngàn phụ nữ phải bán rẻ thân xác để kết hôn với người nước ngoài để cứu bản thân và gia đình đang đói khổ. Thực chất cái gọi là xuất khẩu lao động, xuất ngoại kết hôn không khác gì cuộc bán buôn nô lệ người da đen sang tân lục địa mấy thế kỷ trước. Nếu có khác là thay vì những tên lái buôn nô lệ thì là nhà nước cộng sản đứng ra thu thuế lợi tức xuất khẩu và những con người khốn khổ đi khỏi đất nước vì nghèo nàn đói khổ lại phải sống khổ hơn người nô lệ da đen thời trước. Trong suốt trường kỳ lịch sử, chưa bao giờ người dân lại chịu cảnh đói khổ như bây giờ kể cả thời thực dân Pháp. Biết bao người đã phải tha hương chịu cảnh gia đình ly tán, biết bao thiếu nữ Việt Nam ngây thơ trong trắng phải bán rẻ cả thân xác để nuôi sống gia đình.

     

Cộng sản đã để lộ bộ mặt thật giả nhân gỉa nghĩa của họ là một tập đoàn bán nước, một chế độ độc tài toàn trị tước đoạt mọi quyền tự do căn bản nhất của con người … Một chế độ rêu rao là Nhân dân làm chủ thực ra là làm chủ nhân dân, tước đoạt tài sản đất đai tư hữu của người dân, chế độ thuế khóa nặng nề, tham nhũng bóc lột nhân dân còn thậm tệ hơn chế độ phong kiến thực dân trước đây. Hơn tám mươi triệu đồng bào sống trong trại tù khổng lồ gọi là nhà nước CHXHCNVN và hàng triệu đồng bào phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Cái gọi là thống nhất của Cộng sản Việt Nam chỉ là thống nhất tài sản nhân dân trong tay nhà nước quản lý mà thôi chứ không thống nhất được lòng người.

 

Đứng trên quan điểm Dân tộc, ngày 30-4-1975 chỉ là ngày chấm dứt một thời kỳ chiến tranh ý thức hệ để mở ra một thời kỳ lịch sử mới, một cuộc chiến mới bắt đầu: Cuộc chiến của “TOÀN DÂN CHỐNG CỘNG” cả trong Nam lẫn ngoài Bắc đều đứng lên chống lại chế độ bạo tàn phi nhân Cộng sản kể cả những đảng viên Cộng sản cao cấp từng bị lừa dối đã hiểu rõ bộ mặt thật của đảng CS Việt gian nên đã cùng với toàn dân đứng lên chống lại bạo quyền CS bất nhân hại dân bán nước.

    

Thưa quý vị,

 

CHÚNG TA ĐANG ĐỐI MẶT VỚI “THÙ TRONG” và “GIẶC NGOÀI”, dân tộc Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất nước, đại họa Hán hóa cận kề … Từ trong nước vang vọng những tiếng kêu cứu thảm thiết “Đất đai tôi đâu”, Việt Nam Tôi đâu???” khi tập đoàn tư bản đỏ, những tên cướp ngày dã man, những tên cường quyền đỏ, tư bản đỏ, Mafia đỏ đang xiết cổ dân lành, cướp bóc tài sản của nhân dân… Tiếng súng của người anh hùng Đoàn văn Vươn thay mặt cho gần chín chục triệu dân “cùng khổ” đã tuyên chiến bắn thẳng vào chế độ bạo tàn cướp đất dân lành. Tập đoàn Việt gian CS “Đã ác với dân” lại “hèn với giặc” tiếp tay “bán nước” nên lời ca thống thiết bi ai “Việt Nam Tôi đâu”… Tôi không thể ngồi yên, khi vận nước ngả nghiêng… Một ngàn năm nô lệ hay triền miên tăm tối… khi thế giới không còn VN…của nhạc sĩ trẻ yêu nước Việt Khang chính là bài HUYẾT LỆ CA” của Hồn thiêng sông núi nhuốm đầy máu và nước mắt của người VN yêu nước thương nòi biết bao thế hệ. Lời hịch Cứu quốc vang lên kêu gọi toàn dân chúng ta cùng đứng lên đáp lời sông núi, đứng lên giành lại dân chủ tự do, giành lại cơm áo đất đai và quyền sống làm ngưòi, giành lại quyền làm chủ đất nước chứ không thể phó thác cho tập đoàn Việt gian bán nước ô nhục và tệ hại nhất trong lịch sử VN.

 

Sức chịu đựng của nhân dân đã cùng cực, họ không còn gì để mất nữa. Nhân dân đã vượt qua sự sợ hãi, công khai bày tỏ quan điểm của mình bất chấp sự bắt bớ, đánh đập dã man của bạo quyền cộng sản.Tiếng súng của anh hùng Đoàn văn Vương cùng với huyết lệ ca “Việt Nam Tôi đâu?” báo hiệu ngày tàn của chế độ Việt gian bất nhân hại dân bán nước. Thật vậy, tập đoàn Việt gian CS đang ngồi trên lò thuốc súng chứa đầy hờn căm uất hận của toàn dân từ hơn 2/3 thế kỷ qua, chúng vội vàng vơ vét tài sản của nhân dân, chúng run sợ nên càng ngày càng điên cuồng đàn áp dã man những chiến sĩ dân chủ, đồng bào dân oan để duy trì chế độ hòng bóc lột vơ vét tài sản của nhân dân trước khi tháo chạy. Chế độ CS tàn bạo bất nhân đang dãy chết, những hành động đánh đập, bắn hiết nhân dân như đốm lửa bùng lên trước khi tắt lịm, giờ đền tội trước nhân dân chỉ còn tính từng ngày, tháng…

 

Thưa quý vị,

 

Với lịch sử hào hùng, với tinh thần bất khuất, lòng yêu nước thương nòi trong huyết quản mọi con dân đất Việt, chúng ta sẽ đánh tan quân Trung Cộng xâm lược tan tành không còn manh giáp. Lịch sử đã chứng minh rằng dân tộc Việt với những chiến công hiển hách có một không hai trong lịch sử nhân loại. Mùa xuân năm 1075, danh tướng Lý Thường Kiệt đã đem quân sang đánh tan tành châu Ung, châu Khâm của TQ. Đặc biệt, chiến tích oai hùng đã đi vào lịch sử nhân loại với 3 lần đánh tan đạo quân Mông Cổ thiện chiến hung hãn nhất thế giới thời bấy giờ…1258,1285 và 1288. Lịch sử cũng đã chứng minh rằng không có một dân tộc nào lại có thể vùng lên giành lại độc lập dân tộc sau gần 1 ngàn năm bị ngoại bang đô hộ và lịch sử cận đại cũng chứng minh rằng, sau 36 năm tạm gọi là mất nước mà ngọn cờ vàng vẫn ngạo nghễ tung bay khắp năm châu bốn biển với sự ủng hộ chưa từng có của toàn thể loài người văn minh tiến bộ như ngày nay.

 

Thưa quý vị, năm 1284, Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đã triệu tập bô lão trên toàn quốc về điện Diên Hồng để bàn việc nước: Hoà hay chiến và toàn thể bô lão đã nắm chặt tay giơ cao lên hô vang Quyết chiến, quyết chiến cho đến người VN cuối cùng để bảo vệ giang sơn gấm vóc của tiền nhân để lại và đạo quân Nguyên Mông đã tan hang tháo chạy về nước năm 1285. Thưa quý vị 728 năm sau, một hội nghị Diên Hồng Thời đại do toàn dân già trẻ cùng đứng lên ký tên vào “THỈNH NGUYỆN THƯ” và kéo nhau về DC để nhân danh 150 ngàn công dân Mỹ gốc Việt “We The People” yêu cầu TT Hoa Kỳ đặt nhân quyền trước các quyền lợi kinh tế thương mại buộc nhà cầm quyền CSVN phải thả toàn bộ tù nhân Chính trị… Nhân dịp này, Hội Ái Hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo VN đã công bố “LỜI KÊU GỌI” được 149 Hội đoàn văn hoá xã hội và Đoàn thể chính trị cùng ký tên đã nói lên sự thống nhất hành động của các hội đoàn, Đoàn thể ký tên gửi Tổng Thống Hoa Kỳ và các nước dân chủ tự do trên toàn thế giới yểm trợ cho cuộc tranh đấu đòi dân chủ tự do của toàn dân Việt Nam. Ông giám đốc văn phòng Tiếp cận Công chúng của Tòa Bạch ốc đã thay mặt TT một người đấu tranh cho nhân quyền chào đón cộng đồng VN và ghi nhận đây là một hiện tượng. Một phái đoàn gồm giám đốcđặc trách Đông Nam Á sư vụ, Giám đốc Việt Nam Sự vụ và Ô Michael Posner, phụ tá Thứ trưởng đặc trách Dân chủ và Nhân quyền bộ Ngoại giao HK lắng nghe nguyện vọng của cộng đồng VN. Phái đoàn này chính là những người hoạch định chính sách trình lên chính phủ Obama thi hành. Mới đây, ông, Michael Posner, Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách Nhân quyền và Lao động đã gửi văn thư chính thức trả lời cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt như sau: “Tôi xin cảm ơn tất cả quý vị đã ký thỉnh nguyện thư này, nêu bật mối quan tâm của người Mỹ đối với nhân quyền tại Việt Nam và mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Trong lúc chúng tôi tiếp tục đối thoại với Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú ý đến quan điểm của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ. Trong cuộc Đối thoại thường niên về Nhân quyền giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hồi tháng 11, tôi cùng Đại sứ lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế Suzan Johnson Cook và một số giới chức cao cấp khác, đã hối thúc Việt Nam trả tự do cho tất cả các tù chính trị, tăng cường tự do tôn giáo, phê chuẩn và thực thi Công ước Chống Tra tấn, và thực hiện các biện pháp khác để bảo vệ và thăng tiến các quyền phổ quát của con người.

 

Hoa Kỳ sẽ vẫn kiên trì theo đuổi những tiến bộ về nhân quyền trong khi giao tiếp ở cấp cao, đồng thời theo đuổi nhiều lợi ích về an ninh, kinh tế, và chiến lược với Việt Nam. Trong các cuộc thảo luận của chúng tôi với chính phủ Việt Nam, “chúng tôi nhấn mạnh rằng tiến bộ về nhân quyền, trong đó có việc thả tù chính trị và tự do tôn giáo, là một phần cần thiết để cải thiện quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam”. Chúng ta cũng không quên rằng mỗi lần bầu cử TTHK đều tác động đến các nước khác nhất là kinh nghiệm mùa bầu cử 1972, đảng dân chủ với những Mac Govern, J Kerry … và phong trào phản chiến cùng với quyền lợi của TT Nixon, Kissinger của đảng CH khiến chúng ta mất nước. Ngày hôm nay, lịch sử lại tái diễn khi nước Mỹ đã thay đổi chính sách quay trở lại châu Á Thái Bình Dương, quyền lợi của đảng Dân chủ cầm quyền trong mùa bầu củ 2012 và nguyện vọng của hơn 1 triệu rưỡi người Mỹ gốc Việt được các vị dân biểu Thượng nghị sĩ trân trọng lắng nghe. Nói đến đây, chúng tôi cộng đồng VN ở San Diego nói riêng và cộng đồng VN nói chung cảm ơn nữ dân biểu Susan Davis đã lên tiếng ngay ngày 4-3-2012 “Yêu cầu các dân biểu đồng viện hãy thúc đẩy tổng thống hãy đặt [mục tiêu] Tự Do và Nhân Quyền trước hết”. Ngày 7-3-2012, Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu bằng miệng mà không gặp sự chống đối nào để thông qua một dự luật hạn chế viện trợ cho Việt Nam trừ phi quốc gia cộng sản này đạt được tiến bộ trong việc cải tiến thành tích nhân quyền.

 

Thưa quý vị,

 

Hôm nay, chúng ta có mặt nơi đây để tưởng niệm ngày quốc hận. Làm sao chúng ta có thể quên được gần 90 triệu đồng bào VN chúng ta đang oằn oại, dở sống dở chết trong sự kềm kẹp của tập đoàn CS Việt gian hại dân bán nước … Làm sao chúng ta có thể ngồi yên nhìn những mảnh đời bất hạnh, khốn khó tang thương, những khuôn mặt đói ăn xanh xao hốc hác, những thân hình ốm o tiều tụy của hàng triệu em bé VN thơ ngây vô tội trong khi tập đoàn Việt gian bóc lột vơ vét tài sản của nhân dân trên thân xác của người dân vô tội. Làm sao chúng ta có thể dửng dưng khi thấy tập đoàn Việt gian CS bất nhân hại dân bán nước đang cướp đoạt đất đai của dân oan, đánh đập dã man giết chết dân lành vô tội. Chúng ta phải thực hiện bổn phận và quyền công dân của chúng ta bằng cách ghi tên đi bầu đông đảo, ủng hộ tinh th ần và đóng góp gây quỹ để các đại diện dân cử của cả 2 đảng DC và CH phải tôn trọng lắng nghe và ủng hộ nguyện vọng chính đáng của chúng ta. M ặt kh ác ch úng ta ph ải đo àn k ết, th ống nh ất ý ch í, th ống nh ất h ành đ ộng như cộng đồng lưu vong Ba Lan đã yểm trợ tối đa về tinh thần lẫn vật chất để giải thể chế độ CS Ba Lan… Chúng ta phải hy sinh, hạn chế việc gửi tiền và chỉ đi về Việt Nam trong trường hợp thật cần thiết. Bốn triệu đồng bào Việt Nam Hải ngoại vận động các cộng đồng dân cư bạn cùng với toàn dân trong nước quyết tâm tẩy chay thực phẩm “độc hại”, hàng hoá “dzổm giả” của Trung Quốc để đánh bại kẻ thù truyền kiếp của dân tộc trên mặt trận kinh tế. Chúng ta vận dụng tối đa công tác quốc tế vận, chúng ta khuyến khích giới trẻ Việt Nam tại hải ngoại tìm mọi cách để vận động bạn bè người Mỹ để họ cùng cất lên tiếng nói cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Chúng ta và con em chúng ta dành thì giờ để forward những bản tin để chuyển lửa internet để giật sập bức màn sắt che đậy bưng bít của Việt gian CS, một cuộc cách mạng truyền thông sẽ tạo thành một trận “Bão lửa” thiêu đốt thành tro bụi những tàn dư rác rưởi của chủ nghĩa CS vô thần trên đất nước Việt Nam.  

 

Thưa quý vị, Một khi tất cả đồng bào oan khiên, tất cả công nhân nghèo đói, tất cả thanh niên sinh viên yêu nước, tất cả tôn giáo từ Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin lành cùng nhất loạt nắm chặt tay nhau ngồi cầu nguyện cho tự do tôn giáo, đòi lại tài sản giáo hội. Một cuộc đấu tranh giành lại quyền sống tự do dân chủ, quyền làm chủ đất nước trong ôn hòa bất bạo động, bất hợp tác đã và đang diễn ra trên cả nước. Thanh niên sinh viên học sinh bãi khóa, công nhân đình công, tiểu thương bãi thị cho đến khi cộng sản phải thoả mãn yêu cầu chính đáng của nhân dân thì ngày đó là ngày thắng lợi của Dân tộc Việt Nam. Bằng không, lòng dân muôn người như một đứng lên giành lại quyền sống làm người đến, tất cả u uất căm hờn tự bao năm sẽ gom lại như ngọn sóng thần, bất cứ lúc nào sẽ trào dâng như thác đổ thành bão táp cách mạng sẽ cuốn trôi tất cả tập đoàn Việt gian bất nhân hại dân bán nước, những tàn dư rác rưởi tệ hại xấu xa của chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân xuống hố thẳm của lịch sử.

 

“Thỉnh Nguyện Thư” của 150 ngàn công dân Hoa Kỳ  gốc Việt, “Thỉnh Nguyện Thư” của cộng đồng Việt Nam tại Úc Châu, Canada … thể hiện ý chí quyết tâm Diên Hồng Thời Đại đã được chính giới Hoa Kỳ và công luận toàn thế giới ủng hộ nồng nhiệt. Tất cả chỉ còn tùy thuộc vào quyết tâm của toàn dân trong nước thể hiện trong các cuộc đồng loạt xuống đường chống đế quốc mới Trung Cộng, xuống đường đòi dân chủ, đòi lại đất đai ruộng vườn trên cả nước. Toàn thê đồng bào Việt Nam Hải ngoại sẽ làm hết sức mình từ tinh thần đến vật chất yểm trợ cho đồng bào trong nước, chúng ta cùng chuyển đổi lịch sử để cứu dân cứu nước. Một khi toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng nhất loạt đứng lên làm cuộc cách mạng Trống Đồng chuyển đổi lịch sử thì mùa Xuân Dân tộc sẽ trở về trên quê hương yêu dấu của chúng ta trong một ngày rất gần, rất gần đây để nhân dân được sống trong dân chủ tự do ấm no hạnh phúc thực sự như đại danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại cáo”:

 

“ Đại nghĩa thắng hung tàn ..

Chí nhân thay cường bạo ..!”

 

Giờ cáo chung của chế độ Việt gian Cộng sản bất nhân hại dân bán nước đã điểm… Nhân dân trong nước sẽ “Tổng biểu tình, Tổng nổi dậy” để đưa chủ nghĩa CS và tập đoàn Việt gian CS tới nơi an nghỉ cuối cùng: “Thiên đường Cộng sản” của họ trong nay mai. Nhân dân Việt Nam sẽ xóa bỏ cái gọi là thành phố HCM để lấy lại tên Sài Gòn. Chúng ta sẽ trở về Sài Gòn dấu yêu trong vinh quang của mùa Xuân Dân Tộc.

 

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn …

Dân Tộc Việt Nam bất diệt …

Việt Nam Muôn Năm …

 

Xin trân trọng kính chào quý vị

 

PHẠM TRẦN ANH

 

 

 

 

LỜI KÊU GỌI

 

1. Nhận định rằng: Tạo Hoá đã ban cho con người quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc mà Hiến pháp Hoa Kỳ và các nước văn minh trên thế giới đều minh định, tôn trọng triệt đề. Nhà  nước Cộng hòa Xã  hội Chủ  nghĩa Việt Nam đã ký kết tuân thủ bản Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền và Công Ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị nhưng chế độ Cộng sản Việt Nam cho đến nay vẫn không thực hiện những văn kiện này.

 

2. Nhận định rằng: Nhân loại đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba của văn minh tiến bộ, mọi người đều phải được sống an bình hạnh phúc trong một xã hội thực sự dân chủ tự do. Quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, quyền tư hữu là quyền sống của một người dân. Ngay từ thời phong kiến quân chủ, luật pháp cũng đã minh định xác nhận quyền tư hữu, nhất là quyền sở hữu đất đai của người dân. Trong một nhà nước pháp quyền, mọi công dân phải có quyền lập hội, nông dân phải có Hiệp hội nông dân, công nhân phải có nghiệp đoàn công nhân do chính họ bầu ra để tranh đấu bảo vệ quyền lợi thiết thân của họ hầu bảo đảm cho miếng cơm manh áo và hạnh phúc cho mình. Chế độ Cộng sản Việt Nam chưa thực sự thực hiện điều này.

 

3. Nhận định rằng: Nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên sinh viên là rường cột, là tương lai của dân tộc. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không tôn trọng, lắng nghe những đề nghị xây dựng, những nguyện vọng đích thực của giới trí thức, văn nghệ sĩ và của mọi tầng lớp nhân dân. Trái lại, nhà cầm quyền CSVN lại khống chế, mua chuộc và sử dụng họ như những công cụ để phục vụ cho đảng Cộng sản, cho tập đoàn lãnh đạo hại dân bán nước. Chế độ Cộng sản Việt Nam đã trấn áp phong trào nhân dân yêu nước, đánh đập bắt giữ những công dân yêu nước như nhạc sĩ Việt Khang, nhà báo Phạm Thanh Nghiên, nhà báo Tạ Phong Tần, dân oan Bùi Thị Minh Hằng … 

 

4. Nhận định rằng: Quân đội của một quốc gia là lực lượng bảo vệ đất nước khi lâm nguy. Thế mà chế độ Cộng sản Việt Nam đang sử dụng quân đội như một công cụ để bảo vệ đảng, bảo vệ tập đoàn Việt gian CS hại dân bán nước. Tổ quốc đang lâm nguy, Sơn hà đang nguy biến. Tổ quốc và dân tộc Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước, đang đứng trước hiểm họa “Hán hóa” dân tộc của Trung Cộng, đế quốc mới của thời đại. Tập đoàn tư bản đỏ, cường hào đỏ đang manh tâm bán nước cho Trung Cộng để duy trì chế độ độc tài bất nhân,  phản dân hại nước, làm giàu trên mồ  hôi, nước mắt và xương máu của nhân dân…

 

5. Nhận định rằng: Trung Quốc ngày nay với tham vọng bành trướng, muốn công khai độc chiếm Biển Đông Nam Á, nên đã trở thành đế quốc mới thời đại, không chỉ đe dọa sự sống còn của dân tộc Việt Nam và các nước Đông Nam Á mà còn là hiểm họa của toàn thể nhân loại.

 

Trước hiểm họa xâm lược thôn tính Việt Nam của đế quốc mới Trung Cộng,

Vì sự tồn vong của dân tộc và sự ổn định của nền an ninh thế giới,

Chúng tôi, tất cả những người Việt Nam yêu nước, khẩn thiết kêu gọi:

 

1.     Nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam phải thực hiện những điều khoản trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và chính trị. Nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam phải trả lại quyền sống làm người, phải tôn trọng thực sự các quyền tự do căn bản của người dân.

 

2.     Nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam phải ban hành các đạo luật qui định các quyền tự do căn bản của người dân trong một xã hội Dân chủ tự do. Nhà nước CHXHCNVN phải trả lại quyền tư hữu Tài sản, nhất là quyền sở hữu đất đai cho người dân. Nhà nước CHXHCNVN phải thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo, phải trả lại đất đai tài sản của các tôn giáo, phải giải tán các giáo hội quốc doanh, trả lại quyền phục hoạt cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là Giáo hội Phật giáo duy nhất có tư cách chính đáng tại Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam phải giải tán các nghiệp đoàn và hiệp hội quốc doanh để trả lại quyền tự do thành lập Hiệp Hội Nông dân, quyền tự do thành lập nghiệp đoàn công nhân.

 

3.     Nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam phải giải tán các hội trí thức, hội nhà văn, hội nghệ sĩ do chính quyền tổ chức và điều khiển. Nhà nước phải trân trọng nhân sĩ trí thức, phải trả lại quyền tự do sáng tạo của người nghệ sĩ chân chính. Nhà nước CHXHCNVN phải trả lại quyền tự trị của đại học, hủy bỏ những môn chính trị và triết học một chiều nhồi sọ sinh viên học sinh, phải giải tán Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là công cụ nô lệ hóa giới trẻ.

 

4.     Nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam phải trả lại cho quân đội nhiệm vụ thiêng liêng cao cả bảo vệ đất nước chống Trung Quốc xâm lược. Đã đến lúc, Đảng CSVN và nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết nếu muốn tồn tại. Bằng không, toàn dân sẽ xuống đường biểu tình tranh đấu, bất hợp tác với chính quyền và cùng với quân nhân yêu nước giành lại quyền làm chủ đất nước.

 

Nhà nước Cộng sản Việt Nam phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho tất cả tù nhân lương tâm Việt Nam, trả lại đất đai cho tất cả đồng bào dân oan trên cả nước. Từng bước giao trả lại quyền làm chủ đất nước cho toàn dân bằng cách tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc để toàn dân bầu Quốc hội Lập Hiến soạn thảo một Hiến pháp mới, qui định một chế độ mới cho Việt Nam.

 

5.     Chính phủ Hoa Kỳ và các nước văn minh trong thế giới tự do, các Hội đoàn tổ chức quốc tế tranh đấu cho nhân quyền hãy ủng hộ nhân dân Việt Nam hoàn thành cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ chống độc tài toàn trị, chống bất công áp bức và chống lại sự xâm lược của Trung Quốc, đế quốc mới của thời đại để xây dựng một quốc gia tự do tiến bộ, góp phần bảo vệ nền an ninh và thịnh vượng cho toàn thế giới.

 

Làm tại Hải ngoại ngày 5-3-2012

 

Hội Ái Hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam

 

 PHẠM TRẦN ANH

 

 

 

DANH SÁCH HỘI ĐOÀN, ĐOÀN THỂ VÀ NHÂN SĨ ĐỒNG KÝ TÊN:

 

1.  Hội Ái Hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam: Ô Phạm Trần Anh.

2.  Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại: Bô lão Võ Toàn.

3.  Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: HT Thích Không Tánh (Việt Nam).

4.  Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Tuý: Hội Trưởng Lê Quang Liêm (Việt Nam).

5.  Khối 8406: LM Phan văn Lợi (Việt Nam).

  1. Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân tộc Việt Nam, Giáo Hội Liên Hữu  

      Lutheran Viet Nam & Hoa Kỳ.

7.  Cao Đài Giáo Việt Nam: GS Nguyễn Mạnh Bảo (Việt Nam).

8.  Nhóm LM Nguyễn Kim Điền: Đại diện LM Phêro Nguyễn Hữu Giải (Việt Nam).

9.  Hội Quốc tế Nghiên cứu Biển Đông Nam Á: GS Nguyễn Thanh Liêm.

10.  Mặt Trận Dân Tộc Cứu Quốc: Phạm Hưng Quốc.

  1. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại: DS Vũ văn Tùng, CT.

12. Đại diện Khối 8406 Hải Ngoại: GS Nguyễn Chính Kết.

  1. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California: LS Nguyễn Xuân Nghĩa.

  2. Ủy Ban Hoà đồng Dân tộc và Tôn giáo: TS Nguyễn Anh Tuấn.

  3. Liên minh Dân tộc Việt Nam: Nhà văn Chu Tấn.

16. Tổ chức Quốc tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản: BS Nguyễn Quốc Quân.

17. Phong Trào Giáo Dân: Ô Cao Viết Lợi.

18. Tổng Hội Cựu Tù nhân Chính Trị Việt Nam: Ô Nguyễn Trung Châu.

19. Hội Nghiên cứu Lịch sử: Nhà bình luận Chu Chi Nam.

20. Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam Hành Động Cứu Nước:

Chủ Tịch Bà Đặng Thị Danh, Toronto, Canada .

21 . Phong Trào yểm Trợ Tự do Tôn giáo và Nhân quyền Việt Nam: HT Thích Nguyên Trí.

22. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Âu Châu: Cựu Thẩm phán Trần Đức Lai.

23. Phong trào Đấu tranh Đòi Tự Do Tôn Giáo và Nhân quyền VN: Ô Lại Thế Hùng.

24. Truyền Thông Toàn cầu Global Viet Media: Dr Nghiêm Phú.

25. Coalition of American Citizen For Freedom and Democracy:

      BS Nguyễn Hy Vọng

26. Việt Nam Cộng Hòa Foundation: Thiếu Tướng Lý Tòng Bá.

27. Vietnam Helsiki HR Committeee: Ô Trần Tử Thanh.

28. Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất: Ô Lê Sơn Hà, Phó TBT

29. Liên Minh Quang Phục Việt Nam: Nhân sĩ Võ Đại Tôn.

30. Đại Việt Quốc Dân Đảng: TS Phan văn Song.

31. Mặt Trận Việt Nam Tự Do Âu Châu: Ô Trần Minh Chiêu

32. Liên Minh Dân chủ Việt Nam Thuần Túy: Ô Lý Hiền Tài.

33. Đại Việt Cách Mạng Nam California: Ô Nguyên Duy.

34. Đảng Dân chủ Nhân dân: Ô Đỗ Thành Công.

35. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Úc Châu: Nhân sĩ Phạm Ngọc Điệp.

36. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Bắc California: Nhân sĩ Phạm văn Tường.

37. Hội Nhân Sĩ Diên Hồng Thời Đại Nam California: Học gỉa Vũ Hữu San.

38. Hội Nhân Sĩ Diên Hồng Thời Đại Colorado: Nhân sĩ Trần Trọng Thuyên.

39. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Canada: LS Vũ Ngọc Truy.

40. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại SanDiego: Nhân sĩ Phan Bái.

41. Ủy Ban Phối Hợp chống CS và Tay sai: Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn.

42. Hội Đền Hùng Hải Ngoại: Nhân sĩ Trần Thanh Phong.

43. Cộng đồng Công giáo Nam VN: Ô Nguyễn Thanh Liêm.

44. Các Hội đoàn Trẻ Nam Cali (Tổng Hội Sinh Viên,  Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu, Ðoàn Thanh Niên Thủy Quân Lục Chiến,  Ðoàn Thanh Niên Việt-Mỹ,  Ðoàn Thanh Niên Cao Ðài,  Ðoàn Thanh Niên Phật Tử Miền Quảng Ðức,  Ðoàn Thanh Niên Phật tử chùa Ðiều Ngự,  Ðoàn Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo,  Giới Trẻ Công Giáo và  Liên Ðoàn Học Sinh Trung Học Nam California: Billy Lê.

54. Trung tâm Trưởng /TTĐH/TB/HK: BĐQ/Tr tá Lương văn Ngọ.

55. Trung tâm Trưởng /TTĐH/TN/HK: Ô Trần Vệ.

56. Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ: Ông Đoàn Thế Cường.

57. Ban Trị sự Trung ương Hải Ngoại, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo: GS Nguyễn Thành Long.

58. Vietnamese historical researcher association in Europe. : Ô Nguyễn PhúC Bảo Việt.

59. Hội Cựu SV Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ: Ô Nguyễn Kim Hương Hỏa.

60. Hội Cựu SV Quốc Gia Hành Chánh Nam Cali: Ông Trần Ngọc Thiệu.

61. Uỷ Ban Vận động CPC: Ông Nguyễn Tấn Lạc.

62. Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân quyền VN: LM Đinh Xuân Minh.

63. Vietnamese American Voters Association: Jackie Bong Wright, President.

64. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Âu Châu:

      TS Nguyễn Ngọc Hùng.

65. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Úc Châu:

      PCT Đoàn Nguyên Hồng.

66. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Cambodia:

      Nguyễn Phùng Phong.

67. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Thái Lan:

      Lê Thái Lan.                                                         

68. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Đan Mạch:     

      Nữ sĩ Uyên Hạnh, Cố vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.

69. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Nam California:

      Ô Trương văn Anh.

70. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam, chi hội Bắc California:

      Dr Phạm Đức Vượng.

71. Cộng Đồng Việt Nam Cleverland:  Ông Nguyễn Hữu Lễ.

72. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas và Phụ cận: Bà Lê Lâm Ngọc.

73. Cộng Đồng Việt Nam Florida: Ô Lưu văn Tươi.

74. Hội Đồng Việt Nam Tự Do: Ông Phan Như Hữu.

76. Hội Nữ Quân Nhân Nam California: bà Phạm Thị Diệu Chi.

77. Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ: Nhà văn Nguyễn Hữu Của.

78. Diễn Đàn Tự Do Dân Chủ: Ông Nguyễn Duy Nghiêu.

79. Câu Lạc Bộ Dân Chủ Tự Do: Ông Nguyễn Cao Nguyên.

80. Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo: Ông Phạm Đức Hậu.

81. Hội Cử Tri Việt Mỹ Nam Cali: Ông Hoa Thế Nhân.

82. Hội Đồng Hương Biên Hòa: Bà Duyên Trang.

83. Hội Nữ Quân Nhân Nam Cali: Bà Phạm Diệu Chi.

84. Ái Hữu Quốc Gia Nghĩa Tử:  Ông Ngô Chí Thiềng.

85. Cộng Đồng Riverside: Nhân sĩ Phan Đa Văn.

86. Tổng đoàn Thanh niên Phật giáo Hòa Hảo: Ô Trương văn Đức.

87. Câu Lạc bộ Thi văn Tao Đàn Hải ngoại: Nhà thơ Vũ Lang.

88. Câu Lạc Bộ Tình Nghệ sĩ: NS Cao Minh Hưng.

89. Chiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (Sáng lập viên PTPNVNHĐCN) France.

90. Hội Hải Quân & Hàng Hải Trần Quang Khải, Philadelphia và phụ cận:

      Hội Trưởng Nguyễn Tạ Quang.

91. Ban Tư Vấn 8406: Ô Nguyễn Thanh Hùng.

92. Tiếng Nói Giáo dân: Bà Trần Thanh Hiền.

93. Bạch Đằng Giang Founation: Dương Hồng Thẩm, Việt Nam.

94. Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước: Nguyễn Khánh, Việt Nam.

95. Hội Đồng Hương và Thân Hữu Thái Bình: Bà Đào Bích Ty.

96. Hội Đồng Hương Ban Mê Thuột : Ô Nguyễn Xuân Kế.

97. Diễn Đàn Văn Hiến Việt Nam: Nam Phong.

98. Vietnamtomorrow Foundation: Phạm Trần Quốc Việt.

99. Tổ chức Bạch Đằng Giang: Nguyễn Đức Vinh.

  1. Báo Thời Luận: Nhà văn Đỗ Tiến Đức.

101. Điện Báo Ánh Dương: Bà Đỗ Thị Thuấn.

102. Diễn Đàn Người Dân Việt Nam: Minh Đức.

103. Khối 8406 Nam California: Ô Vũ Hoàng Hải, Tư vấn.

104. Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẵng WA: Đinh Hùng Chấn: Hội Trưởng.

105. Phân Khu Hội Cựu TNCTVN Tacoma WA: Ông Cao Hữu Thiên.

106. Ái Hữu Thiếu Sinh Quân Sandiego: Ô Vũ Ngọc Mỹ.

107. Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Nam Cali: Ô Trần văn Thắng.

CT Ủy ban Thường vụ HĐ Giám sát.

108. Cộng Đồng Việt Nam SanDiego: Ô Nguyễn văn Lực.

109. Gia đình Phật Tử An lạc Phụng Sự: Cư sĩ Hoàng văn Phong.

110. Tạp san Đồng Nai Cửu Long: Ô Vương Huê.

111. Cộng Đồng Việt Nam Los Angeles : Nhân sĩ Nguyễn văn Cừ.

112. Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức : Tâm Hòa Lê Quang Dật.

113. Hội Đồng Hương Bạc Liêu: Ô Hứa Trung Lập.

114. Nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân: nhà báo Trần Phong Vũ

115. Hội Phụ Nữ Nhân Ái Thiện Nguyện Nam Cali HK: Bà Hồng Lan.

116. Liên Hội Cựu Chiến Sĩ SanDiego: Ô Hoàng văn Nhạn.

117. Lực Lượng Thanh niên Việt Nam Âu Châu: Ô Lý Minh Thuận.

118. Nghị viện Người Việt Tỵ nạn CS ở Âu Châu: Ô Cao Tấn Hưng.

119. Ủy Ban Người Việt Tỵ nạn Hải ngoại yểm trợ Quốc Nội: Ô Nguyễn Tấn Đức.

120. Bút Nhóm Gọi Đàn: Nhà văn Tâm Bền.

121. Nguyệt san Hoài Hương: Minh Nguyệt WA DC.

122. Hội Đồng Liên Tôn: GS Nguyễn Thanh Giàu.

123. Hội Văn hoá Người Việt Philadelphia và vùng phụ cận: Bà Hồng Khương.

124. Ủy Ban Phát Huy & Bảo vệ Chính nghĩa Quốc Gia : Nhân sĩ Lê Ngọc Diệp.

125. Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa Lưu Vong.

126. Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại (Vietnamese Legion).

127. Cửu Long Radio cùng chương trình Thiên Ánh Đạo Vàng. (Bảo Tố & Triệu Phổ).

  1. Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California: Ông Mai Khuyên.

129. Thanh niên Đại đạo Cao Đài: Ô Ngô Thiện Đức.

130. Ban Tù Ca Xuân Điềm.

131. LiênHội Cựu Chiến sĩ Nam California: Ô Phan Tấn Ngưu.

132. Đoàn Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu: Ô Lê văn Hiệp.

133. Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng hòa, Vùng Đông Pháp Quốc: Ô Nguyễn Duy Phương.

134. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở Thụy Sĩ: Ô Trần Phi.

135. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Ở Pháp: Ô Rémond Deprez.

136. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại CHLB Đức: KS Vũ Duy Toại.

137. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Tiệp Khắc: Ô Nguyễn Hữu Ích.

138. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Thụy Điển: Ô Đoàn văn Thủy.

139. Phong trào Yểm trợ Tự do Tôn giáo và Nhân quyền Canada: Ô Đoàn văn Thùy.

140. Thanh Niên yêu Nước Việt Nam: Nguyễn Khánh (Việt Nam).

141. Lực Lượng Sĩ quan Thủ Đức QLVNCH Bắc California: Ô Nguyễn Minh Đường.

142. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Tây Bắc Hoa Kỳ: Nhà thơ Hoàng Xuyên Anh.

143. Hội Cao Niên SanDiego: Nhân sĩ Trang Anh Dũng.

144. Câu Lạc Bộ Đồng Hành: Ô Vương Hoàng Minh.

145. Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Georgia: Trist Thùy Dương Nguyễn.

146. Vietnamese American Community Oklahoma: Trần văn Hòa.

147. Đoàn Du Tăng Thế Giới: HT Thích Giác Lượng.

148. Ủy ban Canada Yểm trợ Dân chủ, Tự do Tôn giáo Việt Nam: Ls Alain Ouellet

        Comité canadien de   support a la democratie et liberte religieuse au Vietnam.

149. Cộng Đồng Việt nam Seattle: Ô Trần Trung Dung.

      

 

 

 

DANH SÁCH CÁC NHÂN SĨ ĐỒNG KÝ TÊN:

 

1. Thượng Tọa Thích Thiện Minh, cố vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.

  1. Linh mục Nguyên Thanh, cố vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.

3. Lê Châu Lộc: Cựu Thượng Nghị sĩ VNCH.

4. Dr Nghiemphu: Cố vấn Chính phủ VNCH.

5. Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện.

6. Hòa Thượng Thích Nhật ban, GH PGVNTN (Việt Nam)

7. Bs Lê Thị Lễ, Hoa Kỳ.

8. Gs Nguyễn Thị Hiền, Thụy Sỉ.

9. Gs Phan Thị Độ, Úc Đại Lợi.

10. Nhân sĩ Huỳnh văn Lang.

11. Nhân sĩ Ngô Văn Xức 85 tuổi USA.

12. Cư sĩ Minh Pháp USA.

13. Nhà báo Thanh Huy, Việt Báo.

14. Nhà báơ Thanh Phong, Sài Gòn Nhỏ.

15. LS Nguyễn Bắc Truyễn (Việt Nam).

16. Nhạc sĩ Lê Quốc Tấn USA.

17. Nhà văn Trần Công Ngự.

18. Nhân sĩ Vũ Khánh Thành, Anh Quốc.

19. Nhân sĩ Việt Nhân, USA.

20. Chiến sĩ Huỳnh Nguyên Đạo.

………………………………..

 

     

THE VIETNAMESE POLITICAL AND RELIGIOUS PRISONER FELLOWSHIP ASSOCIATION

    12911 Josephine St #D, Garden Grove CA 92841. Email: quocvietanhpham@yahoo.com

Date: March, 05, 2012

 

A CALL FROM

THE VIETNAMESE POLITICAL AND RELIGIOUS PRISONER FELLOWSHIP ASSOCIATION

 

Whereas:

 

  1. God gives man the right to life, liberty, and pursuit of happiness that the U.S. Constitution and the civilized world have been affirmed and respected absolutely. The Socialist Republic of Vietnam has signed to comply with the Universal Declaration of Human Rights and the International Covenant on Civil and Political Rights, but it so far has not implemented these agreements.

 

  1. Mankind has entered the third millennium of civilization; everyone has the right to live in peace in a civil society of a true democracy. Freedom of religion, freedom of speech and association, right to possess private properties are intrinsic rights of every human being. In a state ruled by laws, all citizens must have the right to form associations to protect their immediate interests such as wages to survive and support their families. In reality, Vietnamese Communist regime has not respected these rights.

 

  1. Intellectuals, artists, students, and youths are the foundation and the future of the nation. But, the Vietnamese Communist government do not respect and listen to their true aspirations and proposals to build the country. In contrast, the regime has explored tactics of domination, repression, and bribery to use them as tools to serve the Communist Party, a gang of traitors. The Vietnamese regime has suppressed people’s patriotic movements, beaten and arrested patriots such as musician Viet Khang, dissident Pham Thanh Nghien, blogger Ta Phong Tan, and innocent citizen Bui Minh Hang …

 

  1. The purpose of a national army is to defend the country whenever it is in danger or against invasion. But Vietnamese Communist regime is using its People Military as a tool to protect their party, a junta of traitors, not Vietnamese people. Vietnam Fatherland is in danger, likely under threat of invasion of Red China. Ignoring this danger, the gang of traitors-leaders keeps maintaining an inhumane dictatorship and enriching themselves at the cost of people’s sweats, tears and sacrifices.

 

  1. Red China, today with the ambition to dominate and monopolize the Sea of Southeast Asia, has become the new Red Empire. It does not only threaten the survival of the people of Vietnam and other Southeast Asian countries, but it also is a real danger for the whole mankind.

 

In coping with the threat of invasion by the new red empire of China, for the survival of the Vietnamese people and their fatherland, and the stability of the world’s security.

 

We, all the Vietnamese patriots, call on:

 

  1. The Socialist Republic of Vietnam must implement the provisions of the Universal Declaration of Human Rights and International Covenant on Civil and Political Rights. The Socialist Republic of Vietnam must truly respect the freedom and all basic human rights of the people.   

                           

  1. The Socialist Republic of Vietnam must enact laws that should specify the fundamental freedoms of people in a civil society of true democracy. It must respect the right of ownership of properties and land of its people by returning all illegal confiscated lands and properties of the religious organizations. It must respect freedom of religion. The Socialist Republic of Vietnam must respect and treat equally all the organizations of religions. It must dissolve all the state-run labor unions and return the freedom of establishment union to peasants and workers.

 

  1. The Socialist Republic of Vietnam must dissolve all the associations of fake patriotic intellectuals, associations of writers run by the dictatorship government. It must respect intellectuals and return the freedom of creation to artists. The Socialist Republic of Vietnam must respect the autonomy of the university, eliminate the teaching of communism in school and dissolves the Communist Youth Organizations.

 

  1. The Socialist Republic of Vietnam must let its army to perform the lofty sacred duty of defending the country against invasion of Red China. It is the time the Communist Party and the government of the Socialist Republic of Vietnam must put national interests ; Otherwise, the people of Vietnam will boycott, overthrow it by demonstrations on street, and upraise along with patriotic soldiers to regain its sovereignty of the country.

 

  1. The Socialist Republic of Vietnam must release immediately and unconditionally all prisoners of conscience, return lands and properties confiscated illegally to their owners across the country. It must return the country’s power to their people by holding a democratic election under the supervision of the United Nations, forming a Constitutional Congress to draft a Constitution for a new democratic regime.

 

  1. The United States, the civilized countries, the associations and organizations of human rights in the world, please support the people of Vietnam in the struggle against one-party, oppressive, and unjust communist puppet regime, to fulfill the democratic revolution and build a new democratic and progress country and contribute to the protection of its national sovereignty, the prosperity and the security of the world.

 

 

THE VIETNAMESE POLITICAL AND RELIGIOUS PRISONER FELLOWSHIP ASSOCIATION

PHAM TRẦN ANH, Chairman

Partial list of the Vietnamese Organizations across the world agreeing with this Call:

 

1.  Vietnamese Political and Religious Prisoner Fellowship Association: Mr  Phạm Trần Anh.

2.  Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại: Bô lão Võ Toàn.

3.  Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: HT Thích Không Tánh (Việt Nam).

4.  Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Tuý: Hội Trưởng Lê Quang Liêm (Việt Nam).

5.  Khối 8406: LM Phan văn Lợi (Việt Nam).

  1. Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân tộc Việt Nam, Giáo Hội Liên Hữu  

      Lutheran Viet Nam & Hoa Kỳ.

7.  Cao Đài Giáo Việt Nam: GS Nguyễn Mạnh Bảo (Việt Nam).

8.  Nhóm LM Nguyễn Kim Điền: Đại diện LM Phêro Nguyễn Hữu Giải (Việt Nam).

9.  Hội Quốc tế Nghiên cứu Biển Đông Nam Á: GS Nguyễn Thanh Liêm.

10.  Mặt Trận Dân Tộc Cứu Quốc: Phạm Hưng Quốc.

  1. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại: DS Vũ văn Tùng, CT.

12. Đại diện Khối 8406 Hải Ngoại: GS Nguyễn Chính Kết.

  1. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California: LS Nguyễn Xuân Nghĩa.
  2. Ủy Ban Hoà đồng Dân tộc và Tôn giáo: TS Nguyễn Anh Tuấn.
  3. Liên minh Dân tộc Việt Nam: Nhà văn Chu Tấn.

16. Tổ chức Quốc tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản: BS Nguyễn Quốc Quân.

17. Phong Trào Giáo Dân: Ô Cao Viết Lợi.

18. Tổng Hội Cựu Tù nhân Chính Trị Việt Nam: Ô Nguyễn Trung Châu.

19. Hội Nghiên cứu Lịch sử: Nhà bình luận Chu Chi Nam.

20. Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam Hành Động Cứu Nước:

Chủ Tịch Bà Đặng Thị Danh, Toronto, Canada .

21 . Phong Trào yểm Trợ Tự do Tôn giáo và Nhân quyền Việt Nam: HT Thích Nguyên Trí.

22. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Âu Châu: Cựu Thẩm phán Trần Đức Lai.

23. Phong trào Đấu tranh Đòi Tự Do Tôn Giáo và Nhân quyền VN: Ô Lại Thế Hùng.

24. Truyền Thông Toàn cầu Global Viet Media: Dr Nghiêm Phú.

25. Coalition of American Citizen For Freedom and Democracy:

      BS Nguyễn Hy Vọng

26. Việt Nam Cộng Hòa Foundation: Thiếu Tướng Lý Tòng Bá.

27. Vietnam Helsiki HR Committeee: Ô Trần Tử Thanh.

28. Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất: Ô Lê Sơn Hà, Phó TBT

29. Liên Minh Quang Phục Việt Nam: Nhân sĩ Võ Đại Tôn.

30. Đại Việt Quốc Dân Đảng: TS Phan văn Song.

31. Mặt Trận Việt Nam Tự Do Âu Châu: Ô Trần Minh Chiêu

32. Liên Minh Dân chủ Việt Nam Thuần Túy: Ô Lý Hiền Tài.

33. Đại Việt Cách Mạng Nam California: Ô Nguyên Duy.

34. Đảng Dân chủ Nhân dân: Ô Đỗ Thành Công.

35. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Úc Châu: Nhân sĩ Phạm Ngọc Điệp.

36. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Bắc California: Nhân sĩ Phạm văn Tường.

37. Hội Nhân Sĩ Diên Hồng Thời Đại Nam California: Học gỉa Vũ Hữu San.

38. Hội Nhân Sĩ Diên Hồng Thời Đại Colorado: Nhân sĩ Trần Trọng Thuyên.

39. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại Canada: LS Vũ Ngọc Truy.

40. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại SanDiego: Nhân sĩ Phan Bái.

41. Ủy Ban Phối Hợp chống CS và Tay sai: Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn.

42. Hội Đền Hùng Hải Ngoại: Nhân sĩ Trần Thanh Phong.

43. Cộng đồng Công giáo Nam VN: Ô Nguyễn Thanh Liêm.

44. Các Hội đoàn Trẻ Nam Cali (Tổng Hội Sinh Viên,  Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu, Ðoàn Thanh Niên Thủy Quân Lục Chiến,  Ðoàn Thanh Niên Việt-Mỹ,  Ðoàn Thanh Niên Cao Ðài,  Ðoàn Thanh Niên Phật Tử Miền Quảng Ðức,  Ðoàn Thanh Niên Phật tử chùa Ðiều Ngự,  Ðoàn Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo,  Giới Trẻ Công Giáo và  Liên Ðoàn Học Sinh Trung Học Nam California: Billy Lê.

54. Trung tâm Trưởng /TTĐH/TB/HK: BĐQ/Tr tá Lương văn Ngọ.

55. Trung tâm Trưởng /TTĐH/TN/HK: Ô Trần Vệ.

56. Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ: Ông Đoàn Thế Cường.

57. Ban Trị sự Trung ương Hải Ngoại, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo: GS Nguyễn Thành Long.

58. Vietnamese historical researcher association in Europe. : Ô Nguyễn Phúc Bảo Việt.

59. Hội Cựu SV Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ: Ô Nguyễn Kim Hương Hỏa.

60. Hội Cựu SV Quốc Gia Hành Chánh Nam Cali: Ông Trần Ngọc Thiệu.

61. Uỷ Ban Vận động CPC: Ông Nguyễn Tấn Lạc.

62. Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân quyền VN: LM Đinh Xuân Minh.

63. Vietnamese American Voters Association: Jackie Bong Wright, President.

64. Vietnamese Political and Religious Prisoner Fellowship Association in Europe:    

      Dr Nguyễn Ngọc Hùng.

65.Vietnamese Political and Religious Prisoner Fellowship Association Austalia:

      PCT Đoàn Nguyên Hồng.

66. Vietnamese Political and Religious Prisoner Fellowship Association Cambodia:

      Nguyễn Phùng Phong.

67. Vietnamese Political and Religious Prisoner Fellowship Association Thailand:

      Lê Thái Lan.                                                         

68. Vietnamese Political and Religious Prisoner Fellowship Association, Denmark:

      Writer Uyên Hạnh.

69. Vietnamese Political and Religious Prisoner Fellowship Association, South California:

      Ô Trương văn Anh.

70. Vietnamese Political and Religious Prisoner Fellowship Association, California:

      Dr Phạm Đức Vượng.

71. Vietnamese Community in Cleverland, Ohio:  Ông Nguyễn Hữu Lễ.

72. Vietnamese Community Dallas: Mrs Lê Lâm Ngọc.

73. Vietnamese Community in Florida: Ô Lưu văn Tươi.

74. Hội Đồng Việt Nam Tự Do: Ông Phan Như Hữu.

76. Hội Nữ Quân Nhân Nam California: bà Phạm Thị Diệu Chi.

77. Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ: Nhà văn Nguyễn Hữu Của.

78. Diễn Đàn Tự Do Dân Chủ: Ông Nguyễn Duy Nghiêu.

79. Câu Lạc Bộ Dân Chủ Tự Do: Ông Nguyễn Cao Nguyên.

80. Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo: Ông Phạm Đức Hậu.

81. Hội Cử Tri Việt Mỹ Nam Cali: Ông Hoa Thế Nhân.

82. Hội Đồng Hương Biên Hòa: Bà Duyên Trang.

83. Hội Nữ Quân Nhân Nam Cali: Bà Phạm Diệu Chi.

84. Ái Hữu Quốc Gia Nghĩa Tử:  Ông Ngô Chí Thiềng.

85. Cộng Đồng Riverside: Nhân sĩ Phan Đa Văn.

86. Tổng đoàn Thanh niên Phật giáo Hòa Hảo: Ô Trương văn Đức.

87. Câu Lạc bộ Thi văn Tao Đàn Hải ngoại: Nhà thơ Vũ Lang.

88. Câu Lạc Bộ Tình Nghệ sĩ: NS Cao Minh Hưng.

89. Chiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (Sáng lập viên PTPNVNHĐCN) France.

90. Hội Hải Quân & Hàng Hải Trần Quang Khải, Philadelphia và phụ cận:

      Hội Trưởng Nguyễn Tạ Quang.

91. Ban Tư Vấn 8406: Ô Nguyễn Thanh Hùng.

92. Tiếng Nói Giáo dân: Bà Trần Thanh Hiền.

93. Bạch Đằng Giang Founation: Dương Hồng Thẩm, Việt Nam.

94. Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước: Nguyễn Khánh, Việt Nam.

95. Hội Đồng Hương và Thân Hữu Thái Bình: Bà Đào Bích Ty.

96. Hội Đồng Hương Ban Mê Thuột : Ô Nguyễn Xuân Kế.

97. Diễn Đàn Văn Hiến Việt Nam: Nam Phong.

98. Vietnamtomorrow Foundation: Phạm Trần Quốc Việt.

99. Tổ chức Bạch Đằng Giang: Nguyễn Đức Vinh.

  1. Báo Thời Luận: Nhà văn Đỗ Tiến Đức.

101. Điện Báo Ánh Dương: Bà Đỗ Thị Thuấn.

102. Diễn Đàn Người Dân Việt Nam: Minh Đức.

103. Khối 8406 Nam California: Ô Vũ Hoàng Hải, Tư vấn.

104. Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẵng WA: Đinh Hùng Chấn: Hội Trưởng.

105. Phân Khu Hội Cựu TNCTVN Tacoma WA: Ông Cao Hữu Thiên.

106. Ái Hữu Thiếu Sinh Quân Sandiego: Ô Vũ Ngọc Mỹ.

107. Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Nam Cali: Ô Trần văn Thắng.

CT Ủy ban Thường vụ HĐ Giám sát.

108. Cộng Đồng Việt Nam SanDiego: Ô Nguyễn văn Lực.

109. Gia đình Phật Tử An lạc Phụng Sự: Cư sĩ Hoàng văn Phong.

110. Tạp san Đồng Nai Cửu Long: Ô Vương Huê.

111. Cộng Đồng Việt Nam Los Angeles : Nhân sĩ Nguyễn văn Cừ.

112. Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức : Tâm Hòa Lê Quang Dật.

113. Hội Đồng Hương Bạc Liêu: Ô Hứa Trung Lập.

114. Nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân: nhà báo Trần Phong Vũ

115. Hội Phụ Nữ Nhân Ái Thiện Nguyện Nam Cali HK: Bà Hồng Lan.

116. Liên Hội Cựu Chiến Sĩ SanDiego: Ô Hoàng văn Nhạn.

117. Lực Lượng Thanh niên Việt Nam Âu Châu: Ô Lý Minh Thuận.

118. Nghị viện Người Việt Tỵ nạn CS ở Âu Châu: Ô Cao Tấn Hưng.

119. Ủy Ban Người Việt Tỵ nạn Hải ngoại yểm trợ Quốc Nội: Ô Nguyễn Tấn Đức.

120. Bút Nhóm Gọi Đàn: Nhà văn Tâm Bền.

121. Nguyệt san Hoài Hương: Minh Nguyệt WA DC.

122. Hội Đồng Liên Tôn: GS Nguyễn Thanh Giàu.

123. Hội Văn hoá Người Việt Philadelphia và vùng phụ cận: Bà Hồng Khương.

124. Ủy Ban Phát Huy & Bảo vệ Chính nghĩa Quốc Gia : Nhân sĩ Lê Ngọc Diệp.

125. Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa Lưu Vong.

126. Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại (Vietnamese Legion).

127. Cửu Long Radio cùng chương trình Thiên Ánh Đạo Vàng. (Bảo Tố & Triệu Phổ).

  1. Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California: Ông Mai Khuyên.

129. Thanh niên Đại đạo Cao Đài: Ô Ngô Thiện Đức.

130. Ban Tù Ca Xuân Điềm.

131. LiênHội Cựu Chiến sĩ Nam California: Ô Phan Tấn Ngưu.

132. Đoàn Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu: Ô Lê văn Hiệp.

133. Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng hòa, Vùng Đông Pháp Quốc: Ô Nguyễn Duy Phương.

134. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở Thụy Sĩ: Ô Trần Phi.

135. Vietnamese Community in France: Mr Rémond Deprez.

136. Vietnamese Community in Germany: Mr Vũ Duy Toại.

137. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Tiệp Khắc: Ô Nguyễn Hữu Ích.

138. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Thụy Điển: Ô Đoàn văn Thủy.

139. Phong trào Yểm trợ Tự do Tôn giáo và Nhân quyền Canada: Ô Đoàn văn Thùy.

140. Thanh Niên yêu Nước Việt Nam: Nguyễn Khánh (Việt Nam).

141. Lực Lượng Sĩ quan Thủ Đức QLVNCH Bắc California: Ô Nguyễn Minh Đường.

142. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Tây Bắc Hoa Kỳ: Nhà thơ Hoàng Xuyên Anh.

143. Hội Cao Niên SanDiego: Nhân sĩ Trang Anh Dũng.

144. Câu Lạc Bộ Đồng Hành: Ô Vương Hoàng Minh.

145. Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Georgia: Trist Thùy Dương Nguyễn.

146. Vietnamese American Community Oklahoma: Trần văn Hòa.

147. The World Itinerant Monk Congregation: Most. Ven Thich Giac Luong.

148. Comité canadien de   support a la democratie et liberte religieuse au Vietnam

       Ủy ban Canada Yểm trợ  Dân chủ, Tự do Tôn giáo Việt Nam: Ls Alain Ouellet.

149. Vietnamese Community in Seattle, Washington State: Mr Trần Trung Dung.

 

 

DANH SÁCH CÁC NHÂN SĨ ĐỒNG KÝ TÊN:

 

1. Thượng Tọa Thích Thiện Minh, cố vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.

  1. Linh mục Nguyên Thanh, cố vấn Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.

3. Lê Châu Lộc: Cựu Thượng Nghị sĩ VNCH.

4. Dr Nghiemphu: Cố vấn Chính phủ VNCH.

5. Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện.

6. Hòa Thượng Thích Nhật ban, GH PGVNTN (Việt Nam)

7. Bs Lê Thị Lễ, Hoa Kỳ.

8. Gs Nguyễn Thị Hiền, Thụy Sỉ.

9. Gs Phan Thị Độ, Úc Đại Lợi.

10. Nhân sĩ Huỳnh văn Lang.

11. Nhân sĩ Ngô Văn Xức 85 tuổi, cựu tù nhân Lương Tâm  USA.

12. Cư sĩ Minh Pháp USA.

13. Nhà báo Thanh Huy, Việt Báo.

14. Nhà báơ Thanh Phong, Sài Gòn Nhỏ.

15. LS Nguyễn Bắc Truyễn (Việt Nam).

16. Nhạc sĩ Lê Quốc Tấn USA.

17. BS Huỳnh Trung Đạo, Tù nhân Lương Tâm Thái Lan.

18. Chu Vũ Ánh, Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á, Pháp Quốc.

19. Nhà văn Trần Công Ngự.

20. Nhân sĩ Vũ Khánh Thành, Anh Quốc.

21. Nhân sĩ Việt Nhân, USA.

…………………………………………………………………………………………….

 

 

 

BA MƯƠI B ẢY NĂM “NGÀY QUỐC HẬN”

NHÌN LẠI CUỘC CHIẾN VIỆT NAM: AI THẮNG AI?

 

Ba mươi sáu năm đã trôi qua nhưng chúng ta vẫn canh cánh bên lòng nỗi buồn “Mất nước” để toàn dân Việt sống trong lầm than thống khổ, còn chúng ta vẫn sống đời lưu vong trên xứ sở tạm dung này.  Đã đến lúc, chúng ta cùng bình tâm nhìn lại lịch sử để từ đó sẽ có một nhận định toàn diện và đúng đắn về cuộc chiến Việt Nam. Từ những sự thật lịch sử, chúng ta mới nhận thức rõ về hoàn cảnh của đất nước Việt Nam và chúng ta phải làm gì để đưa dân tộc Việt vượt qua cơn khổ nạn để sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới.

 

Sau hiệp định Patenôtre 1884, thực dân Pháp chính thức đặt ách đô hộ trên đất nước thì nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đứng lên chiến đấu giành độc lập dân tộc. Đất nước chúng ta chưa thoát khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp thì đảng CSVN lại đưa dân tộc Việt vào cuộc chiến tranh ý thức hệ, đối đầu giữa CS và tư bản khiến hàng triệu người dân Việt đã phải hy sinh. Đảng CSVN đã núp dưới danh nghĩa Việt Minh với chiêu bài kháng chiến để lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân đánh đuổi thực dân Pháp để nhuộm đỏ đất nước Việt Nam. Nếu lấy mốc lịch sử kể từ cái gọi là “Ngày Toàn quốc kháng chiến” 16 tháng 12 năm 1946 cho tới thời điểm Trung Công và Liên Sô công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tháng 1 năm 1950 thì chúng ta có thể tạm gọi cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến giành độc lập Dân tộc.

 

Sau khi Trung Cộng công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo ngày 14-1-1950) thì ngày 31-1-1950, Liên Sô công nhận nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trước hiểm họa Cộng Sản xâm lược Đông Dương và bành trướng xuống Đông Nam Á, Hoa Kỳ và Anh Quốc công nhận Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại ngày 7-2-1950, cuộc chiến đã chuyển sang một thời kỳ lịch sử mới: cuộc chiến ý thức hệ đối đầu giữa 2 ý thức hệ Tư Bản và Cộng sản chứ không còn là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nữa, mặc dù cộng sản vẫn tuyên truyền rêu rao là “giải phóng dân tộc” là “chống Mỹ cứu nước”.

 

Chính vì vậy, chúng ta phải hiểu rõ bản chất của cuộc chiến hay nói cách khác, hiểu rõ ý đồ của các thế lực quốc tế toan tính những gì trên xương máu mồ hôi và nước mắt của toàn dân Việt Nam chúng ta mới thấy rõ toàn bộ vấn đề. Như vậy kể từ tháng 1 năm 1950, cuộc chiến Việt Nam không còn thuần túy là cuộc kháng chiến chống Pháp nữa mà đã chuyển sang cuộc chiến tranh ý thức hệ mà ta thường gọi là chiến tranh lạnh giữa 2 khối tư bản và Cộng sản. Đây là một sự thật lịch sử về bản chất của cuộc chiến Việt Nam mà từ trước đến nay chúng ta mỗi người hiểu một cách. Thật vậy, đồng bào miền Bắc nhất là các đảng viên đoàn viên bị nhồi nhét tuyên truyền “Bác Hồ” là người yêu nước và đảng Cộng sản Việt Nam có công giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp. Đồng bào trong Nam thì hiểu là cuốc chiến tranh ý thức hệ ngăn chặn làn sóng đỏ, còn đa số quần chúng nhân dân thì hiểu đơn giản là cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn. Thật vậy, đối với quần chúng và nhất là giới nghệ sĩ thì đó là một cuộc nội chiến tương tàn “Ba mươi năm nội chiến từng ngày …” nồi da xáo thịt “Người chết hai lần … thịt da nát tan …!” khiến 4 triệu đồng bào Việt Nam ở miền Bắc đã hi sinh cho một cuộc chiến vô nghĩa như các nhà văn từng sống trong chế độ Cộng sản đã phải ngao ngán viết lên những sự thật phũ phàng của cái gọi là “Chống Mỹ Cứu nước …!

 

THỰC CHẤT CỦA CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

 

Chúng ta đã thất rõ hậu qủa của cuộc chiến đối với dân tộc Việt Nam nhưng một vấn đề quan trọng nữa được đặt ra là “Thực chất” của cuộc chiến tranh Việt Nam là gì?. Nói cách khác, các phe tham chiến ở VN mưu đồ tính toán những gì trên xương máu của nhân dân Việt Nam? 

 

ĐỐI VỚI LIÊN SÔ

 

Đối với Liên Sô thì ngoài mục đích bành trướng chủ nghĩa CS, họ còn dùng chiến tranh Việt Nam để tiêu hao sinh lực “đế quốc” Mỹ cho đến “người Việt Nam cuối cùng” trong cuộc chạy đua vũ trang giành quyền bá chủ thế giới. Trong nhiều năm dài, điện Kremli luôn luôn phủ nhận việc Liên Sô có quân đội tham chiến tại Việt Nam. Mãi đến khi Liên bang Sô viết sụp đổ vào năm 1991, giới chức Nga mới công nhận là có hơn 3.000 quân Liên Sô tham gia trận chiến chống quân đội Mỹ tại Việt Nam trước đây. Tướng Vladimir Abramov được giao nhiệm vụ chỉ huy các sĩ quan và binh lính Sô Viết trong vùng Đông Nam Á. Việc lắp ráp hoả tiễn, radar và huấn luyện là do các chuyên gia Liên Sô chuyên gia về hậu cần, chuyên gia về hải quân, chuyên gia về tên lửa, chuyên gia về không quân, về các loại binh chủng … Theo báo Russia Today, các chuyên gia Sô Viết đã đóng vai trò trọng yếu trong việc huấn luyện các lực lượng Bắc Việt Nam, và tên lửa Sô Viết gây thiệt hại nặng cho các phi cơ Mỹ. Nikolay Kolesnik phát biểu trên báo Russia Today “Chúng tôi chỉ được coi là chuyên gia quân sự Nga. Cấp chỉ huy thì mang danh là chuyên gia cao cấp nhưng chúng tôi là binh sĩ Liên Sô. Chúng tôi làm tất cả để ngăn các cuộc không kích”.

 

 

 

ĐỐI VỚI TRUNG CỘNG

 

Đối với Trung Cộng thì chủ trương cố hữu của các triều đại Hán tộc xưa và Trung Cộng ngày nay là xâm chiếm Việt Nam bằng mọi giá để mở đường xuống Đông Nam Á. Ý đồ chiến lược của Trung Cộng là chiếm đóng khu vực này để khống chế eo biển Mallacca,  kiểm soát toàn bộ lộ trình huyết mạch của Trung Quốc cũng như các nước khác có  quyền lợi sinh tử  ở  Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Mao Trạch Đông đã công khai tuyên bố trắng trợn ý đồ xâm chiếm Việt Nam: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”. Đế quốc mới TC còn ngang nhiên vẽ bản đồ Trung Quốc bao gồm nhiều nước chung quanh kể cả Đông Nam Á và biển Đông với “Lưỡi Bò” độc chiếm Biển Đông Nam Á.

 

Sự thật lịch sử đã chứng minh rằng có mặt của 300.000 hồng quân Trung Cộng đã tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ 1953 cũng như xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tức Trung Cộng đã công bố sự thật như sau: “ Trong giai đoạn giúp Việt chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đã vì Việt Nam mà đóng góp không biết bao nhiêu tài lực, nhân lực, vật lực, pháo binh, công binh, nhân viên đường sắt, nhân viên thư tín, hải quân, không quân, hậu cần vận tải … 16 chi đội (trong quân sự TRUNG QUỐC tương đương với trung đoàn, hoặc sư đoàn), hơn 30 vạn người ở Việt Nam trong hơn 3 năm 9 tháng đấu tranh. Tác chiến đối không 2153 lần, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ, bắt sống 42 phi công Mỹ, viện trợ Việt Nam xây dựng Hải Phòng, Hòn Gai, các thành phố duyên hải và xây dựng hệ thống phòng ngự ở tam giác châu thổ sông Hồng, tu sửa và xây dựng các tuyến đường huyết mạch, sân bay, tuyến đường sắt đông tây, mở đường trên biển và chi viện cho đường mòn Hồ Chí Minh. Từ năm 1950 đến năm 1978, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam hơn 200 tỷ mỹ kim, và trong đó đến 93% là viện trợ không hoàn lại, đó là chưa kể xương máu mà 1446 chiến sỹ đã hy sinh, 4200 người trọng thương… những hy sinh đó tuyệt đối không thể tính bằng tiền“. Bắc Triều Tiên đến 2001 mới thừa nhận họ cũng đưa 200 phi công Bắc Hàn đã trực tiếp chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong các đợt tấn công của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam. Tháng Bảy 2001 Bình Nhưỡng và Hà Nội mới bốc mộ những phi công Bắc Hàn tử trận tại Việt Nam về Bắc Hàn.

 

Theo các tài liệu mới được công bố thì cuộc chiến tranh chống Pháp được Trung Quốc chỉ đạo trực tiếp từ chính trị tới quân sự. La Quý Ba đại diện của đảng CSTQ làm cố vấn chính trị cho Đảng CSVN và tướng Trần Canh làm cố vấn quân sự. Mọi kế hoạch đều do Trần Canh vạch ra và chỉ đạo trực tiếp. Ngày 02/07/1950, Mao Chủ Tịch gửi điện trả lời Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam:“Đồng ý ý kiến đánh Cao Bằng trước, phương án tác chiến cụ thể đối với Cao Bằng, chờ sau khi Trần Canh đến, do các đồng chí quyêt định cuối cùng….”. Tài liệu này đã xác nhận một sự thật lịch sử là Trần Canh chính là nhân vật quyết định tối hậu về chiến tranh Việt Nam, không phải Võ Nguyên Giáp cũng không phải Hồ chí Minh. Dĩ nhiên, Mao Trạch Đông là lãnh tụ cao nhất. Quân Ủy và Bộ Chính Trị Trung Cộng giữ vai trò chỉ đạo từ Bắc Kinh. La quý Ba kể thêm về sự khẩn nài của Hồ Chí Minh như sau:“Mùa đông năm 1951, Hồ Chí Minh một lần nữa bí mật đến Bắc Kinh thăm Trung Quốc.Trong trao đổi, Hồ chí Minh hỏi Mao Chủ Tịch:“Bộ Chính Trị Trung Ương chúng tôi yêu cầu đồng chí La Quý Ba khi tham gia hội nghị Bộ Chính Trị Trung Ương chúng tôi nêu nhiều ý kiến về các mặt công tác của chúng tôi, giúp đỡ nhiều cho chúng tôi. Nhưng đồng chí quá thận trọng, quá khiêm tốn. Tôi mong các đồng chí giao cho đồng chí ấy nêu nhiêu ý kiến. Mao Chủ Tịch, các đồng chí có đồng ý không?”. Sự kiện này xác nhận một lần nữa vai trò của La Quý Ba chỉ đạo bộ chính tri của đảng CSVN. Một sự  thật lịch sử  về sự chỉ đạo, quyết định của Mao Trạch Đông được La  Quý Ba thừa nhận là “Dù là điện của Trần Canh, Vi Quốc Thanh và tôi xin chỉ thị của Mao Chủ Tịch, Trung Ương Đảng hay chỉ thị của Mao Chủ Tịch, Trung Ương đảng đối với chúng tôi, dù là bức điện về mặt tác chiến (như chiến dịch Biên Giới, chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Tây Bắc. v.v..) xây dựng bộ đội và huấn luyện bộ đội, hay là những bức điện vấn đề quan trọng về mặt xây dựng tư tưởng và xây dựng tổ chức của Đảng, công tác tài chính kinh tế, công tác cải cách ruộng đất, viện trợ quân sự, viện trợ tài chính kinh tế và công tác công an, tình báo, dân tộc thiểu số… Mao Chủ Tịch đều đích thân phê duyệt, sửa chữa, ký cho chuyển đi, trong đó có những bức điện đặc biệt quan trọng, Mao Chủ Tịch tự khởi thảo, khi trả lời các bức điện của Hồ Chí Minh, Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam trưng cầu ý kiến Trung Ương Đảng hoặc các bức điện quan trọng của Mao Chủ Tịch, Trung Ương Đảng nêu ý kiến hoặc kiến nghị với Hồ Chí Minh…”.

 

 

Sự thật lịch sử này đã phơi bầy rõ ràng Đảng CSVN trên thực tế là một chi bộ của đảng CSTQ, cánh tay nối dài của Trung Cộng để thực hiện ý đồ xâm chiếm VN và các nước Đông Nam Á. Sự thật lịch sử này được một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ phát biểu như sau: “Những vòng hoa nơi này là của người Việt Nam mang đến, người dân nơi đây rất kính trọng các liệt sỹ của chúng ta. Trong giai đoạn giúp Việt chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đã vì Việt Nam mà đóng góp không biết bao nhiêu tài lực, nhân lực, vật lực, pháo binh, công binh, nhân viên đường sắt, nhân viên thư tín, hải quân, không quân, hậu cần vận tải … 16 chi đội (1 chi đội trong quân sự TRUNG QUỐC tương đương với trung đoàn, hoặc sư đoàn), hơn 30 vạn người ở Việt Nam trong hơn 3 năm 9 tháng đấu tranh. Tác chiến đối không 2153 lần, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ, bắt sống 42 phi công Mỹ, viện trợ Việt Nam xây dựng Hải Phòng, Hòn Gai, các thành phố duyên hải và xây dựng hệ thống phòng ngự ở tam giác châu thổ sông Hồng, tu sửa và xây dựng các tuyến đường huyết mạch, sân bay, tuyến đường sắt đông tây, mở đường trên biển và chi viện cho đường mòn Hồ Chí Minh. Từ năm 1950 đến năm 1978, TQ đã viện trợ cho Việt Nam hơn 200 tỷ mỹ kim, và trong đó đến 93% là viện trợ không hoàn lại, đó là chưa kể xương máu mà 1446 chiến sỹ đã hy sinh, 4200 người trọng thương… những hy sinh đó tuyệt đối không thể tính được bằng tiền”. Một câu hỏi được đặt ra cho tất cả những người Việt Nam yêu nước là tại sao các nước bị thực dân cai trị đã lần lượt được trả tự do ngay từ thập niên 1950, trong khi dân tộc Việt lại bị đưa vào cuộc chiến tranh ý thức hệ để gần một chục triệu người dân vô tội phải hy sinh một cách oan uổng, hàng chục triệu gia đình Việt Nam ly tán và cho đến ngày nay, đất nước Việt Nam nghèo nàn chậm tiến nhất thế giới? Chính Hồ Chí Minh, cán bộ của đệ tam quốc tế CS đã rước voi về giầy mả Tổ, đưa dân tộc Việt vào một cuộc chiến tương tàn khốc liệt. Đảng CSVN và cá nhân Hồ Chí Minh chính là tội đồ của dân tộc Việt Nam. 

 

 

ĐỐI VỚI HOA KỲ VÀ CÁC NƯỚC TỰ DO

 

Hoa Kỳ và các nước Tây phương nhận thấy hiểm họa to lớn khi “Siêu đế quốc” Liên Sô kết hợp với “Siêu bành trướng” Trung Cộng sẽ là mối nguy cho toàn thể nhân loại. Chính vì vậy, sau Hiệp định Genève Hoa Kỳ đã chính thức thay thế Pháp trong cuộc chiến đối đầu với cộng sản để thử nghiệm các loại vũ khí mới, đồng thời phân hoá Liên Sô và Trung Cộng hầu giảm bớt nguy cơ CS nhuộm đỏ Đông Nam Á. Sau chuyến ngoại giao bóng bàn và Hội nghị Trung Nam Hải giữa Nixon và Mao Trạch Đông, Trung Cộng đã mật ước với Hoa Kỳ nên người Đồng minh Hoa Kỳ đã làm ngơ khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa như một món qùa cho sự giao hảo giữa hai nước. Sự việc không chỉ ngưng ở đó, người bạn đồng minh của chúng ta còn bật đèn xanh cho CSVN xâm chiếm miền Nam …! Đây là bài học lịch sử đầy máu và nước mắt cho những ai còn tin vào “tình nghĩa đồng minh” mà phải luôn nhớ rằng nỗ lực tự thân mới là yếu tố chính để sống còn. Chính tập đoàn cố vấn chính trị của đại học Michigan đã khuyến cáo TT Carter rằng “Ngày nay, TQ đã là đồng minh của chúng ta, nhưng cúng ta luôn nhớ rằng, đồng minh không có nghĩa là người bạn tốt”. Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta phủ nhận những gì Hoa Kỳ đã  giúp chúng ta nhưng chúng ta phải thấy một điều là chính quyền Nixon thời đó đang khốn đốn vì vụ Nghe lén “Watergate” và một khi đã kéo TQ về đồng minh với Hoa Kỳ thì người Mỹ đã đạt mục tiêu chiến lược của họ là phân hóa hàng ngũ CS, tách TC ra khỏi Liên Sô nên Hoa Kỳ đã áp dụng một chiến lược toàn cầu mới là xoá bỏ thế cân bằng chiến lược cũ để xây dựng một chiến lược toàn cầu mới: Bằng mọi giá rút chân ra khỏi VN, dùng tiền viện trợ cho VN dành cho Do Thái ở Trung Đông để dồn hết nỗ lực vào việc đối phó với Liên Sô. Đối với người Mỹ thì họ luôn luôn quý trọng “Thiên Chúa” và Dollars nhưng khi cần thiết thì họ đặt Dollars trên hết nên người Mỹ rất thực dụng. Chúng ta thử làm một con tính thì sẽ thấy rõ vấn đề. Mỗi năm Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH khoảng 20 tỉ mỹ kim, trong khi Liên Sô chi viện cho Hà Nội chỉ 1 tỉ mỹ kim. Như thế, Hoa Kỳ mất đi 19 tỉ mỹ kim để cạnh tranh vũ khí với Liên Xô nên người bạn đồng minh Việt Nam hoá chiến tranh để hoá giải ý đồ làm suy giảm tiềm lực của CS Liên Sô. Nhờ vậy, năm 1981, chỉ với 11 tỉ Mỹ Kim, Hoa Kỳ đã chế tạo thành công phi thuyền con thoi vượt trội hơn CS Liên Sô trong lãnh vực không gian, sau đó cái gọi là Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết đã tan rã không kèn không trống và chủ nghĩa Cộng Sản bị vứt bỏ vào thùng rác của lịch sử nhân loại…(1)

 

AI ĐƯA DÂN TỘC VIỆT

VÀO CUỘC CHIẾN TRANH Ý HỆ TƯƠNG TÀN?

 

Chính Hồ Chí Minh, tội đồ của dân tộc đã “Rước voi Liên Sô về giầy mả Tổ Hùng Vương”, “Cõng rắn độc Trung Cộng về cắn gà nhà Dân tộc”.  Nguyễn Tất Thành sau này đổi tên là Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy rồi Hồ Chí Minh là người Việt Nam theo cộng sản đầu tiên khi sang Pháp năm 1911, rồi sang các nước Phi Châu, Âu Châu, Nam Mỹ, Hoa Kỳ và Anh Quốc. Năm 1917, trở về Pháp hoạt động với tư cách đảng viên đảng xã hội Pháp và theo Luật sư Phan văn Trường, chí sĩ Phan Chu Trinh và những trí thức VN yêu nước chân chính chống thực dân Pháp ngay trên đất Pháp. Những trí thức này sống ngay trên đất Pháp nên không thể xuất hiện công khai nên lấy một tên chung là Nguyễn Ái Quốc để viết báo chống thực dân Pháp. Nguyễn Tất Thành được hướng dẫn học tập rồi được giao nhiệm vụ tuyên truyền vận động công khai chống Pháp với tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1919, gia nhập Đệ tam quốc tế CS tại đại hội Toulouse Pháp. Năm 1920, Nguyễn Tất Thành lợi dụng cái tên Nguyễn Ái Quốc trong sinh hoạt của đảng Xã Hội để trở thành một trong những sáng lập viên của đảng Cộng sản Pháp. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc nhận lệnh sang Nga học tập về tổ chức cách mạng. (1)

 

      Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân phiệt Nhật đảo chánh hất chân thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương. Ngày 11 tháng 3, vua Bảo Đại chính thức tuyên bố độc lập, ngày 17 tháng 4 nhà vua mời học gỉa Trần trọng Kim thành lập chính phủ nhưng không có quân đội nên không giải quyết được vấn đề cấp bách lúc đó. Tình hình thế giới biến chuyển bất ngờ thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngày 6 tháng 8, Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, ngày 9 tháng 8, thành phố Nagasaki cũng bị bom nguyên tử khiến ngày 10 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngay khi Nhật đầu hàng, nhà vua Bảo Đại đã gửi điện văn tới nguyên thủ các nước đồng minh nhưng không được hồi đáp. Các đảng phái quốc gia lúc đó bao gồm thành phần trung lưu trong xã hội chỉ biết chờ đợi các lãnh tụ trở về, các lãnh tụ thì lại chờ quyết định của Quốc Dân Đảng Trung Hoa nên không thu phục được lòng tin của quần chúng nhân dân vốn đã chịu hơn ngàn năm nô lệ giặc Tàu. Trong khi đó, Quốc tế CS đã nắm bắt thời cơ chỉ thị thành lập Đảng CS Đông Dương để bành trướng chủ nghĩa cộng sản. Để che giấu bộ mặt thật CS và lấy niềm tin của quần chúng yêu nước, Hồ Chí Minh đã ra lệnh giải tán đảng CS Đông Dương ngày 11-11-1945 và thành lập Hội Nghiên cứu Mác Xít. Ngày 16-3-1951, thành lập đảng Lao Động để che giấu bộ mặt thật CS không được quần chúng tín nhiệm để lãnh đạo phong trào Việt Minh chống Pháp. Hồ Chí Minh do sự chỉ đạo của quốc tế CS, nắm được thời cơ quân phiệt Nhật đầu hàng lại khéo vận dụng lòng yêu nước của nhân dân dưới chiêu bài Việt Minh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc và nhất là Cộng sản Việt Nam biết lợi dụng sự thống khổ của quần chúng nhân dân sau nạn đói kinh hoàng, kích động lôi kéo thành phần bần cố nông vô sản vào hàng ngũ cộng sản với hứa hẹn một “Thiên đường CS” trên trần gian trong đó không có cảnh người bóc lột người, mọi người đều bình đẳng như nhau, làm theo khả năng và hưởng theo nhu cầu….

 

      Nhận được chỉ thị của quốc tế cộng sản, đảng Cộng sản Đông Dương tiến hành tổng khởi nghĩa. Lợi dụng cuộc biểu tình của Tổng hội Giáo chức công chức Hà Nội tuần hành qua đường phố ngày 17-8 để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, cán bộ cộng sản trà trộn vào hàng ngũ biểu tình hô khẩu hiệu kêu gọi nhân dân nổi lên cướp chính quyền. Cuộc biểu tình của công chức biến thành của Việt Minh trong sự ngỡ ngàng của các đảng phái quốc gia lúc đó còn đang trông chờ lãnh tụ bên Trung Hoa trở về. Sáng hôm sau, ngày 18 tháng 8, Việt Minh xách động quần chúng yêu nước biểu tình bao vây Bắc Bộ phủ yêu cầu Khâm sai Phan Kế Toại từ chức. Ngày 19 tháng 8, một cuộc biểu tình lớn được tổ chức tại nhà hát lớn Hà Nội, cán bộ Việt Minh xách súng lên cướp diễn đàn, hô to khẩu hiệu và giương cao cờ đỏ sao vàng. Quần chúng sục sôi lòng yêu nước rồi dưới sự xách động của Việt Minh, từng đoàn người kéo nhau đi chiếm đóng các cơ sở chính quyền của thực dân Pháp. Vi ệc cướp chính quyền thành công quá bất ngờ đến nỗi mãi đến ngày 22 tháng 8, mặt trận Việt Minh mới chính thức xuất hiện tại Hà Nội và Sài Gòn. Việt Minh gửi điện văn thông báo với triều đình Huế là họ đã cướp được chính quyền nên yêu cầu vua Bảo Đại xin hãy vì nền độc lập của nước nhà, xin Ngài thoái vị. Vua Bảo Đại trước tình hình biến chuyển bất ngờ đã đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi cá nhân và dòng họ nên đã chính thức tuyên chiếu thoái vị. Nhận được tin vua Bảo Đại thoái vị, ngày 23 tháng 8, Hồ Chí Minh mới thành lập chính phủ lâm thời. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu về đọc cái gọi là “Tuyên ngôn Độc lập” tại quãng trường Ba Đình. (2)

 

BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

        Từ trước tới nay, Cộng sản Việt Nam vẫn thường rêu rao họ chiến đấu để giải phóng dân tộc, giành lại độc lập dân tộc. Tất cả đã được phơi bầy khi Liên Xô và Trung Cộng công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Cộng sản Việt Nam là nhà nước Công-Nông, là thành trì của Xã hội chủ nghiã đầu tiên ở Đông Nam Á vào tháng 1 năm 1950. Chính vì vậy, tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đã nhân danh thế giới tự do trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến ở Việt Nam. Nhân dân Việt Nam lâm vào thế trên đe dưới búa của một cuộc chiến tranh giữa 2 thế lực tư bản và cộng sản mà kết cục bi thảm là mấy triệu đồng bào Việt Nam đã hi sinh một cách vô nghĩa hết sức phi lý. Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn là thế kỷ XX là thế kỷ chấm dứt chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bằng chứng cụ thể là Hoa Kỳ tự ý trả lại chủ quyền cho Phi Luật Tân (Philippine) năm 1946, Anh Quốc thừa nhận nền độc lập của Ấn Độ năm 1947, Hoà Lan giao trả độc lập cho Nam Dương (Indonesia) năm 1949 mà không phải hy sinh một ngươì dân nào. Thế thì tại sao, nhân dân Việt Nam phải hy sinh hàng triệu người để giành độc lập dân tộc? Đó chính là cốt lõi của vấn đề mà bất cứ ai cũng nhận thấy sau khi phân tích cụ thể rõ ràng. Chính vì Hồ Chí Minh là cán bộ đệ tam Quốc tế cùng với những Trần Phú, Lê Hồng Phong … đã rước voi Mác-Lê về giầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn Trung Cộng về cắn gà nhà dân tộc! Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng lòng yêu nước, dưới chiêu bài “Kháng chiến, giải phóng dân tộc” hy sinh hàng triệu người dân vô tội để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản xuống Đông Nam Á.   

 

     Lịch sử một lần nữa lại chứng tỏ CSVN là tập đoàn Việt gian bán nước khi Phạm văn Đồng xác nhận bằng văn bản chủ quyền của Trung Cộng đối với quần đảo Hoàng Sa năm 1958 và lịch sử cũng chứng minh Việt gian CS là công cụ của quốc tế CS khi hy sinh công cuộc kháng chiến để ký kết hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 theo chỉ thị của Bắc Kinh. Thật vậy, giữa lúc cao trào kháng chiến dâng lên cao, thực dân Pháp bị lâm vào thế bí dẫn đến sự thất bại hoàn toàn về quân sự thì CSVN bị áp lực của quốc tế CS phải vào bàn hội nghị Genève chia đôi lãnh thổ. CSVN đã biến kháng chiến thành thỏa hiệp chia đôi đất nước, một lần nữa Việt Nam lại chịu cảnh qua phân hai miền Nam Bắc. Sau khi Mao Trạch Đông tuyên bố phải chiếm miền Nam để mở đường đánh chiếm các nước Đông Nam Á bằng mọi giá thì ngày 20 tháng 12 năm 1960, CSVN lại dựng lên cái gọi là “Mặt trận Giải phóng miền Nam” lợi dụng chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ cả đất nước Việt Nam. Đặc biệt, sau khi xâm chiếm miền Nam, ngày 25-4-1976 CSVN đã đổi tên đảng Lao Động là Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng kể từ ngày toàn quốc kháng chiến, nhân dân Việt Nam yêu nước tham gia mặt trận Việt Minh để đánh đuổi thực dân Pháp chứ nhân dân Việt Nam không hề ủng hộ hoặc tham gia đảng CSVN. Do đó, công lao kháng chiến là của toàn dân là chứ không phải của đảng CSVN. Nếu nói rằng do đảng lãnh đạo thì trong lịch sử Việt, biết bao nhiêu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đâu cần có đảng CS lãnh đạo cũng chiến thắng quân thù. Ngược lại, sự thật đã chứng tỏ CSVN chỉ lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân VN để bành trướng chủ nghĩa CS mà thôi. Nếu Hồ Chí Minh không phải là cán bộ quốc tế cộng sản hoặc là bất kỳ một người Việt Nam nào khác thì Tổng Thống Roosevelt đã đặt Viêt Nam dưới sự ủy trị của Liên Hiệp Quốc rồi và đất nước Việt Nam đã độc lập tự do và giàu mạnh từ lâu. Sự thật lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh nói riêng và Đảng CSVN nói chung không hề có công mà ngược lại là có tội với nhân dân Việt Nam, họ mới chính là những “kẻ phản động” là “Tội đồ” của dân tộc vì đã hành động ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam, đã dâng đất nhường biển từng bước bán đứng VN cho Tàu Cộng.

 

     Đối với tất cả người Việt Nam yêu nước thì ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “Quốc hận”. Ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “mất nước” không phải do ngoại xâm mà là kẻ nội thù ngay trong lòng dân tộc và hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu nước chuộng tự do dân chủ đã phải bỏ nước ra đi. Hơn tám mươi triệu đồng bào Việt Nam đang sống quằn quại trong một nhà tù khổng lồ mệnh danh là nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam do chính những người cộng sản Việt Nam thống trị. Những người cộng sản tuy là người Việt Nam nhưng họ đã bán linh hồn cho Các Mác-Lênin, họ không còn là người Việt Nam nữa mà là những cỗ máy vô hồn vô cảm kềm kẹp nhân dân mình, họ chính là những tên “Thái thú Thời đại Xác Việt hồn Tầu”. Giai cấp mới thống trị là lớp đảng viên được hưởng đặc quyền đặc lợi trở thành những cường hào đỏ, những tư sản đỏ, mặc sức vơ vét tài sản của nhân dân, cướp nhà cướp đất để làm giàu trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân. Hàng triệu dân oan bị cướp nhà cướp đất, hàng triệu công nhân bị giai cấp thống trị cấu kết với tư bản nước ngoài bóc lột sức lao động của họ, hàng triệu công nhân đưa đi xuất khẩu lao động, hàng trăm ngàn phụ nữ phải bán rẻ thân xác để kết hôn với người nước ngoài để cứu bản thân và gia đình đang đói khổ. Thực chất cái gọi là xuất khẩu lao động, xuất ngoại kết hôn không khác gì cuộc bán buôn nô lệ người da đen sang tân lục địa mấy thế kỷ trước. Nếu có khác là thay vì những tên lái buôn nô lệ thì là nhà nước cộng sản đứng ra thu thuế lợi tức xuất khẩu và những con người khốn khổ đi khỏi đất nước vì nghèo nàn đói khổ lại phải sống khổ hơn người nô lệ da đen thời trước. Trong suốt trường kỳ lịch sử, chưa bao giờ người dân lại chịu cảnh đói khổ như bây giờ kể cả thời thực dân Pháp. Biết bao người đã phải tha hương chịu cảnh gia đình ly tán để đổi lấy một cuộc sống tốt đẹp hơn.

     

AI THẮNG AI TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM ?

 

     Chúng ta cùng nhìn lại cuộc chiến Việt Nam để có một kết luận cuối cùng “Ai thắng Ai?” trong cuộc chiến này. Phải chăng Việt Nam Cộng hòa là người thua trận và Cộng sản Việt Nam là kẻ chiến thắng? Quân đội VNCH nói riêng và Miền Nam VN nói chung bị đồng minh bán đứng trở tay không kịp trong một ván bài quốc tế nên trở thành người chiến bại. Quân cán chính VNCH đã làm hết sức mình để bảo vệ phần đất tự do nhưng không thể làm gì hơn khi tương quan lực lượng đã thay đổi: Quân số CS gần gấp đôi quân lực VNCH sau khi Mỹ rút quân, vũ khí đạn dược thua kém quân CS nhất là khi HK chỉ viện trợ cho VNCH sau năm 1972 có 18 triệu dollars, trong khi Liên Sô và Trung Cộng viện trợ cho Hà Nội 1 tỷ rưỡi dollars nên quân đội chúng ta không còn đạn dược để tác chiến.  Vả chăng, một khi thượng tầng chính trị đã xụp đổ do những tính toán sai lầm thì kéo theo sự tan rã của quân sự là một điều không tránh được.

 

Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích “Cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẽo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng. Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ…”.  Tiến sĩ Sorley cho rằng: “ Không có cách nói nào khác để giải thích nguyên do đưa đến kết cuộc bi thảm đó. Rốt cuộc chúng ta đã bỏ rơi miền Nam. Chúng ta đã hứa nếu giao tranh mới xảy ra, nếu miền Bắc vi phạm hiệp định Paris thì Hoa Kỳ sẽ trừng phạt những hành động vi phạm đó, ở đây tôi muốn nói tới việc dùng hỏa lực của không quân và hải quân. Ngoài ra theo tinh thần hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã hứa sẽ thay thế các hệ thống, các thiết bị quân sự cho miền Nam trên căn bản một đổi một, kể cả xe tăng, súng ống, chiến đấu cơ vv… Ngoài ra, Hoa Kỳ hứa sẽ duy trì nguồn tài trợ dồi dào cho miền Nam. Tại một cuộc họp ở Tòa Bạch Ốc giữa Tổng Thống Thiệu và Tổng Thống Nixon, con số được nhắc tới là 1 tỉ đôla một năm, vô thời hạn. Thế nhưng tới thời điểm quyết định, tôi lấy làm tiếc là chúng ta đã không giữ cả 3 cam kết đó, trong khi sự giúp đỡ của các quan thầy Nga và Trung Quốc dành cho Cộng sản miền Bắc tiếp tục gia tăng.”

 

Để phân hoá hàng ngũ CS quốc tế, Chính quyền Nixon làm mọi cách để lôi kéo Trung Cộng tách ra khỏi Liên Sô mà tài liệu giải mật cho biết, chính Hoa Kỳ đã bí mật cung cấp nhiều phương tiện, vũ khí hiện đại cho Trung Cộng và rút khỏi Đông Dương mặc thị để Trung Cộng giữ một vai trò quan trọng tại vùng châu Á Thái Bình Dương. Để Trung Cộng bỏ Liên Sô về hợp tác với Hoa Kỳ, người Mỹ đã dùng quần đảo Hoàng Sa như một món qùa đầu tiên và kế tiếp là cam kết mật với Trung Cộng là sẽ không can thiệp vào Đông Dương trong bất cứ tình huống nào. Do đó, Trung Cộng đã bật đèn xanh cho Hà Nội đem quân xé bỏ hiệp định Paris tấn công miền Nam với sự chi viện ồ ạt những vũ khí tối tân nhất cho quân đội CSVN. Trong tính toán của Nixon, làm được như vậy vừa có lợi cho nước Mỹ đồng thời tạo điều kiện cho Nixon rút quân ra khỏi VN để thắng thêm 1 nhiệm kỳ nữa. Thế nhưng vụ Watergate xảy ra, Nixon phải từ chức vào tháng 8 năm 1974. Tình hình bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ đã tác động hết sức ngặt nghèo đến cuộc chiến ở Việt Nam. Đảng dân chủ với ứng cử viên Tổng Thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, Thượng Nghị  sĩ  McGovern đã nói với  Jim Web sau này là  Thượng Nghị sĩ rằng: “Anh không hiểu là tôi KHÔNG MUỐN chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?”. Theo Thượng nghị sĩ Jim Web thì  “Cuộc bầu cử vào quốc hội với sự thắng lợi của 76 dân biểu và 8 Thượng nghị sĩ đảng dân chủ tranh cử với cương lĩnh phản chiến của Mac Govern.…Ông McGovern là phần tử của một nhóm quyền lực ngầm gọi là Liên lạc Ngoại giao (SFR) được tài trợ bởi hệ thống tài phiệt quốc tế như Rockfeller, Ford Foundation… có ảnh hưởng vô cùng lớn trong chính trường đã  phát động phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974, đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều được cho là “những con ác quỷ trong chánh quyền Nam Việt Nam”. Phong trào chống chiến tranh VN được sự đóng góp tối đa của Cộng sản quốc tế về nhân lực và tài chánh nên tác động đồng loạt trên toàn thế giới. Tại quốc hội Hoa Kỳ, một “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chánh”trong đó có Harold Ickes và Bill Clinton nỗ lực vận động những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô Viết và Trung Cộng yểm trợ. Tháng Ba năm 1975, phe Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49 đã bác bỏ đề nghị của Tổng Thống Gerald Ford xin viện trợ 300 triệu dollars bao gồm đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ cho miền Nam Việt Nam theo như cam kết của TT Nixon cũng như Hiệp Định Paris 1973 đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam. Thế lực ngầm của tập đoàn tài phiệt đã buộc chính giới Hoa Kỳ bức tử VNCH theo đúng kế hoạch để nhảy vào thị  trường Trung Quốc với hơn 1 tỷ dân tiêu thụ, lương bổng công nhân rẻ mạt sẽ hạ giá thành sản phẩm để  thu lợi nhuận tối đa. Đồng thời dùng số tiền viện trợ cho Việt Nam để chi viện cho Do Thái, chiến tranh với Irac để sản xuất cung ứng cho quân đội Hoa Kỳ và bán vũ khí cho các nước Trung Đông. Hoa Kỳ đã lún sâu vào cuộc chiến hết Irac tới Apganixtan khiến ngân sách quốc phòng ngày càng gia tăng, kinh tế suy thoái kiệt quệ. Chính quyền lợi của tập đoàn tư bản tài phiệt đã làm lu mờ hình ảnh một nước Mỹ với lý tưởng cao đẹp, đưa nước Mỹ vào cuộc khủng hoảng chính trị và suy thoái kinh tế chưa từng có như hiện nay.

 

Đến ngày nay, phần lớn hồ sơ đã được giải mật cho chúng ta thấy rằng, Cộng sản Việt nam đã không thắng được quân lực VNCH và họ cũng không thể nào thắng được quân đội Mỹ. Thế nhưng, không chỉ chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử mà cả quân đội Hoa Kỳ cũng bị các lãnh tụ chính trị ở Washington không cho họ được phép chiến thắng mà hậu quả là hơn 58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ đã phải hy sinh. Thực tế phũ phàng đến mức chính Tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam, tướng Westmorlant đã cay đắng tuyên bố “Quân đội chúng ta phải tham dự một cuộc chiến với một tay bị trói sau lưng, một cuộc chiến không được thắng…”. Cuối cùng người Mỹ đã thua cộng sản ngay tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn của nước Mỹ khiến chính Tổng Thống L. B. Johnson đã phải thừa nhận: “Chúng ta đã đánh bại chính ta…”. Ba mươi sáu năm sau, Henry Kissinger, chứng nhân sống của lịch sử trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã nói lên sự thật: “Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải VNCH”.

 

     Trên thực tế, cái gọi là “Đại thắng mùa Xuân!” chính là sự thất bại không gì cứu vãn nổi cuả CSVN kể từ ngày 30-4-1975. Từ trước tới nay, Cộng sản Việt Nam vẫn thường rêu rao họ chiến đấu để giải phóng dân tộc, giành lại độc lập dân tộc. Tất cả đã được phơi bầy khi Trung Cộng và Liên Sô công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Cộng sản Việt Nam là nhà nước Công-Nông, là thành trì của Xã hội chủ nghiã đầu tiên ở Đông Nam Á vào ngày 14-1-1959 và 31-1-1950. Chính vì vậy, ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đã công nhận chính phủ  Quốc Gia do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo và  nhân danh thế giới tự do trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến ở Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. Nhân dân Việt Nam lâm vào thế trên đe dưới búa của một cuộc chiến tranh giữa 2 thế lực tư bản và cộng sản mà kết cục bi thảm là mấy triệu đồng bào Việt Nam đã hi sinh một cách vô nghĩa hết sức phi lý. Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn là thế kỷ XX là thế kỷ chấm dứt chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bằng chứng cụ thể là Hoa Kỳ tự ý trả lại chủ quyền cho Phi Luật Tân (Philippine) năm 1946, Anh Quốc thừa nhận nền độc lập của Ấn Độ năm 1947, Hoà Lan giao trả độc lập cho Nam Dương (Indonesia) năm 1949 mà không phải hy sinh một ngươì dân nào. Thế thì tại sao, nhân dân Việt Nam phải hy sinh hàng triệu người để giành độc lập dân tộc? Đó chính là cốt lõi của vấn đề mà bất cứ ai cũng nhận thấy sau khi phân tích cụ thể rõ ràng. Chính vì Hồ Chí Minh là cán bộ đệ tam Quốc tế cùng với những Trần Phú, Lê Hồng Phong … đã rước voi Mác-Lê về giầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn Trung Cộng về cắn gà nhà dân tộc! Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng lòng yêu nước, dưới chiêu bài “Kháng chiến, giải phóng dân tộc” hy sinh hàng triệu người dân vô tội để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản xuống Đông Nam Á.   

 

     Lịch sử một lần nữa lại chứng tỏ CSVN là tập đoàn Việt gian án nước khi Phạm văn Đồng xác nhận bằng văn bản chủ quyền của Trung Cộng đối với quần đảo Hoàng Sa năm 1958 và lịch sử cũng chứng minh Việt gian CS là công cụ của quốc tế CS khi hy sinh công cuộc kháng chiến để ký kết hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 theo chỉ thị của Bắc Kinh. Thật vậy, giữa lúc cao trào kháng chiến dâng lên cao, thực dân Pháp bị lâm vào thế bí dẫn đến sự thất bại hoàn toàn về quân sự thì CSVN bị áp lực của quốc tế CS phải vào bàn hội nghị Genève chia đôi lãnh thổ. CSVN đã biến kháng chiến thành thỏa hiệp chia đôi đất nước, một lần nữa Việt Nam lại chịu cảnh qua phân hai miền Nam Bắc. Sau khi Mao Trạch Đông tuyên bố phải chiếm miền Nam để mở đường đánh chiếm các nước Đông Nam Á bằng mọi giá thì ngày 20 tháng 12 năm 1960, CSVN lại dựng lên cái gọi là “Mặt trận Giải phóng miền Nam” lợi dụng chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ cả đất nước Việt Nam. Đặc biệt, sau khi xâm chiếm miền Nam, bộ mặt thật của đảng CSVN đã tự phơi bày trước lịch sử. Ngày 25-4-1976 quốc hội bù  nhìn gồm toàn đảng viên CSVN đã đặt tên là nhà  nước Cộng Hòa Xã  Hội Chủ  nghĩa Việt Nam và ngày 20-12-1976, CSVN đã  đổi tên đảng Lao Động Việt Nam trở  lại là  đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng kể từ ngày toàn quốc kháng chiến, nhân dân Việt Nam yêu nước tham gia mặt trận Việt Minh để đánh đuổi thực dân Pháp chứ nhân dân Việt Nam không hề ủng hộ hoặc tham gia đảng CSVN. Do đó, nếu gọi là “công lao kháng chiến” thì cái “công lao” đó là của toàn dân là chứ không phải của đảng CSVN. Nếu nói rằng do đảng lãnh đạo thì trong lịch sử Việt, biết bao nhiêu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đâu cần có đảng CS lãnh đạo cũng chiến thắng quân thù. Ngược lại, sự thật đã chứng tỏ CSVN chỉ lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân VN để bành trướng chủ nghĩa CS mà thôi. Nếu Hồ Chí Minh không phải là cán bộ quốc tế cộng sản hoặc là bất kỳ một người Việt Nam nào khác thì Tổng Thống Roosevelt đã đặt Viêt Nam dưới sự ủy trị của Liên Hiệp Quốc rồi và đất nước Việt Nam đã độc lập tự do và giàu mạnh từ lâu. Sự thật lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh nói riêng và Đảng CSVN nói chung không hề có công mà ngược lại là có tội với nhân dân Việt Nam, họ mới chính là những “kẻ phản động” là “Tội đồ” của dân tộc vì đã hành động ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam, đã dâng đất nhường biển từng bước bán đứng VN cho Tàu Cộng.

 

     Đối với tất cả người Việt Nam yêu nước thì ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “Quốc hận”. Ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “mất nước” không phải do ngoại xâm mà là kẻ nội thù ngay trong lòng dân tộc và hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu nước chuộng tự do dân chủ đã phải bỏ nước ra đi. Hơn tám mươi triệu đồng bào Việt Nam đang sống quằn quại trong một nhà tù khổng lồ mệnh danh là nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam do chính những người cộng sản Việt Nam thống trị. Những người cộng sản tuy là người Việt Nam nhưng họ đã bán linh hồn cho Các Mác-Lênin, họ không còn là người Việt Nam nữa mà là những cỗ máy vô hồn vô cảm kềm kẹp nhân dân mình, họ chính là những tên “Thái thú Thời đại Xác Việt hồn Tầu”. Giai cấp mới thống trị là lớp đảng viên được hưởng đặc quyền đặc lợi trở thành những cường hào đỏ, những tư sản đỏ, mặc sức vơ vét tài sản của nhân dân, cướp nhà cướp đất để làm giàu trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân. Hàng triệu dân oan bị cướp nhà cướp đất, hàng triệu công nhân bị giai cấp thống trị cấu kết với tư bản nước ngoài bóc lột sức lao động của họ, hàng triệu công nhân đưa đi xuất khẩu lao động, hàng trăm ngàn phụ nữ phải bán rẻ thân xác để kết hôn với người nước ngoài để cứu bản thân và gia đình đang đói khổ. Thực chất cái gọi là xuất khẩu lao động, xuất ngoại kết hôn không khác gì cuộc bán buôn nô lệ người da đen sang tân lục địa mấy thế kỷ trước. Nếu có khác là thay vì những tên lái buôn nô lệ thì là nhà nước cộng sản đứng ra thu thuế lợi tức xuất khẩu và những con người khốn khổ đi khỏi đất nước vì nghèo nàn đói khổ lại phải sống khổ hơn người nô lệ da đen thời trước. Trong suốt trường kỳ lịch sử, chưa bao giờ người dân lại chịu cảnh đói khổ như bây giờ kể cả thời thực dân Pháp. Biết bao người đã phải tha hương chịu cảnh gia đình ly tán, biết bao thiếu nữ Việt Nam ngây thơ trong trắng phải bán rẻ cả thân xác để nuôi sống gia đình.

     

Cộng sản đã để lộ bộ mặt thật giả nhân gỉa nghĩa của họ là một tập đoàn bán nước, một chế độ độc tài toàn trị tước đoạt mọi quyền tự do căn bản nhất của con người … Một chế độ rêu rao là Nhân dân làm chủ thực ra là làm chủ nhân dân, tước đoạt tài sản đất đai tư hữu của người dân, chế độ thuế khóa nặng nề, tham nhũng bóc lột nhân dân còn thậm tệ hơn chế độ phong kiến thực dân trước đây. Hơn tám mươi triệu đồng bào sống trong trại tù khổng lồ gọi là nhà nước CHXHCNVN và hàng triệu đồng bào phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Cái gọi là thống nhất của Cộng sản Việt Nam chỉ là thống nhất tài sản nhân dân trong tay nhà nước quản lý mà thôi chứ không thống nhất được lòng người. Đứng trên quan điểm Dân tộc, ngày 30-4-1975 chỉ là ngày chấm dứt một thời kỳ chiến tranh ý thức hệ để mở ra một thời kỳ lịch sử mới, một cuộc chiến mới bắt đầu: Cuộc chiến của “TOÀN DÂN CHỐNG CỘNG” cả trong Nam lẫn ngoài Bắc đều đứng lên chống lại chế độ bạo tàn phi nhân Cộng sản kể cả những đảng viên Cộng sản cao cấp từng bị lừa dối đã giác ngộ quyền lợi của dân tộc…Chính vì vậy, chưa bao giờ công luận quốc tế lại ủng hộ cuộc đấu tranh giành lại tự do, dân chủ của toàn dân Việt Nam như ngày nay.

    

Chưa bao giờ lịch sử Việt lại trải qua một giai đoạn bi thảm như hiện nay. Bộ mặt thật hại dân bán nước của tập đoàn Việt gian Cộng sản phơi bày trắng trợn. Tập đoàn Việt gian đã lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản, đưa dân tộc vào vòng nô dịch đói khổ chưa từng thấy trong lịch sử. Tội ác do tập đoàn Việt gian CS gây ra “Trời không dung, đất chẳng tha. Thần người đều căm hận, Trời đất chẳng dung tha”… Ngày nay, nhân dân Việt Nam không còn gì để mất nữa, không còn sợ hãi gì nữa khi tất cả đồng loạt xuống đường làm lịch sử. Tất cả đã hội đủ những điều kiện cần thiết để bùng nổ một cuộc “cách mạng Trống Đồng” sống lại “Hào Khí Diên Hồng” và “Tây Sơn Thời đại” trong nay mai. Một cuộc cách mạng của quần chúng tự đứng lên đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình, giành lại quyền dân chủ tự do, quyền làm chủ đất nước. Lòng dân lòng quân muôn người như một, căm hận phẫn uất tột cùng. Bài học lịch sử lại tái diễn trong thời gian trước mắt, bất cứ lúc nào.

 

     Một khi tất cả đồng bào oan khiên, tất cả công nhân nghèo đói, tất cả thanh niên sinh viên yêu nước, tất cả tôn giáo từ Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin lành cùng nhất loạt nắm chặt tay nhau ngồi cầu nguyện cho tự do tôn giáo, đòi lại tài sản giáo hội. Một cuộc đấu tranh giành lại quyền sống tự do dân chủ, quyền làm chủ đất nước trong ôn hòa bất bạo động, bất hợp tác đã và đang diễn ra trên cả nước. Thanh niên sinh viên học sinh bãi khóa, công nhân đình công, tiểu thương bãi thị cho đến khi cộng sản phải thoả mãn yêu cầu chính đáng của nhân dân thì ngày đó là ngày thắng lợi của Dân tộc Việt Nam. Bằng không, lòng dân muôn người như một đứng lên giành lại quyền sống làm người đến, tất cả u uất căm hờn tự bao năm sẽ gom lại như ngọn sóng thần, bất cứ lúc nào sẽ trào dâng như thác đổ thành bão táp cách mạng sẽ cuốn trôi tất cả tập đoàn Việt gian bất nhân hại dân bán nước, những tàn dư rác rưởi tệ hại xấu xa của chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân xuống hố thẳm của lịch sử.

 

“Thỉnh Nguyện Thư” của 150 ngàn công dân Hoa Kỳ  gốc Việt, “Thỉnh Nguyện Thư” của cộng đồng Việt Nam tại Úc Châu, Canada … thể hiện ý chí quyết tâm Diên Hồng Thời Đại đã được chính giới Hoa Kỳ và công luận toàn thế giới ủng hộ nồng nhiệt. Tất cả chỉ còn tùy thuộc vào quyết tâm của toàn dân trong nước thể hiện trong các cuộc đồng loạt xuống đường chống đế quốc mới Trung Cộng, xuống đường đòi dân chủ, đòi lại đất đai ruộng vườn trên cả nước.Toàn thê đồng bào Việt Nam Hải ngoại sẽ làm hết sức mình từ tinh thần đến vật chất yểm trợ cho đồng bào trong nước, chúng ta cùng chuyển đổi lịch sử để cứu dân cứu nước. Một khi toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng nhất loạt đứng lên làm cuộc cách mạng Trống Đồng chuyển đổi lịch sử thì mùa Xuân Dân tộc sẽ trở về trên quê hương yêu dấu của chúng ta trong một ngày rất gần, rất gần đây để nhân dân được sống trong dân chủ tự do ấm no hạnh phúc thực sự như đại danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại cáo”:

 

“ Đại nghĩa thắng hung tàn ..

Chí nhân thay cường bạo ..!”

 

Giờ cáo chung của chế độ Việt gian Cộng sản bất nhân hại dân bán nước đã điểm… Nhân dân trong nước sẽ “Tổng biểu tình, Tổng nổi dậy” để đưa chủ nghĩa CS và tập đoàn Việt gian CS tới nơi an nghỉ cuối cùng: “Thiên đường Cộng sản” của họ trong nay mai. Nhân dân Việt Nam sẽ xóa bỏ cái gọi là thành phố HCM để lấy lại tên Sài Gòn. Chúng ta sẽ trở về Sài Gòn dấu yêu trong vinh quang của mùa Xuân Dân Tộc.

 

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn …

Dân Tộc Việt Nam bất diệt …

Việt Nam Muôn Năm …

 

Xin trân trọng kính chào quý vị

 

PHẠM TRẦN ANH

 

 

 

 

CHÚ THÍCH

 

1. Karl Marx cho rằng sự kiện lịch sử là hệ quả tất yếu của những quan hệ nhân quả và các sự kiện lịch sử tác động nhau một cách biện chứng. Sử quan duy vật biện chứng trên cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội quyết định thượng tầng kiến trúc chính trị. Duy vật sử quan phủ nhận tính thường hằng bất biến của định mệnh lịch sử, thế nhưng vẫn không thể lý giải được những quy luật thăng trầm đầy bí ẩn của lịch sử. Mặt khác lại rơi vào tệ sùng bái cá nhân, thần thánh hoá, vĩ đại hoá cá nhân và tô hồng chế độ nên lịch sử ngày càng sai lạc, xa rời sự thật. Duy vật sử quan Karl Marx đúng cho các hiện tượng phổ quát nhưng sự thật hết sức éo le, phũ phàng khi nó lại rơi đúng vào những gì mà Karl Marx hằng ấp ủ hoài bão: sự xụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa! Karl Marx nói: “Lịch sử tác động lẫn nhau một cách biện chứng, nó không làm một cái gì nửa vời cả một khi muốn đưa hình thái xã hội già cỗi đến huyệt mộ thì lịch sử sẽ là tấn bi hài kịch của chính nó. Tại sao lịch sử lại diễn ra theo tiến trình ấy? Đó chính là để cho nhân loại rời bỏ được cái quá khứ ấy một cách vui vẻ vậy!”. Điều đáng tiếc là Karl Marx đã không còn sống để chứng kiến tấn bi hài kịch Cộng sản hạ màn không kèn không trống ..!

 

         Thật vậy, cuối năm 1988, cuộc khủng hoảng bắt đầu nổ ra ở Ba Lan, sau đó lan sang Hungari, Tiệp Khắc, Cộng Hòa Dân chủ Đức, Rumani, Bungari, Nam Tư, Anbani như một dòng thác cách mạng. Đảng Cộng sản và nhà nước các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt buộc phải chấp nhận xóa bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản, thực hiện chế độ đa nguyên và tiến hành tổng tuyển cử tự do. Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa cộng sản ở các nước Đông Âu đã dẫn tới những biến đổi lịch sử: Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc quay trở lại theo con đường Tư bản chủ nghĩa. Cộng Hòa Dân chủ Đức sát nhập vào Cộng Hòa Liên bang Đức. Trong khi đó, ngày 21-8 đảng Cộng sản Liên Sô bị đình chỉ hoạt động trong toàn liên bang, chính phủ Sô viết bị giải thể. Mười một nước cộng hòa tuyên bố độc lập, tách ra khỏi Liên bang Sô Viết. Một làn sóng chống đảng Cộng sản và chống Xã hội chủ nghĩa dâng khắp mọi nơi. Ngày 21-12-1991 chính thức thành lập các quốc gia độc lập SNG buộc Tổng thống Liên Sô M Goócbachôp phải từ chức và cùng ngày đó, ngày 25-12-1991 lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điện Cẩm Linh (Kremlin) sau 74 năm bị hạ xuống. Đây là một thất bại nặng nề của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, dẫn đến hệ thống thế giới của chủ nghĩa Cộng sản trên thực tế không còn tồn tại nữa. Thật vậy, nếu K Marx còn sống dưới thời Lenin, Stalin thì hẳn là K Marx đã chết trong các trại cải tạo ngút ngàn ở Sibérie rồi và ông ta cũng không thấy được nhân loại vui mừng thế nào khi Liên Xô và các nước Đông Âu xụp đổ vào cuối thế kỷ XX..!

 

2. Nguyễn Tất Thành sau này đổi tên là Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy rồi Hồ Chí Minh là người Việt Nam theo cộng sản đầu tiên khi sang Pháp năm 1911, rồi lưu vong sang các nước Phi Châu, Âu Châu, Nam Mỹ, Hoa Kỳ và Anh Quốc. Năm 1917, trở về Pháp hoạt động với tư cách đảng viên đảng xã hội Pháp và theo Luật sư Phan văn Trường, chí sĩ Phan Chu Trinh và những trí thức VN yêu nước chân chính chống thực dân Pháp ngay trên đất Pháp. Những trí thức này sống ngay trênđất Pháp nên không thể xuất hiện công khai nên lấy một tên chung là Nguyễn Ái Quốc để viết báo chống thực dân Pháp. Nguyễn Tất Thành được hướng dẫn học tập rồi được giao nhiệm vụ tuyên truyền vận động công khai chống Pháp với tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1919, gia nhập đệ tam quốc tế CS tại đại hội Toulouse Pháp. Năm 1920, Nguyễn Tất Thành lợi dụng cái tên Nguyễn Ái Quốc trong sinh hoạt của đảng Xã Hội để trở thành một trong những sáng lập viên của đảng Cộng sản Pháp. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc nhận lệnh sang Nga học tập về tổ chức cách mạng. Trong lá thư gửi Quốc tế CS chứng tỏ họ Hồ là cán bộ trong ban phương Đ ông của Comintern tức Quốc tế CS, ăn lương của Quốc tế CS để bành trướng chù nghĩa CS ở Đông Dương. Cuoái naêm 1924, Quoác ñöôïc cöû sang Trung Quoác laøm vieäc cho haõng thoâng taán Soâ Vieát Rosta döôùi söï ñieàu ñoäng cuûa Mikhail Borodin, tröôûng ñoaøn coá vaán Comintern cho Quoác Daân ñaûng Trung Hoa cuûa Toân Daät Tieân vôùi teân Lyù Thuî vaø kyù maät danh laø Nilovskii trong nhöõng baùo caùo veà quoác teá CS. Naêm 1925, Nguyeãn Aùi Quoác keát hôïp vôùi nhoùm Taâm Taâm xaõ cuûa Leâ Quang Ñaït, Leâ Hoàng Phong, Leâ Hoàng Sôn vaø Hoà Tuøng Maäu thaønh laäp Vieät Nam Thanh nieân Caùch maïng ñoàng chí hoäi taïi Quaûng Chaâu. Toå chöùc naøy laáy chuû nghóa Marx, chuû thuyeát caùch maïng theá giôùi cuûa Lenin vaø chuû nghóa Tam Daân cuûa Toân Daät Tieân ñeå tuyeân truyeàn huaán luyeän caùn boä. Nhieàu thanh nieân Vieät Nam yeâu nöôùc chaïy sang Trung Quoác gia nhaäp vaøo toå chöùc thanh nieân naøy maø khoâng ngaàn ngaïi nghi ngôø gì caû.

 

 

Trong thời gian hoạt động tại Trung Quốc, Hồ Chí Minh bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa bắt giam, Hồ Chí Minh đã tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa CS để gia nhập Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội là một liên minh các đảng phái chống thực dân Pháp và Phát Xít Nhật do Quốc Dân Đảng Trung Hoa hỗ trợ. Họ Hồ viết bản dự thảo kế hoạch cải tổ cơ cấu kháng chiến và thành lập mạng lưới tình báo cho đồng minh ở VN nên tháng 9 năm 1943, Trương Phát Khuê mới thả Hồ Chí Minh và giao cho nhiệm vụ thực hiện kế hoạch với tư cách một thành viên dự khuyết trong Uỷ ban Điều hành Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội. Khi đưa ra đề nghị với Pháp, Hồ Chí Minh đã tính toán kỹ lưỡng biết rằng khi nhờ OSS chuyển đề nghị cho Pháp nhưng Pháp sẽ không trả lời nhưng đó là cái cớ cho Hoa Kỳ qua toán tinh báo chiến lược OSS tiến hành tiếp tế vũ khí đạn dược trang bị cho trung đội võ trang tuyên truyền đầu tiên mà hình chụp có cả họ Hồ và Võ nguyên Giáp mặc áo kaki vàng đeo súng lục Mỹ. Toán OSS huấn luyện 4 tuần cho khoảng 200 cán bộ chỉ huy bộ đội Việt Minh về cách sử dụng những vũ khí mới nhất và chiến thuật du kích chiến quân sự cho Việt Minh. Lợi dụng cơ hội này Hồ đã tuyên truyền với nhân dân là người Mỹ ủng hộ Việt Minh với lực lượng “Bộ đội Việt Mỹ” gồm huấn luyện viên người Mỹ vào du kích quân.

 

Ngày 29 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh dưới tên gọi là Lucius, cộng tác viên của tình báo chiến lược OSS mới được gặp tướng Claire Chennault, tư lệnh phi đoàn “Cọp Bay” ở Côn Minh sau khi đã cứu được viên phi công Mỹ Rudolph Shaw năm 1944. Họ Hồ đã xin được chụp chung một tấm hình và được viên tướng Cọp Bay đề tặng. Chính tấm hình này cũng như bìa tờ báo Việt Minh vẽ hai bàn tay Mỹ-Việt nắm tay nhau đã khiến mọi người tham gia Việt Minh lúc đó tin tưởng rằng Hồ Chí Minh được Hoa Kỳ yểm trợ. Những lời tuyên bố của Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt chỉ trích chế độ thực dân Pháp, sự thành lập bộ đội Việt Mỹ từ chiến khu Tân Trào với sự hiện diện của các sĩ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ OSS và tấm hình tướng Cọp bay Chennault ký tặng Hồ Chí Minh ở Côn Minh đã được Việt Minh sử dụng và thuyết phục được đại đa số nhân dân ủng hộ họ.(3)

 

 

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là Hồ chí Minh có thực sự là người yêu nước hay không? Có một thực tế là trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị thì bất cứ người Việt Nam nào lại không yêu nước, lại không căm thù thực dân Pháp đến tận xương tủy. Sau nhiều năm sống ở ngoại quốc, Hồ Chí Minh lại nộp đơn vào xin học trường thuộc điạ và bị từ chối. Nếu được thu nhận thì con đường hoạn lộ hẳn sẽ thênh thang và không biết Hồ Chí Minh sẽ đi về đâu, một viên quan cai trị chắc chắn sẽ thẳng tay trấn áp các phong trào VN yêu nước? Đảng CS vẫn tuyên truyền là “Bác” vui mừng khi thấy con đường giải phóng thuộc địa … và chỉ qua quốc tế CS để giải phóng dân tộc. Tài liệu mới nhất “Văn kiện Đảng” toàn tập vô hình trung lại tiết lộ “Bác” chính là một cán bộ đệ tam quốc tế CS sang Liên Xô chờ lệnh về Trung Quốc và hàng tháng vẫn nhận tiền lương của Quốc tế CS để thực hiện công tác của quốc tế CS. Năm 1920, Nguyễn Tất Thành lợi dụng cái tên “Nguyễn Ái Quốc” trong sinh hoạt của đảng Xã Hội để trở thành một trong những sáng lập viên của đảng Cộng sản Pháp. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc nhận lệnh sang Nga học tập về tổ chức cách mạng. Trong lá thư gửi Quốc tế CS chứng tỏ họ Hồ là cán bộ của Quốc tế CS, ăn lương của Quốc tế CS để bành trướng chù nghĩa CS ở Đông Dương … chính họ Hồ thú nhận trong lá THƯ GỪI BAN CHẤP HÀNH QUỐC TẾ CỘNG SẢN như sau:“Từ lúc tôi tới Mátxcơva đã có quyết định rằng sau 3 tháng lưu lại ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc . Bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và tháng thứ sáu tôi chờ đợi, vậy mà việc lên đường của tôi chưa được quyết định. Vậy chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và nghiên cứu:

1.Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.- Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa này.

2.Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, và

3.Tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền. Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ là bao nhiêu? – Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v., v.v.. Tôi tính rằng, sau khi tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga – Trung Quốc (vì tôi không biết giá vé)”. Ngày 11-4-1924. (Hồ Chí Minh Toàn Tập – tập 2)

 

2. Đặc biệt ngoài sự yểm trợ trực tiếp của Quốc tế CS, Hồ Chí Minh lại khôn khéo vận động sự trợ giúp của Hoa Kỳ qua chiêu bài đề nghị 5 điểm cải cách “Bầu cử một nghị viện” do “một toàn quyền Pháp làm chủ tịch và trả laị độc lập cho VN sớm nhất là 5 năm nhưng không quá 10 năm”. Điều này phù hợp với quan điểm của Tổng thống Roosevelt là muốn Pháp trao trả lại độc lập cho các thuộc địa cũ của Pháp. Cả Thiếu tá Archimedes “Al” Patti của toán OSS tại Đông Dương và sau này Trung tá Allison Thomas đều tin tưởng những gì Hồ Chí Minh đã cam kết với tướng Trương Phát Khuê Quốc Dân Đảng Trung Hoa rằng, mục tiêu trước mắt cuả ông ta là khôi phục độc lập tự do cho Việt Nam và quả  quyết rằng:“… một xã hội cộng sản ở Việt Nam phải ít nhất 50 năm sau mới thành lập được”.

 

      Sau khi Nhật đầu hàng, quân Anh được giao cho nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật ở miền Nam, quân đội Trung Hoa giải giới quân Nhật ở miền Bắc. Chính phủ Anh cùng chủ trương “thực dân” nên đã cho quân đội Pháp theo chân vào miền Nam. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, sau khi Pháp cam kết giao trả các đặc quyền nhượng địa đã chiếm đoạt từ thế kỷ trước nên Trung Hoa đã ký với Pháp thỏa ước Trùng Khánh, trong đó đồng ý cho quân đội viễn chinh Pháp ra Bắc thay thế quân đội Trung Hoa ở miền Bắc.. Tư lệnh quân viễn chinh Pháp tướng Leclerc ra lệnh chiến hạm chuyển quân ra Bắc, Hồ Chí Minh đã vội vã chấp nhận các điều khoản trong Hiệp ước Sơ bộ trong đó qui định Việt Nam là một nước tự do trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên Hiệp Pháp. Việt Nam có chính phủ riêng nhưng chỉ được chia 1 phần quyền cai trị về đối nội … nhưng họ Hồ vẫn chấp nhận vì nhiều lý do. Thứ nhất là loại vai trò của Bảo Đại ra khỏi chính trường lúc đó đang đề cập tới một giải pháp Bảo Đại nên họ Hồ sẵn sàng ký kết trực tiếp với Pháp sau đó đưa Bảo Đại sang Hồng Kông rồi không cho trở về nữa. Thứ hai là chấp nhận nhượng bộ Pháp thì quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa phải rút về nước để họ Hồ rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Điều này chính Võ nguyên Giáp thú nhận trong hồi ký là “Ngày 9.3.1946 Trung ương họp, chủ tịch Hồ Chí Minh phấn khởi báo tin ta đã ký được hiệp ước 6 tháng 3 năm 1946. Thắng lợi lớn của đảng đã đuổi khỏi đất nước 18 vạn tên chống cộng khét tiếng. Cách mạng đã gạt đi một kẻ thù hết sức nguy hiểm, trút đi một gánh nặng ...”.

 

      Sau khi sắp xếp xong mọi việc, ngày 30 tháng 5 năm 1946 Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp để chỉ đạo phái đoàn do Phạm văn Đồng cầm đầu tại hội nghị. Trước khi đi, Hồ Chí Minh ủy quyền cho Huỳnh Thúc Kháng và thành lập mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam gọi tắt là Liên Việt. Mục đích của Mặt trận Liên Việt là để lôi kéo sự ủng hộ của quần chúng trong chiến dịch tổng tấn công tiêu diệt các lực lượng đảng phái quốc gia. Chiến dịch cầm đầu bởi Võ Nguyên Giáp khi đó là Bộ trưởng bộ Nội vụ. Việt Minh trưng ra các bằng chứng ngụy tạo là cán bộ Việt Minh bị các đảng phái Quốc Gia thủ tiêu rồi Võ nguyên Giáp hạ lệnh đồng loạt tấn công bất ngờ tất cả các trụ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng minh Hội. Đảng kỳ, bảng hiệu bị tháo gỡ triệt hạ và cán bộ Việt Nam Quốc Dân đảng bị Việt Minh bắt giữ rồi thủ tiêu. Các chiến khu của các đảng phái quốc gia cũng lần lượt bị tiêu diệt. Các lãnh tụ Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam phải bỏ chạy sang Trung Hoa, nhiều lãnh tụ các đảng phái khác bị Việt Minh bắt đi thủ tiêu như Trương Tử Anh (Đại Việt Quốc Dân Đảng), Lý Đông A (Duy Dân), Khái Hưng Việt Nam Quốc Dân Đảng … Trong Nam, Hồ văn Ngà Mặt trận Quốc gia Thống nhất, Huỳnh văn Phương, Dương văn Giáo, vợ chồng bác sĩ Hồ Vĩnh Ký, ông Bùi Quang Chiêu lãnh tụ đảng Lập Hiến cũng bị thủ tiêu. Trước đó, ngay sau cách mạng tháng 8 những thủ lãnh phe Đệ tứ Quốc tế Cộng sàn như Phan văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Lương Đức Thiệp, Phan văn Chánh, Trần văn Thạch … đều bi thủ tiêu.(4) Ngay cả những nhà lãnh đạo tôn giáo yêu nước không cộng sản cũng bị Việt Minh thủ tiêu như Đức Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ cũng bị thủ tiêu, năm 1947, Phối sư Cao Đài Thượng Vinh Thanh Trần Quang Vinh cũng bị bắt nhưng trốn thoát, sau 1975 Phối sư Trần Quang Vinh bị Cộng sản bắt và xử tử tháng 9 năm 1975. Theo tài liêụ của của hai tôn giáo Cao Đài Hòa Hảo thì chức sắc, tín đồ và binh sĩ bị giết lên tới 20 ngàn người.

 

 (2)  Chính cộng sản cũng không phủ nhận được được ý nghĩa và vai trò cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trong một tài liệu kỷ niệm cuộc cách mạng Yên Bái ngày 9 tháng 2 năm 1931, đảng CS đã phải thừa nhận là Làn sóng cách mạng bắt đầu từ cuộc bạo động ở Yên Bái do Quốc Dân Đảng tổ chức và chỉ huy như sau “Hỡi anh chị em công nông, chúng ta nên lấy ngày 9 tháng 2 làm một ngày kỷ niệm cách mạng Đông Dương. Thế nhưng ta chớ hiểu lầm ta kỷ niệm Yên Bái là ta tán đồng quốc gia chủ nghĩa và hoàn toàn kính phục những lãnh tụ của VNQDĐ đâu. Ta nên nhân dịp ngày kỷ niệm này để giải tỏ trước mặt quảng đại quần chúng công nông trong toàn xứ biết rằng cộng sản chủ nghĩa với quốc gia chủ nghĩa là một trơì một vực và không bao giờ hai chủ nghĩa ấy có thể dung hợp được với nhau …”. Theo Hoàng văn Đào trong “ VNQDĐ: Lịch sử tranh đấu cận đại 1927-1954” thì chính đảng CS đã tung ra hàng nghìn tờ truyền đơn kêu gọi dân chúng nổi dậy để cho chánh sở mật thám Pháp L. Marty biết rõ ngày giờ khởi nghĩa nên VNQDĐ đã thất bại. Sau đó, CSVN cũng cướp ngay 3 mục tiêu tranh đấu của chủ nghĩa Tam Dân là Dân tộc Độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh phúc  cuûa Vieät Quoác Daân Ñaûng laøm muïc tieâu tranh đấu!

 

(3)  Luật sư Trịnh Đình Thảo, Bộ trưởng bộ Tư pháp trong chính phủ Trần Trọng Kim nhận được tin là Đại úy Landsdale, phụ tá Thiếu tá Archimèdes Patti, trưởng đoàn OSS ở vùng Đông Nam Á … thay vì tiếp tế cho những nhóm quân Pháp còn đang chiến đấu chống Nhật trong vùng rừng núi biên giới thì lại thả dù vũ khí và đạn dược xuống cho Việt Minh để trang bị cho 1 tiểu đoàn đầu tiên và phái Aoron Bank tới huấn luyện cho bộ đội Việt Minh …. Sau này theo tiết lộ của trung tướng Chu văn Tấn thì trong đoàn quân từ Pắc Pó trở về Hà Nội có các sĩ quan OSS người Mỹ và chính Thiếu tá A Patty là người giúp họ Hồ viết bản Tuyên ngôn và chính Trung tá Allison viết tối hậu thư bằng tiếng Anh buộc quân Nhật ở Lạng Sơn đầu hàng. Một sự thực lịch sử nữa vừa mới được công bố là chính Hoa Kỳ chứ không ai khác đã góp phần quan trọng trong cái gọi là “cách mạng mùa Thu 19-8” và “Tuyên ngôn độc lập” 2 tháng 9 năm 1945. Tổng thống Roosevelt lúc đó muốn Pháp phải trả lại độc lập cho Việt Miên Lào và đặt dưới chế độ Ủy trị của Liên Hiệp quốc nên ông ta đã chỉ thị cho các cấp quân đội Mỹ không cho thực dân Pháp mượn phương tiện trở lại Đông Dương, chính vì vậy tướng Cọp bay chỉ cho trưởng phái bộ quân sự Pháp là Sainteny lên phi cơ về Hà Nội sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 thì mọi việc xem như đã xong rồi …! Hồ Chí Minh công bố chính phủ Lâm thời bao gồm các đảng phái nhưng Việt Minh tức CS nắm phần chủ động, họ Hồ còn khôn ngoan mời vua Bảo Đại làm cố vấn rôì sau đó tìm cách đưa Bảo Đại sang Hồng Kông rôì không cho về lại Việt Nam nữa .… Sau khi “chớp thời cơ, cướp chính quyền” họ Hồ bắt đầu nghĩ tới việc loại bỏ các đảng phái quốc gia sau khi bị áp lực của Quốc Dân đảng Trung Hoa phải thành lập chính phủ Liên hiệp Lâm thời và phải chia 20 ghế cho VNCMĐMH và 50 ghế cho VNQDĐ còn lại 280 ghế là của CS. Để che mắt quần chúng nhân dân, ngày 11 tháng 11, Đảng CS Đông Dương tuyên bố tự giải tán và thay thế bằng Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Karl Marx ở Đông Dương. Đây chỉ là một chiến thuật lùi vào bóng tối nhưng trên thực tế họ vẫn tiếp tục hoạt động dưới danh nghĩa mặt trận Việt Minh cho đến năm 1951, họ lại chính thức hoạt động dưới cái tên mới nhẹ nhàng hơn là Đảng Lao Động Việt Nam. Ý đồ qủi quyệt này của Hồ Chí Minh đã được Võ Nguyên Giáp viết lại trong hồi ký như sau: “Đâù tháng 9, bác ra mắt nhân dân với danh hiệu chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là bí danh mà Bác đã dùng mấy năm trước để che mắt bọn Quốc dân đảng Trung Hoa. Những người cách mạng đã về sống giữa đồng bào nhưng mọi hoạt động của đảng vẫn tiến hành theo phương thức bí mật. Cán bộ đảng chưa ra làm việc công khai. Hầu hết đảng viên đều công tác dưới danh nghĩa cán bộ Việt Minh …. Rất nguy hiểm là bọn VNQDĐ và VN Cách mệnh Đồng minh hội, chúng cố tìm cách kích động quần chúng bằng khẩu hiệu “Không điều đình với ai hết. Thắng hay là chết”. Chúng muốn phá cuộc đàm phán giữa ta và Pháp”.

(4)  Theo jean Lacouture trong tác phẩm Hồ Chi Minh do Penguin Books 1969 thì khi Hồ chí Minh sang dự hội nghị Fontainbleau, một đảng viên đảng xã hội Pháp hỏi họ Hồ về việc Tạ Thu Thâu bị thủ tiêu thì Hồ Chí Minh tỏ ý đau buồn về cái chết của “Nhà đại ái quốc này” nhưng không giấu được ý đố, họ Hồ nói tiếp “Tất cả những người không theo đường lối mà tôi vạch ra đều sẽ bị đập tan . Nhà báo BernardFall:  “Chiên tranh bùng nổ đã đơn giản hóa những khó khăn về chính trị của ông Hồ. Họ Hồ không cần đối phó vơí phe đối lập bằng bàn tay bọc nhung nữa và cứ việc gọi họ là Việt gian, cứ trói lại từng chùm rồi thả xuống sông cho trôi ra biển …”.

(5)  Ngày 5 tháng 7, tờ báo L’Union Francaise ở Sài Gòn đăng lời tuyên bố của Bảo Đại: “Nếu tất cả mọi người Việt Nam tin tưởng nơi tôi và nếu sự hiện diện của tôi có thể giúp cho việc thiết lập lại các quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân Việt và Pháp, tôi sẽ vui lòng trở về nước Tôi không ủng hộ nhưng cũng không chống lại Việt Minh. Tôi không thuộc đảng nào cả. Hòa bình sẽ trở lại mau chóng nếu người Pháp nhận thức được rằng tinh thần dân tộc chúng tôi ngày nay không còn giống như cách đây 10 năm. Tôi không cần nói thêm về điều này vì chính phủ Pháp bây giờ đã biết những đòi hỏi của tôi. Đề nghị của tôi là tôi chỉ đóng vai trò trung gian giữa nước Pháp và tất cả các đảng phái ở Việt Nam …”. Thật ra trước khi Bảo Đại ký hiệp định Élysées với TT Pháp Vincent Auriol thành lập quốc gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, Bảo Đại làm Quốc trưởng … thì ngày 18-1-1949, Trung Quốc đã thừa nhận chính phủ VNDCCH và ngày 31-1-1949, Hồ Chí Minh gửi công hàm thừa nhận chính phủ Trung Quốc. Ngày 1 tháng 10, sau khi chiếm Bắc Kinh, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Cuộc diện chính trị Việt Nam thay đổi chuyển sang một khúc quanh lịch sử khi Trung Cộng sau khi chiếm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, ngày 14 tháng 1 năm 1950 Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc gửi công hàm thừa nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á và chính thức viện trợ những vũ khí tối tân cho Việt Minh. Ngày 31 tháng 1 năm 1950, Liên Sô gửi công hàm chính thức thừa nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Thế giới tự do lo sợ trước nguy cơ đe dọa bành trướng của CS nên ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ và Anh quốc chính thức thừa nhận chính phủ Quốc gia Việt Nam do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo. Đây là một điểm mốc đánh dấu khúc quanh lịch sử từ một cuộc chiến “ Giải phóng Dân tộc” sang một cuộc chiến “Ý thức hệ”.

(6)  Việt Nam 1945-1975 của Lê Xuân Khoa tr 100. Theo Qiang Zhai, China & The Vietnam wars, 1950-1975 (Chapel Hill: The North Carolina University Press,2000), thì Việt Minh và quân đội giải phóng của Mao Trạch Đông đã bắt đầu hợp tác không chính thức ở vùng biên giới từ năm 1946. Từ tháng 3 năm 1946, Đệ nhất Trung đoàn của Hồng quân Mao đã được phép sử dụng phần đất của Việt Nam ở biên giới để làm hậu cứ để tấn công quân đội Tưởng Giới Thạch. Một ngàn quân của Trung đoàn này được Việt Minh tiếp tế lương thực và thuốc men. Để đáp lại, các sĩ quan Trung quốc huấn luyện bộ đội Việt Minh ở Thái Nguyên và Bắc Giang từ tháng 6 năm 1946. Năm 1947, 1,000 binh lính người Việt gốc Hoa cũng được huấn luyện và sát nhập vào bộ đội Việt Minh (Qiang Zhai, 11-12)

 

(7). Năm 1942, trong một phiên họp cuả Hội đồng chiến tranh Thái Bình Dương gồm Trung Hoa-Phi Luật Tân-Úc-Tân Tây Lan và Canada, TT Roosevelt cho biết là ông không muốn thấy chế độ thuộc địa Pháp được phục hồi ở Đông Dương. Đặc biệt, trong lá thư gửi cho Bộ Trưởng Ngoại giao Cordell Hull ngày 24-1-1944 Roosevelt viết: “Đông Dương không nên bị trả cho Pháp mà cần được đặt dưới sự ủy trị của quốc tế. Pháp chiếm đóng xứ này đã gần một trăm năm mà dân chúng ở đây còn khổ cực hơn lúc ban đầu …! Nhân dân Đông Dương có quyền được hưởng những điều kiện tốt đẹp hơn …”. Tuy nhiên ý định này bị Thủ tướng Churchill chống đối, Churchill tuyên bố rằng ông không bao giờ đồng ý cho bốn, năm chục nước thọc tay can thiệp vào sự tồn tại của đế quốc Anh. Sau Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Roosevelt bực dọc nói: Stalin thích ý kiến này, Trung Hoa cũng tán thành, Anh Quốc không ưa vì sợ đế quốc của họ tan vỡ …”. Ngay từ năm 1919, Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn Tự trị và các quyền căn bản cho VN gửi TT HK Wilson, ngày 17 tháng 10 năm 1945 Hồ Chí Minh tìm gặp Đại sứ HK Caffery ở Paris trong thời gian dự hội nghị Fontainbleau để chuyển thư đến TT Truman. Tài liệu Bộ Ngoại giao HK cho biết thì HCM đã từng mong muốn Việt Nam được đặt dưới sự Bảo hộ của Mỹ như trường hợp Phi Luật Tân khi trước (Schulzinger 19, Duiker 340) Toán OSS cũng tường trình như sau: Đối với người An Nam, sự hiện diện của chúng ta là biểu tượng không phải cho sự giải phóng khỏi nạn chiếm đóng của Nhật mà giải phóng khỏi hàng chục năm dưới chế độ thuộc địa. Chính phủ VN xem Hoa Kỳ là nhà vô địch bênh vực cho quyền của các dân tộc nhược tiểu … (Hess,178-179)

 

 

 

 

 

CHÍNH MI …

         SAU NGÀY MẤT NƯỚC, đi đâu nhìn lên tường cũng nhìn thấy hàng chữ đỏ lòm “Đời đời nhớ ơn bác Hồ vĩ đại” khiến nhức đầu nhức mắt ấm ức vô cùng. Được rồi mày “ Đời đời.. nhớ bác Hồ” thì tao “ Muôn năm .. muôn năm … hận cáo Hồ” .

Hai tay còng số tám,

Chân cùm kiểu Liên Xô .

Đái ăn nằm một chỗ

Muôn năm hận cáo “Hồ” …

     Không phải chỉ riêng tôi mà hầu hết nhân dân Việt Nam cả ngoài Bắc lẫn trong Nam sau này đều bị ám ảnh bởi 3 chữ Hồ Chí Minh, mở miệng ra là Các Mác là Lê Nin, là Bác Hồ vĩ đại, là chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại mà tôi cứ nghĩ là “rồ dại”, sống mãi trong sự “thất nghiệp” của chúng ta …! Tự nhiên tôi nhớ tới lão tướng Phan Khôi trong Nhân văn Giai phẩm năm nào … Phải rồi Chính mi, chính mi Chí Minh ơi:

Chính mi bán nước Chí Minh ơi

Chính mi cõng rắn cắn nòi Việt Nam …

Chính mi gây cảnh tương tàn

Nồi da xáo thịt ngập tràn máu xương …

Gây bao nhiêu cảnh tang thương

Muôn dân đồ thán thê lương khốn cùng …

Mai này Cộng sản  cáo chung

Đào Lăng quật mộ gian hùng Chí Minh …

NGÀY THÁNG ĐÓ…

Ngày tháng đó suốt đời ta nhớ mãi ..

Cả Sài Gòn phủ kín một màu tang ..!

Cờ hạ xuống bao hồn thiêng u uất,

Nước ngậm ngùi cau mặt khóc tang thương …!

Ta đứng đó lặng nhìn thành phố chết,

Bao hờn căm u uất bỗng dâng trào …

Lặng nghe lòng thổn thức những thương đau ..

Ôm mặt khóc .. Trời ơi mình chiến bại..!?

ĐOẠN TRƯỜNG

Gươm đàn hề nửa gánh,

Sầu cố quốc khôn khuây …

Nam nhi hề chi chí,

Vuốt mặt luống đoạn trường ..!

LỜI SÔNG NÚI

Ngày tháng đó buổi ta đi em khóc

Ngỡ nghìn trùng sông núi cách ngăn nhau …

Đừng khóc nữa em yêu xin đừng khóc

Thêm đau lòng vương vấn bước ta đi …

Lời sông núi ta đi theo tiếng gọi,

Vì tự do ta quét sạch bóng thù

Vì hạnh phúc nhân dân thề tranh đấu,

Không có gì ngăn nổi bước ta đi …

Không có gì ngăn nổi chí nam nhi …

 

MUÔN NĂM

Hai tay còng số tám,

Chân cùm kiểu Liên Xô .

Đái ăn nằm một chỗ

Muôn năm hận cáo “Hồ” …

X ÍCH PH ẢI TUNG …

“ Chân cùm tay xích đầu sao xích,

Xích sẽ có ngày xích phải tung ..!

Tư tưởng tinh thần làm sao xích,

A ha .. A ha ..!

Xích sẽ đến ngày xích phải tung ..!

 

     NHIỀU LÚC ngồi nghĩ lẩm ca lẩm cẩm không chừng mà lại đúng để tự an ủi mình rằng có lẽ kiếp trước mình cũng là tay sát thủ “độc cước đại hiệp”chăng? Với cú đá sát thủ chắc chết nhiều người lắm nên kiếp này mới bị cùm chân gần bẩy năm trời mà lại cùm 2 chân nên kiếp trước chắc là mình đá song phi nên bây giờ bị cùm 2 chân banh ra, cứ nằm ngửa chờ chờ chứ không nằm nghiêng được. Lúc đó ngoài giấc mơ chiến thắng mình còn mơ ước nhỏ nhoi là được ngủ nghiêng một giấc, đơn giản thế thôi. Vậy mà giấc mơ đó 7 năm sau khi ra khỏi xà lim mới thành hiện thực:“ Bẩy năm mơ giấc ngủ nghiêng, hết đêm lại sáng xích xiềng chân tay..! Ừ xích thì xích, xiềng thì xiềng có chết thằng Tây nào đâu mà sợ. Máu anh hùng lại nổi lên  thách thức ngạo nghễ…

      Sáng 30 tháng tư, phố xá Sài Gòn mang một bộ mặt khác thường, người qua kẻ lại hớt hãi vội vàng, phố xá ngổn ngang giày dép áo quần vất bỏ từng đống trên những con đường hoang tàn xơ xác của một thành phố chết. Người Sài Gòn vẻ mặt hốc hác sau mấy đêm dài mất ngủ, ngỡ ngàng ngơ ngác nhìn nhau … Rồi thì mạnh ai nấy tính, kẻ lo tìm đường vượt biển, người rầu rĩ khăn gói về quê, đổi chỗ ở tránh sự truy tìm lý lịch trả thù của Cộng sản. Buổi sáng hôm đó, tôi như kẻ mất hồn đi lang thang khắp Sàigòn lúc vừa đến tượng đài Thuỷ quân Lục chiến ở trước Hạ viện thì nghe súng nổ, người lại xôn xao nói về người chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà nào đó đã móc súng tự sát trước tượng đài mà sau này biết ra là Trung tá Long Cảnh sát Quốc gia. Buổi trưa, sau khi từ Dinh Độc lập đi bộ lững thững về chợ Bến Thành, ngược trở lại Lê văn Duyệt tìm một quán cóc bên đường, kêu một ly cà phê đá rồi ngồi nhìn cảnh tượng hoang tàn mà lòng ngổn ngang trăm mối… Bàn bên cạnh mấy ông lớn tuổi mắt xớn xác nhìn ngang nhìn dọc rồi kể cho nhau nghe về chuyện mấy anh em thương phế binh ở Quân y viện Cộng hoà bị Việt Cộng đuổi ra khỏi bệnh viện đã rút kíp lựu đạn để mấy anh em cùng chết, rồi một trung đội nhảy dù dưới quyền chỉ huy của viên Thiếu Uý đã anh dũng chiến đấu đến giờ phút cuối cùng và họ đã chừa viên đạn cuối để tự kết liễu cuộc đời của những chiến sĩ hào hùng đó. Ngày tháng đó … tôi nhớ mãi những dằn vặt thao thức, những âu lo sợ sệt, những căm thù uất hận, những tức tưởi ngỡ ngàng …

 

Mỹ-Nhật cam kết gìn giữ an ninh châu Á Thái Bình Dương

Việt Hà, phóng viên RFA, Bangkok – 2012-05-03

Ngày cuối tháng 4 vừa qua, Hoa Kỳ bận rộn với các cuộc gặp với lãnh đạo các nước đồng minh quan trọng tại châu Á.

 

AFP – Hàng không mẫu hạm USS George Washington hướng dẫn các chiến hạm Nhật trong 1 cuộc tập trận ở Thái Bình Dương năm 2010

Một trong các cuộc gặp quan trọng diễn ra vào ngày 30 tháng 4 vừa qua là giữa Tổng thống Hoa Kỳ, Barack Obama với thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda. Bản tuyên bố chung hai nước sau cuộc gặp tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của mối liên minh hai nước cũng như mối quan tâm chung của Mỹ và Nhật tại khu vực châu Á Thái Bình Dương. Để tìm hiểu thêm tương lai hợp tác hai nước trong mối liên hệ với an ninh khu vực thời gian tới, Việt Hà phỏng vấn ông Tetsuo Kotani, chuyên gia nghiên cứu tại Viện Quan hệ quốc tế của Nhật Bản. Trước hết nói về kết quả cuộc gặp lần này giữa hai nước, ông Tetsuo Kotani nhận xét:

Cân bằng sự lớn mạnh của Trung quốc
Tetsuo Kotani: cuộc gặp giữa thủ tướng nhật và tổng thống Mỹ không đưa ra một một điểm gì mới hơn trong khía cạnh hợp tác chiến lược về an ninh bởi hai nước đã cùng làm việc với nhau để đưa ra một chiến lược an ninh trong nhiều năm, và điều này đã khiến Mỹ giờ đây tập trung vào châu Á. Còn đối với Nhật Bản thì khu vực châu Á Thái Bình Dương vẫn luôn là trọng tâm chú ý trong chính sách. Cho nên cuộc gặp lần này chỉ tái khẳng định mối quan tâm chung và trọng tâm chú ý của hai nước là vào châu Á Thái Bình Dương

Việt Hà: Với sự lớn mạnh của Trung Quốc về kinh tế và quân sự mà một số nước có thể coi là một mối đe dọa tiềm năng, Nhật bản hy vọng gì ở mối liên minh với Mỹ để đối phó với mối đe dọa từ Trung Quốc?

Tetsuo Kotani: tôi không nghĩ là Nhật Bản đang nhìn Trung Quốc như một mối đe dọa mặc dù Nhật bản có thể coi Trung quốc là một mối quan ngại về an ninh. Vì vậy ưu tiên của chúng tôi là cân bằng sự lớn mạnh

 

 

Tàu ngầm Trung Quốc hoạt động thường xuyên trên Biển Đông cũng như ở Thái Bình Dương. Nguồn báo Trung Quốc

của Trung quốc, và đưa Trung Quốc theo trật tự an ninh chung của khu vực. Cả hoa kỳ và Nhật bản đều có chung mục tiêu này. Cho nên cuộc gặp cấp cao lần này giữa hai nước đã tái khẳng định mục tiêu chung này.

Tôi không nghĩ là Nhật Bản đang nhìn Trung Quốc như một mối đe dọa mặc dù Nhật bản có thể coi Trung quốc là một mối quan ngại về an ninh. Vì vậy ưu tiên của chúng tôi là cân bằng sự lớn mạnh của Trung quốc, vàđưa Trung Quốc theo trật tự an ninh chung của khu vực.

ông Tetsuo Kotani
Việt Hà: Hoa Kỳ đã chuyển trọng tâm sự chú ý vào khu vực châu Á Thái Bình Dương bằng cách thắt chặt mối quan hệ về quân sự với các nước như Úc, Singapore, Philippines và Nam Hàn. Mối liên minh Nhật Bản và Mỹ đóng vai trò quan trọng thế nào trong mạng lưới liên minh này của Mỹ để duy trì an ninh và ổn định trong khu vực?

Tetsuo Kotani: mối liên minh Nhật bản và Hoa Kỳ về an ninh hết sức quan trọng cho sự ổn định và hòa bình trong khu vực. Nhưng nếu chỉ có Hòa Kỳ và Nhật bản thì chúng tôi không thể đảm bảo an ninh cho toàn khu vực vì vậy mặc dù hai nước đã thắt chặt mối liên minh nhưng chúng tôi đồng thời cần sự hợp tác từ các nước khác như Australia, Nam Hàn, Singapore, Việt Nam và Philippines. Trong bản tuyên bố cho thấy chúng tôi mong muốn mở rộng hợp tác an ninh với các nước trong khu vực và chúng tôi cũng không muốn bỏ Trung Quốc ra ngoài sự hợp tác

Việt Hà: Vậy đâu là thách thức trong mối liên minh Nhật Mỹ?

Tetsuo Kotani: theo tôi thách thức chính là sự cách biệt về khả năng quốc phòng giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng quốc phòng của nước này đang gia tăng và mặc dù chưa hơn được Mỹ hay Nhật

 

Phó Đô đốc hải quân Philippines Alexander Pama trưng hình ảnh hai chiếc tàu hải giám Trung Quốc chặn tàu chiến Philippines trong một cuộc họp báo tại Manila ngày 11/4/2012.AFP

nhưng nếu so với các nước ASEAN thì họ hơn nhiều. Vì vậy chúng tôi cần phải lấp đầy sự cách biệt này. Đó là lý do mà Mỹ và Nhật mở rộng hợp tác với các nước ASEAN trong đó có Philippines, Việt Nam.

Khả năng quốc phòng của nước này (TQ) đang gia tăng và mặc dù chưa hơn được Mỹ hay Nhật nhưng nếu so với các nước ASEAN thì họ hơn nhiều. Vì vậy chúng tôi cần phải lấp đầy sự cách biệt này. Đó là lý do mà Mỹ và Nhật mở rộng hợp tác với các nước ASEAN trong đó có Philippines, Việt Nam

ông Tetsuo Kotani

 

Ảnh hưởng kinh tế và chính trị
Việt Hà: cả Mỹ và Nhật đều đã trải qua khủng hoảng kinh tế trong khi kinh tế Trung quốc vẫn tăng trưởng, điều này có ảnh hưởng thế nào đến liên minh quân sự mà Mỹ và Nhật Bản muốn tạo dựng trong khu vực?

Tetsuo Kotani: cả Mỹ và Nhật đã trải qua những khó khăn về kinh tế trong khi kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng. Nếu Nhật bản và Hoa Kỳ không tiếp tục khẳng định mối hợp tác và quan tâm đối với các nước ASEAN thì Trung Quốc có thể sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để tạo ảnh hưởng lên các nước này. Cho nên điều chúng ta cần làm là chúng ta vẫn phải duy trì mối quan hệ kinh tế với Trung quốc. Trong khi đó chúng ta cũng phải tạo dựng một khuôn khổ hợp tác kinh tế không nhất thiết là phải có Trung Quốc trong đó. Ví dụ chúng ta đang có TPP. Lúc này Trung Quốc vẫn chưa gia nhập TPP, nếu chúng ta có thể tạo dựng một khuôn khổ hợp tác kinh tế hiệu quả thì đây có thể là một đối trọng với Trung Quốc.

Mỹ và Nhật đã trải qua những khó khăn về kinh tế trong khi kinh tếTrung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng. Nếu Nhật bản và Hoa Kỳ không tiếp tục khẳng định mối hợp tác và quan tâm đối với các nước ASEAN thì Trung Quốc có thể sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để tạo ảnh hưởng lên các nước này

ông Tetsuo Kotani

 

 

Loại tàu Haijian (Hải Giám) hiện đại của Trung Quốc tuần tiểu ngày đêm trên các khu vực tranh chấp ở Biển Đông. (ảnh minh họa)AFP

Việt Hà: Trong cuộc gặp lần này, hai nước cũng đề cập đến việc rút quân Mỹ khỏi đảo Okinawa, điều nảy có ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả hợp tác quân sự hai nước trong việc đảm bảo an ninh khu vực?

Tetsuo Kotani: việc rút quân Mỹ khỏi căn cứ Okinawa có thể có tác dụng tích cực về mặt chính trị bởi vì người dân Okinawa không muốn có nhiều quân Mỹ trên đảo. Cho nên chúng tôi phải giảm số quân mỹ tại đây. Và điều này có ý nghĩa tích cực về mặt chính trị để duy trì mối liên minh hai nước. Tuy nhiên đúng là việc giảm quân có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đánh chặn. Tuy nhiên với mối liên minh quốc phòng mạnh giữa hai nước chúng ta có thể khắc phục được điểm này. Hiện tại Mỹ đã triển khai quân đến một số vùng quan trọng trong khu vực và họat động cũng linh họat cho nên nhìn chung thì khả năng đánh chặn vẫn có thể được duy trì và thậm chí được tăng cường hơn.

…bởi vì người dân Okinawa không muốn có nhiều quân Mỹ trên đảo. Cho nên chúng tôi phải giảm số quân mỹ tại đây. Và điều này có ý nghĩa tích cực về mặt chính trị để duy trì mối liên minh hai nước. Tuy nhiên đúng là việc giảm quân có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đánh chặn.

ông Tetsuo Kotani
Việt Hà: theo ông trong tương lai Nhật Bản và Hoa Kỳ có thể có các họat động quân sự nào cụ thể trong khu vực?

Tetsuo Kotani: Hoa Kỳ luôn có những cuộc tập trận chung hay trao đổi với các nước trong khu vực, đôi khi Hoa Kỳ cũng bán các thiết bị cho các nước này. Trong bản tuyên bố mới giữa Nhật bản và Hoa Kỳ chúng ta thấy là Nhật Bản sẽ cố gắng tận dụng ODA, ví dụ nhật bản vừa tuyên bố là sẽ cung cấp tàu tuần tiễu cho Philippines. Và theo tôi thì Nhật bản sẽ tiếp tục cung cấp các thiết bị quốc phòng cho các nước khác như Việt Nam, Brunei và Ấn Độ.

Chúng tôi đã gửi người quan sát đến cuộc tập trận chung giữa Mỹ với Philippines, và theo tôi thì Nhật bản sẽ tiếp tục mở rộng các họat động tập trận chung và đào tạo chung.

Việt Hà: xin cảm ơn ông

Theo dòng thời sự:

 

Ngoại trưởng Mỹ Clinton đến Ấn Độ để thúc đẩy quan hệ song phương

 

 

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cầm tấm vải choàng Sari khi đến thăm một triển lãm chống tệ nạn buôn người, Calcutta, Ấn Độ, 06/05/2012

REUTERS/Shannon Stapleton

Thụy My

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, hôm nay 06/05/2012, đã đến Calcutta trong khuôn khổ chuyến viếng thăm Ấn Độ ba ngày. Mục đích của chuyến công du này là nhằm tái thúc đẩy quan hệ đôi bên hiện đang lỏng lẻo, cho dù trong những năm qua, hai nước đã có nỗ lực để xích gần lại với nhau.

Bà Clinton đã được người dân Calcutta đón chào với các biểu ngữ trên đường phố. Tại đây, bà sẽ viếng thăm một số công trình và gặp gỡ những người dân bình thường. Sự mến mộ của dân chúng dành cho bà cũng là thế mạnh ngoại giao của Ngoại trưởng Mỹ.

Ngày mai, thứ Hai, bà Hillary Clinton sẽ đến New Delhi để hội đàm với thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh, nhằm thuyết phục Ấn Độ ngưng mua dầu hỏa của Iran. Đây là một trong các bất đồng gay gắt nhất giữa hai nước trong những năm gần đây.

Chuyến công du của Ngoại trưởng Mỹ trùng hợp với thời điểm một phái đoàn đông đảo của Iran cũng đến Ấn Độ vào tuần này, để tìm kiếm các cơ hội thương mại, hầu làm giảm nhẹ ảnh hưởng các biện pháp trừng phạt Iran của Hoa Kỳ.

Bà Clinton cho biết đã có những tiển triển quan trọng trong quan hệ với Ấn Độ, nêu ra những tăng tiến trong trao đổi thương mại và việc hợp tác trong nhiều lãnh vực từ giáo dục cho đến năng lượng xanh. Bà nói : « Cũng như trong tất cả mối quan hệ khác, có những tiến bộ trong một số lãnh vực đã khích lệ chúng tôi, và có những việc khác cần phải hoàn thành. Nhưng khi chúng tôi nói với một quốc gia là muốn trở thành đối tác của nước đó, có nghĩa là đã có một sự cam kết từ phía chúng tôi ».

Trong lần viếng thăm vào năm ngoái, bà Hillary Clinton đã kêu gọi Ấn Độ đóng một vai trò lớn hơn trên thế giới, và nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ giữa hai nền dân chủ lớn này trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, từ đó đến nay, đà phấn khởi đã nhạt đi. Một số nghị sĩ Mỹ không ngần ngại chỉ trích việc Ấn Độ tiếp tục mua dầu hỏa của Iran. Giới chủ Mỹ cũng bực tức trước việc Ấn Độ chưa muốn mở cửa cho các tập đoàn phân phối lớn.

Quan hệ Mỹ – Ấn vốn nhiều trắc trở trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đã bắt đầu được hâm nóng lại từ cuối thập niên 90 dưới thời tổng thống Bill Clinton, và tiếp tục với ông George W. Bush, giúp Ấn Độ thoát khỏi tình trạng bị cô lập do hồ sơ nguyên tử.

Một viên chức cao cấp Mỹ tháp tùng bà Clinton nhìn nhận là New Delhi đã có giảm nhẹ nhập khẩu dầu thô từ Iran. Ấn Độ lệ thuộc rất nhiều vào nguồn năng lượng nhập khẩu, và có quan hệ thân hữu với Iran trong nhiều năm qua. Tuy nhiên theo viên chức trên đây, thì các doanh nhân Ấn Độ không muốn vấn đề Iran làm hỏng mối quan hệ tốt đẹp với Hoa Kỳ.

Cựu đại sứ Ấn Độ tại Liên Hiệp Quốc T.P. Sreenivasan cho rằng chuyến công du của bà Clinton « diễn ra đúng lúc vì có một số căng thẳng trong quan hệ cần làm dịu bớt ». Còn theo chuyên gia C.Raja Mohan của Observer Research Foundation, thì Hoa Kỳ và Ấn Độ có cùng một mục tiêu về hồ sơ Iran, và cả hai bên đều muốn duy trì những khác biệt ở những giới hạn chấp nhận được.

 

 

 

 

 

 
 
   
     
 
   
   
Thứ Hai, 07 tháng 5 2012

Bà Clinton gặp nhân vật khu vực chủ chốt trong chính trường Ấn Ðộ

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đang có mặt tại thủ đô Ấn Ðộ nơi bà dự trù sẽ gặp các giới chức cấp cao nhất của nước này. Bà Clinton đang hối thúc quốc gia đói năng lượng này tiếp tục bớt nhập dầu hỏa của Iran. Từ New Delhi, thông tín viên VOA Kurt Achin gửi về bài tường thuật sau đây.

Kurt Achin | New Delhi

 

Hình: ASSOCIATED PRESS – Ngoại trưởng Clinton gặp bà Mamata Banerjee, thủ hiến bang Tây Bengal, một trong những nhân vật khu vực có nhiều thế lực, ngày 7/5/2012

Trước khi đến thủ đô Ấn Độ hôm nay, ngoại trưởng Clinton đã gặp tại Kolkata một trong những nhân vật khu vực có nhiều thế lực nhất – đó là bà Mamata Banerjee, thủ hiến Tây Bengal.

Đây là cuộc họp quan trọng đầu tiên của bà Clinton kể từ khi bà từ Bangladesh đến Ấn Độ, nhưng bà Banerjee cho biết hai vấn đề được nhiều người trông đợi nhất đã không được đưa vào nghị trình thảo luận.

Đáp lại một câu hỏi của phóng viên, bà Banerjee nói bà và bà Clinton đã không bàn đến vấn đề đầu tư trực tiếp của nước ngoài hay đến một thỏa thuận bị đình trệ về việc chia nguồn nước con sông Teesta dọc theo biên giới giữa Tây Bengal và Bangladesh.

Năm ngoái, lẽ ra một lệnh của chính phủ Ấn Độ đã cho phép nước ngoài được tham gia sở hữu các hoạt động bán lẻ nhiều mặt hàng ở các thành phố lớn. Lệnh này lẽ ra đã có hiệu lực cho phép các công ty lớn như Wall-mart được kiểm soát các dây chuyền cung ứng thực phẩm và nông nghiệp. Bà Banerjee chống đối lệnh này, và đòi chính phủ phải bãi bỏ lệnh bằng cách đe dọa rút đảng của bà ra khỏi liên minh cầm quyền.

Trước cuộc họp với bà Banerjee, bà Clịnton đã ngỏ ý trong một cuộc hội thảo được truyền hình rằng có nhiều phần chắc bà sẽ nêu ra vấn đề đầu tư trực tiếp của nước ngoài.

Ngoại trưởng Clinton nói: “Có một khối lượng kinh nghiệm rất lớn về có thể đưa vào Aán Độ về quản lý dây chuyền cung ứng, về phát triển quan hệ với các nhà sản xuất nhỏ để có thể tăng khối lượng sản xuất, và có thể có mọi loại trợ giúp dành cho nông dân về sản lượng nông nghiệp. Do đó, tôi nghĩ sẽ có rất nhiều lợi ích có thể không nhất thiết nhìn ra ngay được.”

Bộ trưởng tài chính Ấn Độ Pranab Mukherjee hôm nay loan báo rằng Ấn Độ sẽ nới lỏng một số biện pháp về thuế khóa gây tranh cãi đã khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế lo ngại. Chưa rõ liệu thời điểm đưa ra thông báo này có liên quan phần nào đến chuyến thăm của bà Clinton hay không.

Tại New Delhi, bà Clinton dự trù sẽ thăm Thủ tướng Manmohan Singh và chủ tịch đảng Quốc Đại Sonia Gandhi. Bà Clinton cũng dự tính gặp người tương nhiệm phía Ấn Độ là ngoại trưởng S.M. Krishna, để dọn đường cho một diễn đàn sách lược giữa Aán Độ và Hoa Kỳ dự trù diễn ra tại Washington vào tháng tới.

Vấn đề Ấn Độ nhập khẩu dầu của Iran cũng được trông đợi sẽ được xếp cao trong nghị trình gặp gỡ của bà Clinton. Hoa Kỳ và châu Âu đã áp đặt các biện pháp chế tài Tehran để ngăn họ tiến hành một chương trình vũ khí hạt nhân.

Ấn Độ không ủng hộ các biện pháp này và trên thực tế đang tìm cách tăng cường giao dịch thương mại không liên quan đến dầu với Iran. Tuy nhiên, bà Clinton thừa nhận các nỗ lực của Ấn Độ là âm thầm giảm bớt lượng nhập khẩu dầu và bà được trông đợi sẽ kêu gọi các nhà lãnh đạo Ấn Độ thực hiện thêm nhiều cố gắng hơn nữa.

Bà Clinton nói: “Chúng tôi rất tán đồng những gì đã thực hiện được và đương nhiên chúng tôi muốn tiếp tục làm áp lực đối với Iran, do đó bất cứ điều gì mà Ấn Độ và các nước khác có thể làm được, đều sẽ giúp chúng tôi đạt được điều đó.”

Trong khi đó, bà Clinton hôm nay xác nhận là bà đã đích thân cho phép treo giải thưởng 10 triệu đôla cho ai cung cấp thông tin để bắt giữ và truy tố nghi can khủng bố người Pakistan Hafiz Saeed. Saeed đã đóng một vai trò chính trong việc hoạch định các vụ tấn công khủng bố ở Mumbai đã làm 166 người thiệt mạng. Đã có một số hiểu lầm về khoản tiền thưởng này kể từ tháng trước, khi đại sứ của Washington tại Pakistan nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không đề nghị khoản tiền thưởng này.

Bà Clinton hôm nay còn cho biết bà tin rằng thủ lĩnh al-Qaida Ayman al-Zawahiri đang ở Pakistan. Tại Islamabad, Ngoại trưởng Hina Rabbani Khar nói với các phóng viên rằng nếu Washington có bằng chứng về sự hiện diện của hắn ra, thì phải cung cấp bằng chứng đó cho Pakistan bởi vì al-Qaida là một kẻ thù của cả hai nước.

 

 

 

NHÌN LẠI CUỘC CHIẾN VIỆT NAM: AI THẮNG AI?

XIN MỜI ĐỌC TIẾP TRONG

–         Http:www // dienhongthoidai.com

–         Http:www // tunhanluongtamvietnam

–         Http:www //vietnamtomorrow.wordpress.com

–         Phamtrananh.net

 

 

Tuyên bố về quyền tư hữu ruộng đất tại Việt Nam

Kính gởi Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước. Xin vui lòng phổ biến rộng rãi và dịch ra ngoại ngữ để rộng đường dư luận. Chúng tôi chân thành cảm ơn.
Khối 8406
 

clip_image002

Khối 8406

Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006

Web: http://8406vn.com

Email: vanphong8406@gmail.com

Tuyên bố về quyền tư hữu ruộng đất tại Việt Nam

nhân vụ án Đoàn Văn Vươn  

20-04-2012

            Kính gửi:

– Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

– Quý nông dân Việt Nam đang từng ngày nuôi sống Quê hương.

            Xét rằng: Kể từ khi bắt đầu hoạt động tại Việt Nam năm 1930, đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyên bố nông dân là hậu thuẫn chủ yếu nhất của mình, lực lượng quan trọng nhất của đất nước, luôn hứa hẹn “phân phối đất đai công bằng” và “người cày có ruộng” để lôi kéo giới nông dân -từng chiếm 80-90% dân số- đi theo đảng làm “cách mạng”.

            Xét rằng: Trên thực tế, suốt cuộc Cải cách Ruộng đất (1953-1956), hàng vạn nông dân làm ăn tài giỏi đã bị đày đọa, bị lãnh án tử hình vì bị gán cho tội “địa chủ”. Sau biến cố “long trời lở đất” đầy máu và nước mắt này, ruộng được chia cho các bần cố nông đã mau chóng bị tước lấy, đưa vào hợp tác xã nông nghiệp. Nhưng chủ trương này chỉ mang lại đói khổ không những cho nông dân mà còn cho cả nước Việt Nam Dân chủ.

            Xét rằng: Sau cuộc thống nhất hai miền năm 1975, chính sách nông nghiệp sai lầm và bất nhân, coi khinh quyền tư hữu đất đai ấy được tiếp tục trên toàn cõi Việt Nam, kèm theo các chính sách “cải tạo xã hội chủ nghĩa” “cải tạo công thương nghiệp”, coi khinh quyền tư hữu tư liệu sản xuất, đã đẩy cả nước tiến dần đến bờ vực thẳm phá sản kiệt quệ, khiến cho năm 1988, đảng Cộng sản phải thôi siết chặt kinh tế, đề ra Nghị quyết 10 về khoán các sản phẩm nông nghiệp cho nông dân. Đất nước có gạo ăn và còn dư để xuất khẩu. Thế nhưng nông dân vẫn lâm cảnh đói nghèo, vì không được làm chủ chính mảnh đất mình đang đổ tiền của, mồ hôi và công sức.

            Xét rằng: Việc tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất (vốn là một quyền tự bản tính con người, được nhân loại văn minh công nhận qua Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền điều 17) đã bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam pháp chế hóa bằng điều 17-18 của Hiến pháp 1992 và điều 1 của Luật đất đai 1993 qua công thức “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”. Ghê gớm hơn nữa, bằng điều 1 của Luật đất đai 2003 qua công thức “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai”. Hậu quả là người dân chỉ còn quyền sử dụng, riêng nông dân chỉ còn được giao ruộng trồng lúa trong 20 năm hay giao đất trồng cây lưu niên trong 50 năm. Thế nhưng hạn thời này có khi bị nhà cầm quyền địa phương tùy tiện rút ngắn. Đây là phương cách quan trọng nhất để đảng CS duy trì quyền lực thống trị lâu dài và là nguồn gốc chủ yếu nhất của mọi bất công trong xã hội Việt Nam hiện nay.

            Xét rằng: Trên lý thuyết, sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm ảo, chỉ mang tính lừa gạt; còn trong thực tế, “nhà nước đại diện chủ sở hữu” chính là đảng Cộng sản đang độc quyền thống trị cả nước và các thành viên, cán bộ của đảng đang nắm quyền tại mỗi địa phương, từ tỉnh xuống quận, huyện và xã. Kể từ khi mở cửa kinh tế thị trường, kêu gọi ngoại quốc vào đầu tư, phát triển các khu công nghiệp (năm 1986), những viên chức này đã vừa áp dụng nguyên tắc pháp lý kỳ lạ của Luật đất đai nói trên, vừa lợi dụng vô số kẽ hở của hàng trăm văn bản thực hiện (trong đó rất nhiều văn bản vênh nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, hiểu theo cách nào cũng được) để đuổi hàng triệu người dân ra khỏi mảnh đất đang làm nơi sinh sống hay làm chỗ hành nghề, ra khỏi đầm ao hay ruộng vườn đang chăn nuôi hay đang canh tác. Hành động bất công này thường được thực hiện với sự phối hợp đầy âm mưu của chính quyền các cấp và của nhiều ban ngành trong bộ máy cai trị. Việc toa rập giữa thành phố Hải Phòng, huyện Tiên Lãng, xã Vinh Quang, giữa cấp ủy, chính quyền, tòa án, công an, mặt trận, quân đội trong vụ đàn áp, cướp bóc, tàn phá, giam cầm, truy tố gia đình ông Đoàn Văn Vươn là trường hợp điển hình.

            Xét rằng: Lối bồi hoàn với giá rẻ như bèo, không đủ để người dân xây lại nhà cửa và làm lại nghề cũ hay chuyển sang nghề mới; hay tệ hơn nữa là lối cướp trắng công sức, tàn phá hoa màu, triệt hạ gia cư, hành hung gia chủ

– đã đẩy hàng trăm ngàn gia đình đến chỗ dở sống dở chết, mờ mịt tương lai, khiến con nhỏ bỏ học, con lớn đi làm lao nô hay tình nô khắp bốn phương trời, hoặc cả gia đình phải dắt díu nhau chạy ra nước ngoài như đồng bào Thượng tại Tây Nguyên kể từ năm 2001, giáo dân Cồn Dầu Đà Nẵng kể từ năm 2010.

– đã tạo nên nạn “dân oan” chưa từng có trong lịch sử Dân tộc với hàng ngàn đoàn người lũ lượt đi khiếu kiện từ đời cha đến đời con, từ đời ông đến đời cháu, từ quê lên tỉnh, từ nam chí bắc, từ địa phương tới trung ương, trước văn phòng Quốc hội, cơ quan Mặt trận, trụ sở tiếp dân của chính quyền… với hàng đống đơn từ, hàng ngàn cuộc bố ráp xua đuổi, hàng vạn nỗi âu lo tuyệt vọng…

– đã dồn nhân dân đến bước đường cùng phải chống lại bằng hành động có khi mang tính bạo lực nhiều ít, khiến nhiều người bị án tù như tại Thái Bình năm 1997, tại Quận 9 Sài Gòn năm 2008, tại Khoái Châu, Hưng Yên năm 2008, tại Bến Tre năm 2011, tại Lục Ngạn Bắc Giang năm 2012, hoặc bị giam cầm như tại Dak Ngo, Đak Nông năm 2011, tại Tiên Lãng, Hải Phòng năm 2012…

– đã gây thương tích cho dân oan tại Kiên Giang năm 2008, gây vong mạng cho dân oan tại Trảng Bom, Đồng Nai năm 2008, tại Tĩnh Gia, Thanh Hóa năm 2010, hoặc đã khiến dân tự sát vì uất ức như anh Phạm Thành Sơn tại Sơn Trà, Đà Nẵng năm 2011, anh Nguyễn Văn Tưởng ở Thăng Bình Quảng Nam năm 2012.

            Xét rằng: Ngoài lý do quốc phòng, công ích, phát triển, nhiều cán bộ đảng viên đã trưng thu chiếm đoạt nhà cửa đất đai (có khi bờ xôi ruộng mật) chỉ để đầu cơ bất động sản, phân lô chia chác với nhau, cho xí nghiệp ngoại quốc thuê mướn, bán cho công ty trong nước kinh doanh, xây dựng sân golf hoặc khu giải trí du lịch, hoặc có khi để quy hoạch treo hàng chục năm trời… Điều này gây hại vừa cho an ninh lương thực, vừa cho an sinh xã hội, vừa cho an dân trị quốc.

            Xét rằng: Cùng sử dụng đất nông nghiệp nhưng hộ nông dân bị “hạn điền” khi được giao đất và khi được chuyển quyền sử dụng đất (2 hoặc 3 hecta), còn tổ chức thì không. Các doanh nghiệp chỉ cần lập dự án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu xét thấy khả thi, Nhà nước có thể giao quyền sử dụng đất cho họ với diện tích hàng ngàn hecta. Với hạn điền này, bên cạnh hạn thời 20 năm cho ruộng lúa, đầm cá và 50 năm cho vườn cây lưu niên, nông dân không thể an tâm và hăng hái đầu tư cho việc nuôi trồng hay canh tác, như thế cũng tác hại lên sự phát triển của toàn xã hội. Ngoài ra, có trường hợp cá nhân cán bộ cướp được hàng trăm hécta đất, khiến nông dân trở nên tá điền, bị bầm dập đủ điều khi thuê ruộng, thậm chí trở thành nông nô cho những địa chủ đỏ mới, như tại Hòn Đất, Kiên Giang. Đó là chưa kể Tổng Công ty Lương thực Miền nam của Nhà nước từ nhiều năm nay bắt chẹt nông dân miền Nam, buộc phải bán lúa giá thấp cho họ.

            Chính vì lẽ đó, Khối 8406 chúng tôi

            1- Đòi Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam phải nghe tiếng nói của nhân dân, của các tôn giáo, của giới trí thức mà sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trả lại cho người dân quyền tư hữu ruộng đất vốn có từ xưa; sửa đổi tận gốc Luật đất đai 2003, hủy bỏ nguyên tắc bất công phi lý lừa đảo: “Đất đai thuộc về toàn dân với nhà nước đại diện sở hữu”, để người dân sở hữu thực sự và trọn vẹn mảnh đất của mình, nhất là vì nhiều xáo trộn và xung đột xã hội sẽ diễn ra khi sắp đến hạn thời 20 năm thuê đất mà Luật đất đai 1993 đã tùy tiện áp đặt.

            2- Đòi Nhà nước CHXHCN Việt Nam phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho các dân oan đã bị tù vì đòi quyền sống về đất đai, vì bảo vệ ruộng vườn nhà cửa của họ, như 7 dân oan Bến Tre bị xử ngày 30-5-2011 (trong đó có mục sư Dương Kim Khải), 11 dân oan Lục Ngạn, Bắc Giang bị xử ngày 08-03-2012, 4 thành viên gia đình ông Đoàn Văn Vươn đang bị giam giữ từ 05-01-2012 vì bị vu tội “sát nhân và chống lại người thi hành công vụ”.

            3- Đòi Nhà nước phải chấm dứt sách nhiễu cuộc sống, cấm cản hành nghề hay trả lại tự do cho các luật sư từng bênh vực dân oan như Lê Trần Luật, Lê Thị Công Nhân, Huỳnh Văn Đông, Cù Huy Hà Vũ…, phải chấm dứt gây rối công việc của những chức sắc tôn giáo đã và đang dấn thân bảo vệ những cá nhân, cộng đồng hoặc tổ chức mất đất đai nhà cửa.

            4- Đòi Viện Kiểm sát, Thanh tra nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân Việt Nam, các tòa án địa phương phải tái duyệt, xem xét và giải quyết hợp tình hợp lý hàng triệu đơn khiếu nại của dân oan ba miền, từ nông dân, thị dân đến giáo dân và các dòng họ.

            5- Kêu gọi lực lượng công an và quân đội, vốn xuất thân từ nhân dân và được nhân dân trả lương nuôi sống, phải thôi làm công cụ mù quáng của các “nhóm lợi ích”, các “tư bản đỏ” để trấn áp và tước đoạt dân lành.

            6- Kêu gọi các chính phủ năm châu và các tổ chức quốc tế luôn gắn điều kiện quyền tư hữu đất đai, quyền sống của con người vào các dự án viện trợ giúp Việt Nam phát triển kinh tế, từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến xây dựng các khu dân sinh, các công trình văn hóa, các nhà máy xí nghiệp.

            7- Kêu gọi mọi thành viên Khối 8406 trong lẫn ngoài nước, mọi tổ chức thiện nguyện, mọi tổ chức nhân quyền, mọi tổ chức tranh đấu của con Hồng cháu Lạc khắp nơi tiếp tục nỗ lực xoa dịu đau khổ và bênh vực quyền lợi của các dân oan tại Việt Nam.

            Nhân dịp này, Khối 8406 xin chúc mừng thành công của Cộng đồng Người Việt Tự do tại Hoa Kỳ qua Kiến nghị thư Nhân quyền 150 ngàn chữ ký gởi cho Tổng thống B. Obama, cũng như xin ủng hộ Cộng đồng Người Việt Tự do tại Úc châu trong việc lấy chữ ký của đồng bào khắp thế giới cho Kiến nghị thư Nhân quyền gởi Quốc hội Úc châu.

            Tuyên bố tại Việt Nam ngày 20-04-2012, thời điểm nhà cầm quyền dự định cưỡng chế ngày hàng ngàn hộ dân oan Văn Giang, Hưng Yên để tiến hành dự án đô thị Ecopark.

            Ban Đại diện lâm thời Khối 8406.

1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải – 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, VN.

2. Linh mục Phan Văn Lợi – 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, VN.

3. Giáo sư Nguyễn Chính Kết – Đại diện Khối 8406 tại hải ngoại.

            Với sự hiệp thông của Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.

 

Phụ lục:

1) Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền:

http://vi.wikipedia.org/wiki/Tuy%C3%AAn_ng%C3%B4n_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_Nh%C3%A2n_quy%E1%BB%81n

2) Tuyên bố của Khối 8406 nhân kỷ niệm lần thứ 6 ngày thành lập (8/4/2006 – 8/4/2012):

http://www.danchimviet.info/archives/55680

LIÊN MINH VIỆT NAM-TÂY TẠNG BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC

 Inline image 1NH
LIÊN MINH VIỆT NAM-TÂY  TẠNG VÌ TỰ DO DÂN TỘC

BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC

New Delhi ngày 26 tháng 03 năm 2012

Cộng đồng Tây Tạng khắp nơi trên thế giới tựu về Delhi phản đối sự hiện diện của Hồ Cẩm Đào – Chủ Tịch đảng Cộng sản Tàu.

 

Kính thưa quý vị,

Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,

 

Từ 9 giờ 30 sáng ngày hôm nay 26 tháng 03, 2012  hàng nhiều chục ngàn người đã tề tựu đến địa điểm và cuộc tuần hành hơn 2 tiếng đồng hồ từ đại lộ New Delhi..

cùng lúc đó có cả trăm người đang  tuyệt thực…   Một sự việc vô cùng xúc động diễn ra. Đó là một thanh niên Tây Tạng tự châm lửa biến thân thành đuốc sống trước muôn ngàn tiếng gào thétđớn đau của mọi người . Người thanh niên đó đã ngã trước mặt tôi . Một sinh vật cháy đen ! Ngọn lửa trên thân thể đã được dập tắt .  Chúng tôi không thể nhìn người chết mà không cứu dù cho chính người đó đang tìm cái chết trong ý nghĩa cao cả hy sinh.

 

 Khó nhọc lắm Cảnh sát mới có thể đưa được  thân thể của người tựthiêu ra khỏi đám đông vây kín.

 

Trong đoàn hiện diện có phái đoàn ” Liên Minh Việt Nam -Tây Tạng đấu tranh cho Tự Do ” đến từ  Dharamsala phía Bắc Ấn Trung . Một lần nữa lá Cờ Vàng chính nghĩa Quốc gia ”     Cờ Vàng ba sọc đỏ ” phất phới tung bay bên cạnh quốc kỳ Tây Tạng nói lên sự kết hợp chiến đấu cho Tự Do của hai dân tộc cùng một hoàn cảnh mất nước vào tay Cộng sản đỏ.

Chỉ có một điều khác biệt là nhân dân Tây Tạng bị thống trị bởi thổ phỉCộng Tàu còn dân tộc Việt Nam lại bị đoạ đày bởi bọn cướp ngày tay sai Tàu Cộng. Xét cho cùng dân tộc Việt Nam còn thê thảm hơn nhiều.

 

Hỡi thế giới nhân loại có nghe chăng tiếng gào thét thống tâm của hai dân tộc Việt Nam và Tây Tạng?

 

Hỡi đồng bào Việt Nam yêu qúy,

Nhân dân Tây Tạng đang trổi dậy bằng chính máu và sự hy sinh mãnh liệt. Không một mãnh lực nào có thể ngăn cản nổi làn sóng tự thiêu vì TổQuốc của người Tây Tạng.

 Còn chúng ta – những người Việt Quốc gia nghĩ sao? Đất nước chúng ta sẽ đi về đâu khi mỗi người chúng ta chưa thoát ra khỏi sự sợ hãi?

 

 Lê Chân – Phóng viên Phong trào “Liên minh Việt Nam -Tibet đấu tranh cho Tự Do”

 

 
 
Mai tôi chết Cờ Vàng xin được phủ,
Để xác thân ấp ủ với  Sơn hà,
Để hồn tôi trọn nghĩa với Quốc gia,
Để sống thác được hoài mang lý tưởng.
 
Trước vận nước gieo neo,
Vững tay chèo định hướng.
Dù nhiễu nhương che lấp khắp nẻo đường,
Dù thân mình có lắm nỗi tang thương,
Ta cũng quyết không lùi một bước.
 
Cơn Quốc nạn đó là vận nước,
Nào phải ta khiếp nhược trước giặc thù.
37 năm rồi Tổ quốc mãi âm u,
Nghe trong gió có muôn ngàn tiếng hú.
Một tấc đất, một chiến hào mặt trận,
Nào đợi chi tới tướng mạnh binh hùng.
Thế cuộc này đang đến lúc vần xoay,
Quân bán nước đã đến ngày đền tội.
 
Đừng chờ ai kẻo không còn kịp nữa,
Ngàn năm sau nô lệ đang trực chờ.
Một phút đắn đo ta đánh mất thời cơ,
Một phút quyết định ta làm nên lịch sử.
 
Xé áng mây mù đạp làn sóng dữ,
Lấy máu xương ta chinh phục đại dương.
Vì tuổi đời bình minh ta còn đó,
Nhưng hoàng hôn ta đã mất nhau rồi.
  
Phủ Cờ Vàng là danh dự cho tôi,
Ai biết được ai người xứng đáng?
Xin tự hỏi trước thăng trầm quốc nạn,
Có bao giờ ta quay lại Cờ Vàng?
 
Có bao giờ ta đâm những nhát dao,
Làm rỉ máu tâm hồn chiến sĩ?
Có bao giờ ta tị hiềm ích kỷ,
Bán linh hồn cho qủy dữ hay không?
 
   
 
Câu trả lời ắt hẳn là KHÔNG!
Cờ Vàng đó hẳn nhiên ta xứng đáng.
Khi tôi  sống nguyện ôm Cờ sâu tâm khảm,
Mai lìa đời Cờ phủ trọn xác thân tôi.
 
 
Lê Chân