J. KRISHNAMURTI, CUỘC ĐỜI và TƯ TƯỞNG

J. KRISHNAMURTI, CUỘC ĐỜI và TƯ TƯỞNG
(11th May 1895 — 17 February 1986)
 
 

…”… Để chuẩn bị chu đáo cho sự xuất hiện của Thế Giới Đạo Sư, hội Thông Thiên Học thành lập một hội đoàn tôn giáo lấy tên là Ngôi Sao Phương Đông (The Order of the Star in the East) và tôn Krishnamurti làm Đạo Trưởng. Nhóm này có nhiều chục ngàn hội viên ở khắp nơi trên thế giới, với nhiều tiền bạc, nhà cửa đất đai tại Âu Châu, Úc châu, Ấn Độ, v.v…

Năm 1912, Khishnamurti được hội Thông Thiên Học chính thức tấn phong làm Thế Giới Đạo Sư. Nhưng đến năm 1929, bỗng nhiên ông giải tán hội Ngôi Sao Phương Đông, đọc bản tuyên ngôn “Thực Tại (Chân Lý) là nơi không có lối mòn để vào” (Truth is a Pathless Land).

Làm việc này, ông đã đương nhiên liệng bỏ những tài sản, đất đai, tiền bạc, quyền lực và tất cả mọi vinh dự mà thế nhân dành cho nhân vật có thẩm quyền, vị Đạo Sư.

Từ đó cho đến tận những ngày cuối cùng của cuộc đời ở tuổi 91, ông đáp ứng lời mời từ khắp nơi trên thế giới, thân hành tới ngồi chung trên thảm cỏ, trong nhà hội, trong phòng họp, đến bất cứ nơi nào có người quan tâm để thảo luận với họ những vấn đề về tự do, về sự tự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi tiềm ẩn từ trong tiềm thức, về sự tự gỡ bỏ gông cùm của những lề thói trói buộc con người, gỡ bỏ sự sợ hãi về các loại địa ngục do các tổ chức thần quyền tạo ra để khống chế tín đồ, về tình yêu thuần khiết, về lòng từ bi thương xót, kêu gọi mỗi người phải là nguồn ánh sáng của bản thân, v.v…

Kính mời đọc cả bài:

http://www.vietfreefun.com/forum/showthread.php?127025-J-Krishnamurti-cu%E1%BB%99c-%C4%91%E1%BB%9Di-v%C3%A0-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng&p=192233#post192233


Advertisements

Tác Giả và Tác Phẩm

 

Khái Hưng

 

Tiểu sử
Tên thật: Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Hải Dương, mất tại Nam Định 11.7.1947.

Tác phẩm

Hồn bướm mơ tiên, Thoát ly, Thừa tự, Trống mái, Tiêu sơn tráng sĩ, Nửa chừng xuân

Viết chung với Nhất Linh : Anh phải sống, Gánh hàng hoa, Đời mưa Gió.

 

 

 

 Mục Lục

 

     Tiêu sơn tráng sĩ – 2

Khái Hưng, cuộc đời và tác phẩm – Lê Quang Thông – 7

     Anh phải sống – 15

   Nhân nghĩ về Khái Hưng – Dương Ngiễm Mậu – 18

      Dọc đường gió bụi – 22

                 “Hồn bướm mơ tiên”, tác phẩm đầu tay của Khái Hưng – Trọng Đạt – 25

 

     Phụ đính I :

Ai mua hành tôi – Điếu thuốc lá – Đồng xu

 Bảy vị tinh tú – Viết thêm về Nhất Linh và Tự lực văn đoàn

Hai con mắt – Người vợ mù – Cái ve

 

   Phụ đính II :

Đào mơ – Tế Thành Hoàng

Trách nhiệm của tôi về cái chết của Khái Hưng

Điên – Dưới ánh trăng – Tống tiền

Khái Hưng trong tù

 

(Tim bài đọc: ở “Keyboard”, nhấn nút “F5”, đánh số trang, rồi “Enter”)

 

Người khách lạ

(…trích Tiêu Sơn Tráng Sĩ)

 

Tuy mới vào khoảng đầu giờ Dậu, nhưng về tiết mùa đông, trời đã nhá nhem
tối Các nhà, các hàng xén ở phố Từ Sơn đều đóng cửa. Chỉ trừ một hàng cơm là
có ánh sáng. Và luôn luôn ở trong đưa ra tiếng cười nói ầm ỹ.

Một trang thiếu niên ky sĩ, từ phía Nam tới, kìm ghì cương ngựa trước cửa
hàng. Chàng y phục nai nịt gọn gàng, đầu đội nón lông đen, chân đi hia chẽn, cỗ
quấn một cái khăn lụa trắng thắt lỏng, mối bỏ rủ sau lưng. Con ngựa của chàng sắc
nâu xẫm, và tuy nhỏ thon, nhưng có dáng mạnh mẽ và khỏe dai. Trời lạnh buốt
căm căm mà mình nó ướt đẫm mồ hôi, xem đó đủ đoán biết chủ nó đi từ xa lại.
Thế mà mũi nó hục hặc thở ra hai luồng hơi khói, bốn gió nó cuốc xuống đất như
gõ nhịp, để tỏ ý muốn là còn thừa sức chạy một thôi dài nữa. Ky sĩ lấy tay vỗ khẽ
vào cổ ngựa nói:
– Hãy thong thả, tuấn mã, đi đâu mà vội thế? Thầy trò ta nghỉ chân ăn lót dạ

Chàng vừa toan xuống ngựa, thì mắt chàng ngẫu nhiên để tới một cái bảng gỗ
vuông quét vôi trắng, trên viết những chữ nôm thật to, to đến nỗi trời đã gần tối
hẳn mà chàng còn lỗ mỗ đọc được…
Nhưng giữa lúc đó, sau một tiếng hét của con ngựa thì tiếng ồn ào cười nói
trong hàng cơm im bặt. Rồi cánh cửa hé mở, một người thò đầu ra hỏi:
– Ai?

Không trả lời, thanh nhiên võ sĩ nhanh nhẹn nhảy ngoắt xuống đất, kéo và vuốt
áo cho hết nếp răn vì lúc ngồi trên yên, chàng đã giắt vạt cả vào trong chiếc giây
lưng điều. Đoạn, thong thả, dõng dạc, chàng bảo người vừa hỏi:
– Chú còn đợi đến bao giờ mới ra giắt ngựa của ta vào tàu?
ý chừng cho là lời nói đó hỗn xược, người kia mở mạnh cánh cửa bước ra
đường đứng phưỡn ngực chống tay vào sườn, gật gù hỏi lại:
– Anh có biết tôi là ai không mà dám nói xách mé như thế?
Người khách mới đến mỉm nụ cười khinh bỉ thản nhiên đáp:
– à, ra tôi lầm? ý chừng chú không phải là chủ quán hay người nhà hàng cơm.
Rồi, sau khi đã buộc giây cương vào đầu một cái kèo ở mái hiên, chàng đi
thẳng vào trong hàng, lớn tiếng gọi:
– Chủ quán?

Nghe tiếng chàng sang sảng, ngắm thân thể chàng cao lớn, mạnh mẽ, nhất lại
nghe lách cách cái vỏ kiếm chàng đeo bên sườn đập vào ngưỡng cửa, người chủ
hàng cơm hốt hoảng chạy ra khúm núm chào và lễ phép hỏi:
– Bẩm quan lớn truyền . . . ?
– Sắp rượn làm một con gà nhắm. Đoạn ra giắt ngựa vào tầu cho nó ăn thóc.
– Dạ.
Bốn người ngồi quây quần đánh tam cúc ở một cái phản bên dương mắt ngạc
nhiên, yên lặng nhìn. Người ở ngoài đường quay vào nói to bảo bọn họ, có lẽ cốt
để võ sĩ vừa tới nghe rõ :
– Lệnh trên ban xuống cho anh em mình canh phòng ở đây, các chú phải cẩn
mật, nếu vô ý để phạm nhân trốn thoát thì đầu anh em mình chẳng còn đâu!
Dứt lời, bác cai – vì bọn đó là một viên cai và bốn tên lính – trèo lên ngồi
chểm chệ trên một cái phản cao kê liền bên.
Người trẻ tuổi mới đến tò mò đưa mắt quanh phòng rồi mỉm cười hỏi bọn lính:
– Này các chú, có xảy ra việc gì mà việc canh phòng cẩn mật thế?
Một người lính trỏ lên cái bảng cũng giống cái bảng treo ở ngoài cửa mà nói
răng:
– Đọc đó sẽ hiểu.

Trong khi người khách lạ đứng lên cái ghế đẩu vuông để xem bảng, thì viên
cai và mấy chú lính nháy nhau thì thầm:
– Khả nghi?
– Đề phòng?
– Tôi hỏi tín bài hắn nhé?
– Hãy thong thả. Nhưng phải luôn luôn để ý đến hắn. Mà khí giới để đâu cả?
– Để cả dưới gầm phản.
– Đeo dao ngay vào thắt lưng. Còn mã tấu, đoản kích thì của người nào, người
ấy đặt ngay bên mìn để phòng biến. Mà se sẽ chứ chẳng hắn biết. Nghe chừng hắn
ta cũng không phải tay vừa đâu.
Người trẻ tuổi vẫn đứng trên ghế lẩm nhẩm đọc:

“Quan trấn thủ trấn Kinh Bắc Nguyễn Mỗ có lời yết thị như sau này:
“Từ khi đức Thái tổ Võ Hoàng đế đánh đuổi quân Tôn SĩNghị chạy như đàn
chuột về Tàu, và trừ tiệt giặc giã quấy nhiễu trong nước, thì trăm họ đều đươc an
cư lạc nghiệp. Nhưng gần đây một tên ngông cuồng dấy loạn để làm rối cuộc thái
bình, nhân dân đầu ghét, đều oán coi như kẻ thù chung. Tên ấy là Nguyễn Đoàn
người hạt Từ Sơn. Than ôi! Lưới trời tránh sao cho thoát, nhờ oai hoàng đế, bản
chức đã bắt sống đươc tên phản quốc và đã hành hình nó rồi. Song dư đảng bọn
giặc còn luẩn quẩn vùng này, mà trong bọn có một tên rất nguy hiể ưm ấy là tên
Phạm Thái tức Phạm Phụng con tên nghịch tặc Thạch Trung Hầu, quán thôn Yên
thi xã Yên Thượng, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn.
“Phạm Thái vào trạc hai mươi tuổi, người vừa tầm, nhưng rất khỏe, rất giỏi
võ Dưới đây có phác bức hình, hoạ theo những lời trình bày của các thám tử. . .
ai bắt sống đươc Phạm Thái sẽ thưởng tiền một nghìn quan. Ai giết chết hắn
sẽ thưởng tiền năm trăm quan.
“Nhận đươc giấy yết thị nầy, các viên phân tri phải dán ở các ngã ba cùng cá
tửu quán có đông người lai vãng. Lại cho lính ngày đêm canh phóng ở các nơi mà
quân gian có thể tụ họp đươc.
“Niên hiệu Cảnh Thịnh, Năm thứ năm, tháng chạp, . ngày mồng ba “.

Ở một góc bảng, có vẽ rất sơ sài diện mạo một người đàn ông và chua mấy
hàng chữ sau này:
“Mặt trái soan, miệng rộng, mắt hơi xếch lông mi rậm, tai to, có một nốt ruồi
ở sau tai bên phải “

 

***

Chàng trẻ tuổi bỗng nhiên cất tiếng cười vang. Bọn lính cơ ngạc nhiên nhìn
nhau, rồi một người mạnh bạo hỏi:
– Cớ sao đọc tờ yết thị của quan trấn thủ, nhà ngươi lại dám chế nhạo?
Chàng kia quay lại đáp:
– Không, ta có chế nhạo ai đâu? Ta chỉ tức cười chết đi vì câu: “Có một nốt
ruồi sau tai phải”. Thiết tưởng nếu tráng sĩ Phạm Thái là người rất khoẻ, rất giỏi
võ như tờ yết thị đã nói, thì còn ai dám đến gần vạch tai hắn ra mà xem nốt ruồi?
Thành thử câu chỉ thị đó thực là thừa.
Dứt lời, chàng lại cười, lấy làm thích chí lắm:
– Trời ơi? Sao không chua: Phạm Thái có cái mũi ở giữa mặt, có cái cằm ở
dưới mũi, có phải dễ nhận hơn không?
Viên cai đứng dậy quát:
– Anh không được hỗn xược với quan trấn thủ?
Chàng trẻ tuổi vờ nhún nhường đấu dịu:
– Sao chú vội giận thế? Nào tôi có hỗn xược gì đâu? chẳng qua bàn một câu
cho vui đấy thôi chứ.
Vừa nói chàng vừa bước xuống đất, rồi như quên hẳn câu chuyện vừa xảy ra,
chàng gọi:
– Chủ quán?
– Dạ.
Một người to béo mặc áo cánh bông, đầu chít chéo vuông khăn nhuộm nâu,
nặng nề đi lại gần, chắp tay chờ lệnh.
– Chủ mi đâu?
– Bẩm quan lớn? Chủ con đương làm nhắm hầu quan lớn.
– Sao rượn ta gọi từ nãy vẫn chưa đem ra?
– Bẩm, con, tưởng còn chờ nhắm.
– Cứ đem rượn ra trước đã.
– Bẩm có hâm nóng không?
– Không cần. Mau lên?
– Dạ? Nhưng ngài sơi rượn gì?
– Rượn Cúc? Mau?
– Dạ?

Tức thì tên hầu rượn vào buồng lấy ra đặt lên bàn một cái nậm và một cái chén
vại mà hỏi :
– Bẩm công tử ngổi giường hay ngồi bàn?
– Ngồi bàn được rồi. Mà sao đèn lù mù thế nầy. Chặp ba sợi bấc vào, rồi đi lấy
thêm dầu rót cho đầy bát.
– Dạ.
Chàng trẻ tuổi uống luôn ba chén rượn đầy, chép miệng liếm môi chau mày
nói lớn:
– Hừ? Rượn thằng cha pha nước lã nhiều quá, uống chẳng mùi mằn gì? .. Quán?
– Dạ.
Tên hầu sợ hãi bước tới, vì hắn đã nghe rõ lời chê bai của ông khách. Nhưng
ông khách ôn tồn hỏi:
– Có mực không?
Tên kia vui mừng đáp:
– Bẩm công tử, có mực Bắc Hải ngon lắm.
– Vậy đi sắp cho ta cái hỏa lò than hồng với lại đem lên đây mươi con mực.
Một lát sau, mùi mực nướng thơm phức bay khắp gian phòng. Và ông khách
đã dùng đến nậm rượn thứ ba.

Viên cai bắm bọn lính ra hiệu thì thầm:
– Thằng nầy tôi xem chừng có lẽ là Phạm Thái. Mặt trái soan thì đích rồi. Lông
mày tuy không rậm nhưng không thưa. Còn miệng hắn như thế cũng có thể cho là
rộng được.
– Vâng, có lẽ đích rồi.
– Giá bây giờ ai lén đến sau lưng lật trái tai hắn ta lên xem có nốt ruồi không,
thì mới biết chắc chắn được.
Mọi người im lặng nhìn nhau, có ý lo sợ. Viên cai ngẫm nghĩ rồi lại nói:
– Các chú ạ, ta nói phải dùng mưu… Thế này này: Bây giờ ta nói phỉnh cho nó
uống thật nhiều rượn. Khi nào nó say mềm, ta chỉ việc trói gô lại là xong.
– Nhỡ nó không phải Phạm Thái.
– Thì thả nói ra.
– Vậy được rồi

Người trẻ tuổi thấy bọn kia ở ngoài đi vào, nét mặt ai nấy có vẽ bí mật, thì vui
cười hỏi:
– Các chú đi tìm Phạm Thái về đấy à?
Viên cai cơ đáp:
– Phạm Thái hắn ẩn núp ở nơi rừng rú, chứ dám bén mảng về đây.
– Phải, hắn ta dại gì mà về đây để người ta bắt.
Nói dút câu, chàng thích chí cười khanh khách. Rồi chàng nâng chén rượn nốc
một hơi cạn. Viên cai tấm tắc khen:
– Giỏi thực? Tửu lượng công tử ít người sánh kịp. Thưa công tử, công tử uống
nổi mấy nậm?
– Cái đó tùy? Rượn ngon thì mười nậm cũng là ít. Chứ rượn thằng cha này nhạt
thếch uống chán phè. Nhưng kìa, sao các chú không uống rượn với tôi?
Nghe người ta gọi mãi mình bằng chú, viên cai căm tức muốn sinh sự ngay,
nhưng lại nghĩ đến mưu sâu đã sắp thành, nên cố nén lòng nhẫn nại và phỉnh thêm
một câu:
– Vâng, rượn này chỉ bọn anh em chúng tôi uống, chứ công tử thì phải sơi
những thứ rượn hoàng cúc, thanh mai, hay ngũ da bì chính hiệu kia.
Chàng tuổi trẻ cười:
– Nhưng thôi, các chú ạ, người quân tử không nên nghĩ đến cái ăn, cái uống tha
thiết quá Tối nay ta có thứ rượn cúc khổ này của anh quán khổ thì ta hãy tạm
thích nó vậy.
– Dạ, ngài nói phải lắm.
– vậy bây giờ tôi mừng các chú mỗi người một chén để các chú tỉnh ngủ mà
canh phòng nhé?
– Dạ, đa tạ công tử.

Chàng tuổi trẻ liền đập mạnh cái nậm thiếc xuống bàn gọi:
– Bớ quán?
– Dạ.
– Lấy thật nhiều rượn ra đây để ta thết lính nhà vua.
– Dạ.
Tức thì chủ quán mang ra đặt lên bàn năm cái chén lớn và một cái bình thiếc to
gần bằng cái hũ… Chàng trẻ tuổi quay về phía bọn lính:
– Các chú lại cả đây cùng uống cho vui.
– Dạ, chúng tôi không dám.
– Thì cứ dám đi mà?

Vừa nói, chàng vừa rót sáu chén rượn đầy. Lúc bấy giờ có lẽ đã cuối giờ Tuất.
Phố phủ im vắng. Chỉ thỉnh thoảng có tiếng trống trong phủ và tiếng mõ ở các
điếm cầm canh mà thôi. Bọn lính thì thầm bảo nhau:
– Ta cứ lại xem sao.
– Nhớ mời nó uống thật say nhé?
– Mà đừng quên dao đấy.
Chàng trẻ tuổi cười, nói:
– Có thế mà cứ bàn tính mãi.
– Dạ, chúng tôi xin lại đây.
Sáu người vừa uống cạn chén thì phía ngoài có tiếng gọi. Chủ quán ra mở cửa.

Một nhà sư khoác tấm mền ướt màu nâu cúi đầu chào:
– A-di đà phật?
– A-di đà phật?
Nhà sư đi thẳng vào một góc phòng ngồi xếp bằng trê phản, miệng lâm râm
như đọc kinh. Viên cai hỏi chàng tuổi trẻ:
– Chẳng hay nhà sư có biết uống rượn không nhỉ?
– Sao lại không?
– Nhưng chúng tôi chưa chúc mừng công tử chén nào.
Vừa nói vừa rót đầy chén rượn năng lên mời:
– xin chúc công tử vạn sự như ý.
Lần lượt năm người mời chàng tuổi trẻ luôn năm chén. Thấy chàng uống rượn
như uống nước lã, bọn lính đưa mắt nhìn nhau. Rồi một người nói:
– Bây giờ ta chúc thọ thiên tử một chén.
Chàng tuổi trẻ đáp:
– Ư, thì chúc thọ thiên tử. Nhưng con gà của ta nó đã mang lên kia.

Uống cạn chén rượn chúc thọ thiên tử, chàng tuổi trẻ lại bàn uống một chén đẻ
mừng cho linh hồn con gà thiến đã được siêu tục qui tiên. Rồi lần lần họ chúc thọ
quan Thái sư Bùi đắc Tuyên, quan Thái uý Phan Côn Hưng, quan Đại tư khấu
Trần Quang Riệu, quan Đại tư mã Ngô Văn Sở, quan trấn thủ, quan phân tri. Khi
chúc thọ đén chủ quán thì chàng tuổi trẻ đã say mèm, mặt đỏ gay, đầu lảo đảo lười
cứng đờ, nói díu lại không ra câu nữa.
– Này các… chú… nhắm đi chứ… rồi ta còn chúc thọ… nhiều… ử? Sao các chú
không . . . chúc thọ tôi . . .
– Dạ, vậy xin công tử cho biết quý tính phương danh.
– Quý… tính phương danh à? Tên ta… à… ? Ta là Ngang… tàng công tử… Lê
Báo… người trấn SơnNam.

Bọn lính đưa mắt phân trần thầm với nhau rằng đó là một câu nói dối. Nhưng
viên cai cũng vờ nâng chén rượn chúc tụng:
– Ngang tàng công tử Lê Báo thiên tuế?
Cả sáu người giốc cạn chén rồi cùng cất tiếng cười vang. Ngó thấy nhà sư vẫn
ngồi ở cái phản đầu bên kia, co ro, ủ rủ trong chiếc mền nâu, có vẻ rét mướt ốm
yếu lắm, một chú lính đã hơi chuếnh choáng mời đùa:
– Sư cụ sơi rượn
Nhà sư có dáng sợ hãi, chắp tay se sẽ đáp:
– Xin mời các thầy, bần tăng không dám.

Nhưng lúc bấy giờ, chàng tuổi trẻ càng say lắm, không nghĩ đến giữ gìn nữa,
bạ câu gì nói câu ấy. Nhân bàn chuyện đến quan trấn thủ và quan phân tri, chàng
vừa cười vừa mắng:
– Dốt? dốt tệ!
Chừng đã muốn dở mặt, người cai sừng sộ hỏi lại:
– Công tử bảo ai dốt?
– Dốt? Dốt… cả… lủ.
– Nhưng ai dốt mới được chứ?
Như không nghe rõ câu hỏi, chàng kia nói luôn:
– Hừ? Không dốt… mà lại phải dùng.. chữ nôm. Đời thuở nhà ai… lại yết… thị…
bằng chữ nôm… bao giờ không… Cha mách qué… Đồ mách qué?
Người cai sấn đến tận mặt:
– Anh này bảo ai là đồ máchy qué? Anh phải biết tiên đế đã xuống chỉ cấm tiệt
chữ Ngô… Thi cữ, tờ bối dùng toàn tiếng, toàn chữ nước nhà… Tiên đế làm thế là
để gây lấy một thứ chữ riêng cho người mình, sao lại dám ngạo mạn, khi quân…

Chàng trẻ tuổi cười phì cả rượn ra:
– Tiên đế… các… chú à?
– Của cả nước Nam, chứ của riêng gì ai?
Chàng kia lại cười:
– Không… phải… của… ta… Ta chỉ biết… có nhà Lê.
Tức thì viên cai hô lớn một tiếng, bốn tên lính rút cả dao ra chĩa vào mặt chàng
tuổi trẻ
Chàng chợt hiểu, đứng dậy lùi lại mấy bước, rút gươm ra đối địch. Nhưng vì
chàng say quá, chân tay run lẩy bẩy, vừa bị viên cai đẩy mạnh cái bàn vào người
đã ngã quay ra. Bọn lính cười ầm lên xúm lại toan trói, thì một tiếng hét sau lưng
khiến mọi người kinh hoảng:

 

– Bay? Không được vô lễ với công tử.

Nhà sư lù rù ban nãy tung cái mền nâu xuống phản đã vụt trở nên võ sĩ lẫm liệt
oai phong, tay cầm kiếm xông vào. Bọn lính liền bỏ chàng say rượn quay lại
chống cự với nhà sư. Nhưng chống cự sao nổi? Lưỡi kiếm đi đến đâu, máu chảy
đến đấy, chỉ trong khoảnh khắc, năm cái thây đã nằm ngổn ngang dưới đất.

Nhà sư liền giơ kiếm vụt mạnh một cái vào cây đèn dầu lạc cho tắt, rồi xốc
chàng trẻ tuổi sau rượn cắp nách ra sân sau vào tàu giắt ngựa, nhảy vót lên yên
trông thẳng phía tây bắc, phi nước đại.

 

 

 

Khái Hưng, cuộc đời và tác phẩm

trong bối cảnh lịch sử văn học Việt Nam

Lê Quang Thông

 

 

Bài nói chuyện trong dịp kỷ niệm trăm năm sinh nhà văn Khái Hưng (1897-1996) tại

Offenbacham Main, Đức quốc, ngày 21-12-1996.

 

1. Mở đầu

 

Trong sự hiểu biết có chừng mực về văn chương, và với một số tài liệu có được, tôi xin cùng quý vị ôn lại hai giai đoạn lịch sử của đất nước: giai đoạn 1913-1932 và giai đoạn 1932-1947, nghĩa là lấy năm 1932, năm Khái Hưng cùng Nhất Linh bắt đầu hoạt động mạnh trên tờ Phong Hóa làm mốc thời gian; tôi xin kể sơ chuyện 19 năm trước đó, và phần chính chuyện 15 năm sau đó.

Chuyện 19 năm trước 1932 sẽ cho chúng ta một cái nhìn khái quát về tình hình sinh hoạt văn học nước nhà trước khi Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ) ra đời.

Chuyện 15 năm sau 1932 sẽ nói về những hoạt động của Khái Hưng và TLVĐ có thể xem như là cuộc vận động cách mạng văn hóa xã hội, có ảnh hưởng rất sâu rộng vào thời đó, mà dấu ấn vẫn còn đến bây giờ, dù rằng trong suốt 30 năm (1945-1975), một nửa phần đất nước cố tình bôi xóa hay không nhắc đến. Cho mãi tới năm 1994 nhà xuất bản Khoa học Xã Hội -Hà Nội- mới được phép in bộ Văn xuôi lãng mạn Việt nam (1930-1945), gồm ba tập, mỗi tập in 2000 cuốn; tất cả có 15 truyện của các nhà văn trong TLVĐ và các nhà văn khác cùng thời. Lời nhà xuất bản Khoa học Xã Hội, cũng như bài giới thiệu của Nguyễn Hoành Khung, nêu lý do việc đánh giá dòng văn học lãng mạn 1930-1945, do tinh thần đổi mới của Nghị quyết Đại hội VI của đảng CSVN; đồng thời giải thích thái độ, mà họ gọi là, nghiêm khắc, bất công, hẹp hòi, cứng nhắc … đối với TLVĐ.

 

2. Giai đoạn 1913-1932

 

Những phong trào vũ trang kháng Pháp lần lượt tan rã vào những năm cuối thế kỷ 19.

Phan Đình Phùng mất ở Hà Tĩnh năm 1895, Nguyễn Thiện Thuật bỏ Bãi Sậy sang Tàu 1897, và cũng năm đó Hoàng Hoa Thám hạ khí giới ở Nhã Nam.

Đối với tầng lớp sĩ phu có trách nhiệm với sự hưng vong của đất nước, chân lý mạnh thắng yếu thua quá rõ ràng. Muốn mạnh thì phải canh tân xã hội và học thuật theo gương các nước Tây phương. Đó là nguyên do các phong trào duy tân khởi lên đầu tiên ở nước ta.

Phong trào Đông kinh Nghĩa thục kéo dài có ba năm ngắn ngủi. Từ lúc dấy lên (1905), đến lúc bị Pháp bắt đày đi Côn đảo (1908), các cụ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Châu Trinh đã làm được các việc cụ thể: truyền bá Quốc ngữ, dạy các kiến thức phổ thông theo tây học, bỏ quốc phục mặc âu phục, hớt tóc ngắn, đề cao những nghề nghiệp thực dụng như khai đồn điền, mở hội buôn, làm công nghệ.

Cơn gió duy tân hối thúc xã hội ViệtNamthời đó chuyển mình. Năm 1913 Đông Dương Tạp Chí do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương ra đời, và năm 1917 Nam Phong Tạp Chí của Phạm Quỳnh xuất hiện. Hai tờ báo này đều sống được 17 năm, và ảnh hưởng rất lớn vào suy nghĩ và cách sống của dân tộc ta thời bấy giờ.

 

Đông Dương Tạp Chí (Tân nam tử Nguyễn Văn Vĩnh)

Nguyễn Văn Vĩnh được mệnh danh là “Thủy tổ nhà báo xứ sở.” Ông bắt đầu ra tờ ĐạiNam Đăng Cổ Tùng Báo sau khi đi Pháp dự hội chợ đấu xảo (foire d’ exposition) Marseille về. Sau đó ông liên tiếp chủ trương nhiều tờ báo, mà nổi bật là ĐDTC. Lập trường ông có thể gom vào các điểm sau:

– thù phong kiến, chống thực dân

– đả đảo Hán học, ông gọi là ‘cái hàng rào cản bước văn minh’

– tuyên truyền văn minh Âu Tây

– chống phong trào Đông Du, chống bạo lực.

Về văn học, ông đứng ra mở đường cho văn học mới:

– tranh đấu cho việc truyền bá Quốc ngữ

– đem vào hoạt động xã hội ta nhà in và tờ báo, hai khí cụ giúp ông xây dựng văn học mới, mở đường cho một lớp nhà văn, nhà báo với tư tưởng mới như TLVĐ, Tam Lang, Nguyễn Công Hoan, Vũ Đình Long … sau này.

Nguyễn Văn Vĩnh là một con người chịu chơi dưới mắt thanh niên trí thức Hà Nội thời bấy giờ. Ông mặc âu phục trắng, đội mũ thuộc địa trắng, đi mô tô, 26 tuổi ông đã làm Hội viên Hội đồng thành phố Hà Nội. Ông hoạt động công khai chống chế độ thực dân thuộc địa và chế độ bảo hộ. Chủ trương xây dựng Bắc và Trung kỳ theo kiểu trực trị (administration directe), nghĩa là dẹp bỏ ngôi vua và để Pháp cai trị với sự tham gia hành chánh của nhân dân do Thượng, Hạ nghị viện từ nhân dân bầu cử. Ông bày tỏ rõ ràng nguyện vọng Âu hóa, khinh bỉ phong tục hủ lậu mê tín của dân mình qua các loạt bài: Xét Tật Mình, Nhời Đàn Bà, Hương Sơn Hành Trình đăng trên ĐDTC. Ở bài Hương Sơn Hành Trình ông đả kích Hội Chùa Hương và vô tích sự, chỉ đụng đầu với cái ngớ ngẩn của đám mê tín. Điểm lý thú là con ông, thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, lại nổi tiếng qua bài thơ Đi Chùa Hương, mà Trần Văn Khê đã phổ nhạc. Ông mất năm 1936 lúc cùng với Cléminti, chủ tờ báo L’ Argus Indochinois, đi tìm vàng ở Lào. Linh cửu được đưa về Hà Nội và được sự đón rước của cả mấy chục ngàn người.

 

Nam Phong Tạp Chí (Thượng Chi Phạm Quỳnh)

NPTC ra liên tục trong 17 năm (1917-1934) được 210 số, nguyên là một tờ báo do Phủ Toàn Quyền chủ trương, chống lại tuyên truyền của Đức ở Viễn Đông.

Người chủ trương là Louis Marty, phụ tá Trưởng phòng Chính trị Phủ Toàn Quyền. Ông ta đọc và nói tiếng Tàu như một nhà nho Tàu, rành tiếng Việt. Marty sáng lập ra tờ Âu Châu Chiến Sử, báo chữ Hán, tiền nhân của NPTC. Marty lập hội Khai Trí Tiến Đức. Tờ NPTC ghi ở trang đầu: L’ Informatuion francaise – LaFrancedevant le monde – Son rôle dans la guerre des nations.

Khi Phạm Quỳnh được Pháp giao cho làm tờ báo, ông chủ trương ‘lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ Quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu tây’. Về lập trường ông là một người bảo thủ, chủ trương gìn giữ quốc hồn, quốc túy. Về văn học, ông đặt nặng việc xây dựng văn hóa quốc gia, thâu thập vật liệu âu tây cho sự tiến hóa của nước nhà, nhưng không đánh mất bản sắc dân tộc.

Năm 1922, ông diễn thuyết mấy đề tài sau ở Paris: Sự tiến hóa của người Việt Namtừ khi Pháp đặt bảo hộ, Thi ca Việt Nam, Một vấn đề dân tộc giáo dục … gây được nhiều tiếng vang trong giới trí thức Pháp. Báo chí Pháp đã so sánh lối diễn tả bằng Pháp văn của ông khúc triết, thâm thúy cỡ các bậc Hàn lâm Pháp thời đó như Emile Bourtroux hay Jules Lemaitre. Đoạn trích dẫn sau đây cho thấy lập trường của ông: “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một quyển sách đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những giòng chữ cũ được. Vấn đề là phải giáo dục người VN thế nào cho vừa truyền được cái học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi làm cho chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi đi, làm thành ra một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy cái thuộc địa cổ của người Pháp kia …”

Ông mở khoa Ngôn ngữ và Văn chương Hán Việt ở trường Cao đẳng Hà nội, tiền thân của Đại học Văn khoa sau này. Ông tổ chức kỷ niệm ngày húy Nguyễn Du ở Hà nội năm 1924 có hai ngàn người tham dự.

Phạm Quỳnh luôn luôn mặc quốc phục, áo dài the đoạn hoặc satin, mang giày escarpin, đầu chít khăn đóng kể cả lúc diễn thuyết ởParis. Tháng 3-1932 vua Bảo Đại hồi loan, Phạm Quỳnh được mời làm Ngự tiền văn phòng Đổng lý, sau đó làm Thượng thư bộ Giáo Dục. Tháng 8-1945 ông bị Việt Minh thủ tiêu ở Huế.

 

Tóm lại giai đoạn 19 năm trước 1932, hai nhân vật Nguyễn văn Vĩnh và Phạm Quỳnh với hai tờ báo ĐDTC và NPTC đã thành công trong việc xoay chuyển nhận thức của dân chúng nước ta, tiếp tục tư tưởng duy tân, âu hóa; đưa nền văn chương quốc ngữ bước những bước vững vàng. Có thể nói công chúng không những đọc báo mà còn học rất nhiều ở báo. Vũ Ngọc Phan trong tập ‘Nhà văn hiện đại’ nhận định NPTC là một tờ bách khoa toàn thư vào thời đó. Những văn thi sĩ khác có nhiều đóng góp vào thời kỳ này còn có Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác, Đông Hồ, Tương Phố, Tản Đà, Nguyễn Trọng Thuật, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách …

Hoàng Ngọc Phách cho xuất bản tiểu thuyết Tố Tâm năm 1925. Chuyện có năm hồi, thuật lại mối tình của một sinh viên ban văn chương trường Cao đẳng Sư phạm tên là Đạm Thủy với Tố Tâm, con bà Án, góa phụ hưu quan, có tiệm tơ lụa ở Hà Nội. Đạm Thủy đã được cha mẹ đính hôn trước và không có can đảm chống lại quyết định của gia đình nên tỏ ý cho Tố Tâm hay. Nhưng Tố Tâm chủ trương yêu để mà yêu vẫn hăng say đi tới. Về sau khi bà Án đau nặng, nằn nì con chấp thuận lấy một cậu Tú; Tố Tâm vì chữ hiếu nghe theo nhưng đau đớn vĩnh biệt với Đạm Thủy, rầu rĩ nhuốm bệnh thổ huyết mà chết, để lại cho Đạm Thủy cuốn nhật ký, ghi lại những ngày cuối của nàng: Rồi đây sau khi hương tàn khói tỏa, có lúc nào anh qua chỗ em an giấc ngàn năm, nhờ anh đề hộ vào gốc cây tảng đá hay bức tường mấy chữ rằng: ‘Đây là mồ một người bạc mệnh chết vì hai chữ ái tình.’ Đạm Thủy sau cái chết của Tố Tâm, đau tim phải về đồn điền của người anh an dưỡng với vết thương lòng.

Tố Tâm là một biến cố văn học, đã đáp ứng đúng vào tâm hồn sầu lụy của con người vào thời đại ấy. “Sau cơn vong quốc, hàng ngũ trí thức sĩ phu tan rã, lớp đi kháng Pháp tuẫn tiết lưu vong, lớp ra hợp tác với Pháp vì danh lợi, lớp lấy hoạt động văn hóa làm con đường thoát. Người mạnh về lý trí theo Phạm Quỳnh lao đầu vào sự nghiệp học thuât. Nhưng người giàu tình cảm không khỏi thấy sự trống rỗng ghê gớm trong lòng. Buồn mất nước, buồn nề nếp cũ đổ rơi, giá trị cũ suy tàn. Buồn thất thời thất thế, buồn trơ trọi bơ vơ. Cái buồn ấy từ bậc thức giả lan tràn ra khắp xã hội. Người ta muốn quên, muốn được an ủi. Văn học mới đã đem lại một thức ăn thích hợp, một đường lối đào vong là tiểu thuyết. Nhất là tiểu thuyết bi tình trong đó có nhớ thương, có thất vọng, có chết chóc, để người ta có thể rung động thổn thức, nhỏ lệ.” Đó là nhận định của ông Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên.

Ngoài ra trước năm 1932 còn có những thay đổi quan trọng trong xã hội: năm 1930 ra đời khóa đầu tiên của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương với Lê Phổ, Lê Thị Lựu, Võ Cao Đàm, …; phong trào thao diễn quần vợt từ Nam ra Bắc của đội Chim Giao; phong trào phụ nữ đi bộ Hà Nội – Đồ Sơn 120 km …

 

Cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Nguyễn Thái Học thất bại (1930), và sự đàn áp thẳng tay của nhà cầm quyền Pháp gieo một không khí hoang mang kinh sợ hay buồn bã hoài nghi khắp nơi. Vì thế để trấn an, Pháp cho tổ chức nhiều hội chợ từ thiện từ Sài Gòn ra Hà Nội để dân chúng vui chơi, quên đi những lo âu chính trị.

Công tử Hà Nội ăn mặc đúng mốt Ba lê, tay cầm yo yo tiến vào các chợ phiên, tung confetti, serpentin lên đầu các thiếu nữ tân thời, và cười đùa hả hê, hoặc xách can về các hội Lim, hội chùa Hương, hội đền Hùng tìm những thôn nữ mộc mạc để tán hươu tán vượn. Nhóm thanh niên du học ở Pháp về, gọi là Retour de France, gây ra phong trào yêu tiếng hát của Tino Rossi qua các bài J’ ai deux amours, mon pays et Paris, Je t’aimerai toujours … Trong đám Retour de France có Nguyễn Mạnh Tường, 22 tuổi đỗ Tiến sĩ Luật và Văn khoa. Luận án Luật của ông là ‘ Quyền cá thể trong xã hội Việt Nam. Khảo cứu tổng thể về bộ Luật đời Lê.’ Ông Tường lúc đầu được Cộng Sản tin dùng, sau đó bị cô lập và sống nghèo đói ở Hà Nội. Ông muốn sửa xe đạp trên vỉa hè để làm kế sinh nhai nhưng: ‘điều bất hạnh là kiến thức của tôi về văn chương và ngôn ngữ triệt phế hết mọi khả năng trước một chiếc xe đạp như kẻ hoạn quan trước một người đàn bà trần truồng,’ như ông viết trong cuốn Un Excommunié, bản tiếng Pháp, Quê Mẹ xuất bản 1991.

Trong hoàn cảnh xã hội như vậy, tờ báo Phong Hóa đổi mới và Tự Lực Văn Đoàn ra đời.

 

3. Giai đoạn 1932-1947

 

Tờ Phong Hóa trước khi Nhất Linh, Khái Hưng chủ biên đã ra được 13 số do ông Phạm Hữu Ninh, người sáng lập trường Thăng Long làm quản lý. Ngày 22-9-1932 sau khi điều đình với ông Ninh, Nhất Linh làm số 14 Phong Hóa đổi mới với sự cộng tác của Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ …

Những người cùng tâm chí gắn chặt với nhau để thực hiện hoài bão cải tạo xã hội, bước những bước cụ thể:

– 1932 làm tờ Phong Hóa

– 1933 thành lập Tự Lực Văn Đoàn

– 1940 lập đảng Hưng Việt, còn gọi là Đại Việt Dân Chính.

Tên gọi Tự Lực có nghĩa là tự sức mình gây lấy cơ sở chứ không nhờ cậy vào chính phủ hoặc một thế lực tài chánh nào; do đó có tư cách độc lập, không tuân theo một chỉ thị nào, ngoài đường lối chính họ tự vạch ra. Phong Hóa ra liên tục từ 1932 đến 1936, chỉ có đóng cửa ba tháng năm 1935 vì đả kích Hoàng Trọng Phu.

 

Ngày Nay ra đời năm 1934 song song với Phong Hóa. Sau 13 số thì tự đình bản để dồn nỗ lực vào Phong Hóa, rồi tiếp tục khi Phong Hóa bị đóng cửa cho đến 1940. Nhà xuất bản Đời Nay ra đời 1932, có năm in đến 54 ngàn cuốn tiểu thuyết.

Phong Hóa số 14 ra đời trúng khẩu vị độc giả. Số in từ 3 ngàn vụt lên 10 ngàn số. Sẵn đà, họ tính chuyện hoạt động lâu dài và thành lập TLVĐ.

TLVĐ lúc thành lập có bảy người với ý nghĩa hội Thất tinh (la pleiade, die Plejade, das Siebengestirn, chòm sao Rua) với:

– Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

– Khái Hưng Trần Khánh Giư

– Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu

– Thế Lữ Nguyễn Thứ Lễ

– Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long

– Thạch Lam Nguyễn Tường Lân

– Nguyễn Gia Trí, họa sĩ

 

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Thân sinh ông là cụ Trần Mỹ, tuần phủ Phú Thọ. Ông có một người anh trai, hai người em trai và một trong hai người em này là nhà văn Trần Tiêu. Ông là con rễ cụ Lê Văn Đính, Tổng Đốc Bắc Ninh.

Theo nhiều tài liệu, vợ ông là một người đàn bà rất đảm đang, vẫn nhuộm răng đen trong khi chồng theo tây học, có cốt cách con nhà nho phong. Ông sống sung túc, gia đình êm ấm. Có thể do đó mà Khái Hưng viết truyện với văn phong nhẹ nhàng êm ái chăng? Các nhà văn khác như Vũ Trọng Phụng, nhà nghèo, ít khi cười, viết văn luôn luôn mỉa mai, chua xót. Hay Phan Khôi, người Điện Bàn, QuảngNam, dân nổi tiếng lý sự nên viết móc, viết xỏ xiên rất thâm, rất hay. Ví dụ giai thoại Phan Khôi dịch chữ Pomme de terre là khoai nhạc ngựa, từ chữ Hán Mã linh thư, để trêu thái độ trọng Trung Cộng của cán bộ cộng sản. Trong tập Nắng Chiều không được xuất bản, viết về cây cộng sản (herbe communiste) hay cỏ cụ Hồ, ông lại gọi là cỏ bù xít, cây cứt lợn hay cây chó đẻ.

Hồi nhỏ ông học chữ Hán, sau chuyển sang Tây học, đậu Tú tài Pháp tại trường Albert Sarraut, Hà Nội năm 20 tuổi. Ông dạy học ở trường tư thục Thăng Long, viết cho tờ Văn học của anh em ông Dương Bá Trạc, Dương Tự Quán, làm Chủ bút tờ Phong Hóa của ông Phạm Hữu Ninh. Đến năm 1932 gặp Nhất Linh cùng làm tờ Phong Hóa đổi mới, lúc đó ông đã 36 tuổi (hơn Nhất Linh 10 tuổi) và là người cao niên nhất trong nhóm. Khái Hưng là do lối chiết tự (anagramme) từ tên Khánh Giư mà ra. Lúc đi dạy ở trường Thăng Long, ông nổi tiếng là một ông thầy duyên dáng.

Người gầy ốm, đôi má hơi cóp và nước da hơi tái nhưng nụ cười rất tươi. Nụ cười ngụ nét hóm hỉnh, nhưng hiền hòa khả ái, chứ không hời hợt đãi bôi như Thế Lữ và không trào lộng như Nguyễn Tường Tam. Khái Hưng cũng không tự kiêu tự đắc, tính điềm và tao nhã. Tuy ở chung một tòa soạn, nhưng Khái Hưng không thích chơi với Thế Lữ. Trái lại Khái Hưng thân với Nguyễn Tường Tam và Tú Mỡ. Anh ít nói, tính điềm đạm nhưng thỉnh thoảng khôi hài đôi chút, và không làm mích lòng ai. Trong nhóm Phong Hóa anh là người được đa số nhà văn mến nhất (Văn Thi Sĩ Tiền Chiến, Nguyễn Vỹ, Khai Trí Sài Gòn 1969).

 

Lúc đó ở Hà Nội ngoài nhóm TLVĐ còn có nhóm Hàn Thuyên, với tờ Xuân Mới, do Nguyễn Đức Quỳnh và Trương Tửu chủ trương, sở trường về biên khảo với khuynh hướng Đệ tứ cộng sản. Sau một vài năm có nhóm Xuân Thu Nhã Tập với tờ Tinh Hoa do Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh cầm đầu. Những nhóm này không ưa gì nhau, nhưng đặc biệt xuyên qua các hồi ký, nhận định của các nhà văn tiền chiến, Khái Hưng chiếm được cảm tình trọn vẹn của hầu hết văn thi sĩ thời đó.

Trương Tửu trong nhóm Hàn Thuyên viết: TLVĐ là sản phẩm xì hơi cách mạng bằng phương tiện văn chương do linh mục Cras (Đỗ Minh Vọng) đỡ đầu. Linh mục này sau làm Bí thư cho Toàn quyền Decoux. Trương Tửu đả kích lối cách mạng xa lông của TLVĐ.

Năm 1940, Khái Hưng và Nguyễn Tường Tam lập đảng Đại Việt Dân Chính (có tài liệu ghi là Hưng Việt). Khái Hưng làm Đảng trưởng. Đảng có khuynh hướng dựa vào Nhật để chống Pháp. Năm 1941 Khái Hưng bị mật thám Pháp đưa đi giam ở Vũ Bản cùng với Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí, chỉ có Nguyễn Tường Tam trốn được sang Tàu. Năm 1943 Khái Hưng và các đồng chí bị Pháp đưa về quản thúc ở Hà Nội. Sau vụ đảo chính Nhật 1945 Khái Hưng được trả tự do và từ 05-5-1945 cùng Nguyễn Tưnờg Bách, Hoàng Đạo làm tờ Ngày Nay Kỷ nguyên mớivới sự chỉ đạo của Nguyễn Tưnờg Tam lúc bấy giờ còn ở Liễu Châu. ‘Ngày Nay Kỷ nguyên mới’ là cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau đó Nguyễn Tường Tam về làm Bộ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp Kháng chiến, thành lập ngày 02-3-1946 tại Hà nội, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Nguyễn Tường Tam làm Trưởng phái đoàn tham dự Hội nghị Đà Lạt 17-4-1946. Thời gian hợp tác Quốc Cộng kéo dài không bao lâu. Ngày 20-12-1946 Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Sau đó trong chính phủ Hồ Chí Minh cải tổ, Hoàng Minh Giám thay Nguyễn Tường Tam làm Bộ trưởng Ngoại giao. Ngày 27-12-1946 Khái Hưng bị Việt Minh bắt, giam ở trại hối thất chính trị phạm Liên khu III ở Lạc Quần, Chi Nê, Phủ Lý. Ông bị thủ tiêu ở bến đò Cựa Gà thuộc phủ Xuân Trường vào năm 1947.

Trong tập Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, cụ Hoàng Văn Chí cho biết, lúc bắt Khái Hưng ở phố Quan Thánh có cụ Phan Khôi đang tá túc trong nhà và bị bắt luôn. Nhưng cụ Phan Khôi có con là Phan Thao làm chủ nhiệm báo Cứu Quốc, và em họ là Phan Bôi, tức Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ; nên Việt Minh đem cụ lên Việt Bắc làm nhiệm vụ phiên dịch sách suốt chín năm, đến 1954.

 

Cái chết của Khái Hưng không được rõ ràng lắm. Theo Nguyễn Vỹ trong Văn Thi Sĩ Tiền Chiến, Khái Hưng bị Việt Minh quản thúc tại ngay làng ông. Nhân một buổi họp tại trụ sở Ủy ban xã, ông có làm một bài thơ tán dương Hồ Chí Minh ngụ ý châm biếm. Sau đó, ông bị một cán bộ xã thủ tiêu trên một đường làng gần nhà ông, vào khoảng nửa đêm. Tin này Nguyễn Vỹ có hỏi các nhà văn Hà Nội di cư vào Sài Gòn năm 1955 như Vũ Bằng, Tam Lang, Vi Huyền Đắc, Thượng Sĩ, … nhưng đúng hay không, không ai xác nhận được chính xác.

 

Khái Hưng để lại khoảng 20 tác phẩm, có thể liệt kê theo thứ tự thời gian sau đây:

– Hồn Bướm Mơ Tiên (1932)

– Nửa Chừng Xuân (1933)

– Tiêu Sơn Tráng Sĩ (1934)

– Trống Mái (1935)

– Gia Đình (1935)

– Thừa Tự (1936)

– Thoát Ly (1936)

– Đẹp (1940)

– Băn Khoăn (1942)

và các tập truyện ngắn:

– Tiếng Suối Reo, 33 truyện (1932-1935)

– Đội Mũ Lệch, 27 truyện (1932-1935)

– Dọc Đường Gió Bụi (1932-1935)

– Cái Ve, 13 truyện (1935-1940)

– Hạnh, 5 truyện (1935-1940)

Ngoài ra có các vở kịch như Tục Lụy, Đồng Bệnh, và một số tiểu thuyết viết chung với Nhất Linh.

 

Giai đoạn 15 năm từ 1932 đến 1947 thật sự đáng kể chỉ có tám năm với những vận động đổi mới xã hội của TLVĐ từ 1932 đến 1940.

Trong tôn chỉ của TLVĐ đăng trong báo Phong Hóa số 87 ngày 02-3-1933 có 10 điều nguyên văn như sau:

 

1. Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích để làm giàu thêm văn sản trong nước,

 

2. Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội. Chú ý làm cho người và cho xã hội ngày một hay hơn lên,

 

3. Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.

Ba điều trên đây xác nhận sự ly khai với những bận tâm học thuật quốc gia của thời kỳ Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh. Những cố gắng dung hòa học thuật Đông – Tây của Phạm Quỳnh, theo đa số giới cầm bút sau 1932, chỉ làm cho đất nước chậm tiến. Theo họ học thuật văn hóa Tây là nhất. Họkhông bận tâm đến việc đào bới quá khứ, lau chùi quốc túy, dựng lại quốc học. Phản ảnh tinh thần chung này, TLVĐ không đề cập tới công việc biên khảo, mà chỉ chú trọng tới văn học sáng tác.

 

4. Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An nam.

Lối văn này chúng ta bắt gặp trong hai tác phẩm đầu tay của Khái Hưng: Hồn Bướm Mơ Tiên và Nửa Chừng Xuân. Nguyên vào thời kỳ này có hai lối viết phổ biến, một loại văn Hán hóa của Nam Phong Tạp Chí, và một loại văn Tây hóa do Hoàng Tích Chu đề xướng trên báo Đông Tây từ năm 1931. TLVĐ đả kích cả hai lối. Trên tờ Phong Hóa số tháng 3-1933, Nhất Linh chế diễu hai đoạn văn Tàu và văn Tây như sau:

Văn Tàu: Bĩ nhân trầm tư mặc tưởng nghiên cứu thục lự về cái thâm ý đại nghĩa của nhân thế sau khi đã biện phục, đã xác tín, đã chứng cứ vào những lý thuyết của các nhà triết học cổ kim đông tây thì phải thừa nhận, phải công nhận, phải phục nhận rằng nhân thế là một gang tay là bạch câu quá khích vậy.

Văn Tây: Ta ngồi trong phòng trước một luồng không khí quay cuồng bởi cái quạt máy, dưới ánh sáng của ngọn đèn 120 nến, rồi ta ném làn nhỡn tuyến qua cửa sổ rơi đánh bịch một cái xuống con cóc ngồi tư lự bên cạnh hòn gạch. Cảm tình ta như nôn nao xoáy tận đáy cõi lòng tư tưởng ta nẩy phăng ra ngoài óc, tim ta hồi hộp muốn phá tan lồng ngực nhảy ra ngoài.

 

5. Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.

TLVĐ đem hình ảnh những lý toét, xã xệ, cụ đồ nho vóc hạc xương mai ra làm đề tài chế riễu khinh rẻ. TLVĐ đề xướng phong trào cải cách y phục phụ nữ qua chiếc áo dài Le Mur do họa sĩ Nguyễn Cát Tường vẽ kiểu. Trong văn chương chủ trương chống buồn rầu, chống thất vọng. Chuyện tình của Tố Tâm Đạm Thủy kết cục bi đát thì bây giờ chuyện tình Lan và Ngọc dẫn tới một lối thoát mới nhờ Ngọc nói: “Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình là nhân loại vũ trụ, tiểu gia đình là hai linh hồn núp dưới bóng Phật Tổ.” Hay như trong Nửa Chừng Xuân, Mai vẫn yêu đời một cách tha thiết, vui lòng hy sinh hạnh phúc mình và vẫn sống mạnh.

 

6. Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân không có tính cách trưởng giả quý phái.

 

7. Trọng tự do cá nhân

 

8. Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không còn hợp thời nữa

 

9. Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương ViệtNam.

 

10. Theo một trong chín điều này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác.

 

Theo đuổi 10 điều này trong Tôn chỉ TLVĐ, mỗi thành viên có một cách viết khác nhau, như Hoàng Đạo nặng về cải cách xã hội với các loạt bài Bùn Lầy Nước Đọng, Mười Điều Tâm Niệm cho thanh niên v.v… Nhất Linh với các tiểu thuyết luận đề Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng … Thế Lữ với những chuyện kinh dị đề cao óc khoa học như Vàng và Máu, Một Đêm Trăng …

Nhưng đặc biệt hơn cả là Khái Hưng với cách viết tiểu thuyết độc đáo của ông. Văn nghiệp của Khái Hưng là văn nghiệp tiểu thuyết.

 

Tiểu thuyết về ái tình

– Hồn Bướm Mơ Tiên, Nửa Chừng Xuân: với quan niệm cao thượng vượt ra khỏi tấn kịch đau lòng của mối tình dang dở.

– Tiêu Sơn Tráng Sĩ: yêu nhau trong sự nghiệp cách mạng giữa Trần Quang Ngọc và Nhị Nương, giữa Phạm Thái và Quỳnh Như.

– Trống Mái: ái tình thẩm mỹ. Hiền yêu Vọi, một chàng trai đánh cá có thân hình một lực sĩ, một quan niệm mới để chữa bệnh Tố Tâm, ái tình bệnh hoạn.

Ngoại lệ có hai cuốn tiểu thuyết của Khái Hưng:

– Đẹp (1940): ái tình nghệ sĩ giữa họa sĩNamvà Lan.

– Băn Khoăn (1942): hai cha con ông Thanh Đức, một nhà kinh doanh cự phú, và Cảnh, sinh viên trưnờg Luật, cùng yêu một cô gái sắc đẹp lộng lẫy. Cha muốn cưới vợ bé, con muốn chinh phục. Cô gái thì yêu cả hai người, người cha vì tiền bạc, người con vì trẻ trung.

Hai cuốn này xa rời hoàn toàn quan niệm yêu nhau trong linh hồn, thờ nhau trong lý tưởng của Hồn Bướm Mơ Tiên, của Nửa Chừng Xuân.

 

Tiểu thuyết về gia đình

Có ba tác phẩm quan trọng:

– Gia Đình (1935): chuyện kể cuộc đời ba cô con gái của một gia đình quyền quý ông bà án Báo. Hai cô con đầu lấy tri huyện, sống cuộc sống chán nản trong nghề làm quan. Chỉ có cô út Bảo, lấy Hạc, sinh viên trường thuốc, bỏ học đi làm đồn điền, sống hạnh phúc, đơn giản với ý nguyện làm cho người khác hạnh phúc.

– Thừa tự (1936): vạch ra bề trái của một gia đình quý phái, xào xáo nhau vì chuyện ăn thừa tự gia tài.

– Thoát Ly (1936): tiểu thuyết có tính cách luận đề. Thoát ly là lối chọn cái chết của Hồng để phản kháng ngục thất gia đình.

Qua các tiểu thuyết trên, cũng như toàn bộ các tập truyện ngắn, kịch của Khái Hưng, nhiều nhà phê bình văn học đồng ý những điểm chung sau:

– bố cục giản dị, khéo léo.

– tình tiết thưa ít, không có những ngoắt ngoéo ly kỳ.

– Không đưa đến có hậu như chuyện nôm xưa.

– không tả cảnh rườm rà, không bàn luận lôi thôi, lời văn giản dị, nhanh nhẹn, duyên dáng, hồn nhiên.

– khuynh hưnớg hài hước đối với nhân tình thế thái, những lố bịch xã hội, phong tục.

– lòng thương rộng rãi đến những khốn khổ và khuyết điểm của con người.

Đây chính là những điểm phân biệt ông với các nhà văn khác trong TLVĐ.

 

4. Kết luận

 

Hôm nay chúng ta có dịp cùnh nhau ôn lại hai giai đoạn lịch sử của đất nước mà đặc biệt là giai đoạn từ 1932, với những hoạt động văn học và chính trị của nhà văn Khái Hưng, trong TLVĐ. Theo tôi, đó là một cách kỷ niệm nhà văn Khái Hưng có ý nghĩa nhất.

Trong ‘Văn học miền Namtổng quan’ ông Võ Phiến có viết như sau: “… nếu sách Việt ngữ không thoát được ra ngoài và được lưu giữ ở ngoại quốc, thì sau này người ta tha hồ ngơ ngác hỏi nhau có chăng một ông Khái Hưng? Có chăng một bà Nhã Ca? Có chăng một ông Phan Khôi? Có chăng một bà Thụy Vũ? Có chăng những nhân vật huyền hoặc, tuyệt vô tung tích ấy?”

Lo âu của ông Võ Phiến là một nỗi lo âu lớn lao. Câu hỏi “Có chăng một ông Khái Hưng” đã âm thầm chứa đựng một quá trình tìm tòi, tra cứu về ông Khái Hưng. Đó là một điều đáng mừng, vì còn có người quan tâm đến văn học nước nhà. Sợ rằng câu hỏi nêu ra dưới dạng vô tình hơn “Khái Hưng là ông nào?” Sợ rằng chỉ trong vòng 5, 10 năm nữa thôi, tất cả những gì tinh hoa về văn hóa, văn chương Việt Nam trở nên hoàn toàn xa lạ với con em chúng ta.

Đó là mối lo âm ỉ trong lòng mỗi người có chút tâm huyết với quê hương xứ sở. Cũng do tấm lòng lo âu đó mà hôm nay tôi cố gắng tìm tòi, hệ thống, mạo muội trình bày một ít hiểu biết của mình về Khái Hưng với quý vị.

 

Thành phố Offenbach, Cộng Hòa Liên Bang Đức,
ngày 21-12-1996 (Thế Kỷ 21, số 95, March 1997)

Truyện hay đầu năm Thìn “Đại Hạ Giá”

Truyện hay đầu năm Thìn

Đại Hạ Giá

 

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v…v… hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:

 

–         Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

 

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

 

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Đô Bi – Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.  

 –         Anh mua bánh bò, bánh tiêu?   Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:  

 –         Anh có bán… trả góp không?   –        

 Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?  

–         Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.  

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.  

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:  

–         Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.  

–         Nhưng…   Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.  

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.  

 –         Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn… cảm ơn… anh nhá!  

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :  

–         Thầy Bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh… Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!  

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:   Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski… ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’.

 

Tiêu Dao Bảo Cự – Tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào

Tiêu Dao Bảo Cự – Tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào

Jan 30, ’12 5:46 AM
for everyone

 

 

Phạm Thị Hoài: Thưa ông Tiêu Dao Bảo Cự, khi còn là đảng viên, ông trải nghiệm sự lãnh đạo của Đảng như thế nào? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Tôi vào Đảng ở Miền Nam trước năm 1975 (lúc đó có tên là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam tức Đảng Cộng sản ở Miền Nam) trong một tình thế hoàn toàn khác với Miền Bắc hoặc cả nước sau 1975. Lúc đó chúng tôi không quan tâm và nói gì đến việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chỉ có đọc qua đôi chút lý thuyết về chủ nghĩa cộng sản, quan trọng là nghiên cứu 5 bước công tác vận động quần chúng và tập trung cho mục tiêu chống sự can thiệp của Mỹ, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình. 

Trước 75, trong một chi bộ bí mật, chúng tôi chỉ được quán triệt các nhiệm vụ chiến lược và cùng nhau trao đổi, bàn bạc những việc cần làm một cách cụ thể, sáng tạo giữa những người đồng chí hướng, cùng lý tưởng. Ngay sau 1975, những cuộc họp của Đảng đã được mở rộng, công khai, nghe quán triệt các nghị quyết của trung ương và trao đổi một cách tương đối dân chủ, cởi mở những việc cần làm. Giữa các đảng viên, phần lớn từ trong rừng ra và đảng viên tại chỗ, ngoài tình đồng chí còn coi nhau như trong một gia đình lớn, thường gọi nhau là anh – em, chú – cháu tùy theo tuổi tác, một cách thân ái và chân tình. Về sau nữa, các nghị quyết của trung ương có tính cách bài bản và chi tiết hơn, các địa phương chỉ rập khuôn, ít sáng tạo. 

Dần dần, nghị quyết của Đảng và thực tế cuộc sống ngày càng xa cách. Tôi là một trong số rất ít đảng viên nêu thắc mắc trong khi những người khác chỉ biết “quán triệt”. Cho tới một lúc tôi thấy sự lãnh đạo của Đảng đã khác biệt quá xa với lý tưởng và hoài vọng của mình, tôi bắt đầu phản bác, chống đối nên cuối cùng bị khai trừ. Đảng và tôi đã không còn đi chung đường. 

Phạm Thị Hoài: Từ khi bị khai trừ khỏi Đảng, ông có thấy mình trở thành một con người khác không? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Cuối năm 1988, Bùi Minh Quốc và tôi ở Hội Văn nghệ Lâm Đồng tổ chức chuyến đi xuyên Việt đòi tự do sáng tác, báo chí, xuất bản và đổi mới thực sự, có nhà thơ Hữu Loan cùng đi. Trên đường từ Hà Nội về Đà Lạt, tôi đã viết bản dự thảo tuyên bố ra khỏi Đảng, chung cho Bùi Minh Quốc và tôi. Anh Quốc không đồng ý, anh nói nếu cần cứ để bị khai trừ và tiếp tục khiếu nại như một cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng, làm rõ đúng sai, tranh thủ những người tốt trong Đảng. Trong hoàn cảnh đó, tôi không thể tách ra khỏi anh Quốc để làm một mình vì chúng tôi cùng một cảnh ngộ, cùng một cuộc chiến đấu và đang rất đơn độc. Cuối cùng, sang năm 1989, cả hai đều bị khai trừ sau một cuộc đấu tranh gay gắt trong Hội Văn nghệ Lâm Đồng và nội bộ Đảng, không chỉ ở đảng bộ địa phương mà liên quan đến tận trung ương. 

Sau khi bị khai trừ Đảng, họa sĩ Lưu Công Nhân lúc đó thỉnh thoảng qua lại Hội Văn nghệ, đến thăm tôi và chúc mừng tôi đã được “giải phóng”. Ông còn nói thêm, các anh ở trong này chưa hiểu biết về cộng sản, nếu các anh ở ngoài Bắc trước đây mà làm như vậy thì đã tù mọt gông hay “giữa đường mất tích” rồi. 

Dù ở trong hay ngoài Đảng, tôi chỉ là tôi, không hề là con người khác. Tôi vào Đảng là tự nguyện, chấp nhận và bị chi phối bởi những nguyên tắc, quy định của Đảng. Khi ra khỏi Đảng, tôi không còn những ràng buộc đó và có nhiều tự do để thể hiện con người đích thực của mình. 

Phạm Thị Hoài: Nếu phải giải thích cho một người chưa bao giờ sống dưới sự lãnh đạo của Đảng hiểu được, ông có thể giải thích như thế nào? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Đảng lãnh đạo chủ yếu thông qua hai phương diện, tư tưởng và tổ chức. 

Tư tưởng thể hiện qua cương lĩnh của Đảng, nghị quyết của trung ương và các cấp bộ Đảng mà từng đảng viên phải quán triệt để thực hiện. Tổ chức có quy hoạch đào tạo, dàn xếp, điều chuyển bộ máy lãnh đạo các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương của Đảng, chính quyền, đoàn thể một cách hết sức chặt chẽ. Ngoài ra còn có nguyên tắc cá nhân phục tùng tổ chức, địa phương phục tùng trung ương. Phương pháp đấu tranh phê bình, tự phê bình là một phương pháp rất có hiệu quả để bảo đảm sự thống nhất ý chí, đoàn kết trong Đảng. 

Theo cảm nhận riêng của tôi, vài năm sau 1975, ở các đảng bộ tôi sinh hoạt, phương pháp này được thực hiện tương đối tốt vì các đảng viên đấu tranh thẳng thắn, không khoan nhượng những biểu hiện sai trái, lệch lạc, trong tinh thần gọi là “trị bệnh cứu người” giữa những người đồng chí. 

Về sau này khi đã nắm vững quyền lực, với tư thế của một đảng cầm quyền độc tôn, lợi xen lẫn vào quyền, đi đôi với quyền, cấu kết quyền và lợi bắt đầu tạo ra sự suy thoái, sa đọa trong Đảng. Người ta không còn dám đấu tranh phê bình, tự phê bình một cách thẳng thắn, trong sáng mà nể nang, dựa dẫm nhau, “lắng nghe hơi thở của lãnh đạo”, kết bè cánh, kèn cựa hại nhau, tranh địa vị quyền lợi. Dù Đảng đã từng cảnh báo “Hãy cảnh giác với quyền lực” nhưng lời kêu gọi này không còn giá trị gì khi một đảng trở thành độc tài toàn trị, quyền lực vô biên đi đôi với lợi lộc tràn trề trong nền kinh tế thị trường hoang dã, kích thích lòng tham vô đáy của con người. Sự lãnh đạo của Đảng lúc này trở thành sự khống chế của một tập đoàn thống trị cấu kết nhau trong quyền và lợi. 

Phạm Thị Hoài: Còn với giới trí thức, Đảng lãnh đạo họ thông qua công cụ gì? 

Tiêu Dao Bảo Cự:Cũng thông qua tư tưởng, tổ chức. Ngoài cương lĩnh, nghị quyết chung còn có chiến lược phát triển của từng ngành do Đảng vạch ra, được triển khai trong các hội nghị, hội thảo chuyên đề. Trong điều kiện gọi là “Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và triệt để” và trong bộ máy lãnh đạo của Đảng không có nhiều trí thức, sự lãnh đạo này đôi khi khập khiễng, thiếu tầm, khiên cưỡng, áp đặt. Một số hình ảnh được chiếu trên truyền hình làm cho nhiều người xem cảm thấy nhục nhã khi các nhà trí thức hàng đầu của đất nước phải ngồi lắng nghe huấn thị của một cán bộ lãnh đạo Đảng về các lĩnh vực chuyên môn mà trình độ của người đó không đáng là học trò của họ. Đành rằng không có người lãnh đạo của bất cứ quốc gia nào, dù tài giỏi đến đâu, có thể thông thái về hết mọi lãnh vực, tuy nhiên người lãnh đạo đất nước nhất định phải có trí tuệ cao, tầm nhìn chiến lược, lòng hi sinh phục vụ đất nước, mới có thể nói cho người khác lắng nghe. 

Phạm Thị Hoài: Ông có cho rằng giới trí thức cần sự lãnh đạo đó không? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Đặc điểm của giới trí thức là nặng tư duy, thích phản biện và sáng tạo. Nếu lãnh đạo đã đưa ra định hướng cứng nhắc, ràng buộc trí thức thì không những không giúp ích cho sự phát triển của giới trí thức mà còn làm cho họ trở nên thui chột, xơ cứng, thậm chí hèn nhát, tráo trở, gian dối để được lòng lãnh đạo. Điều này đã làm cho sinh hoạt của giới trí thức trì trệ trong nhiều năm qua, tụt hậu rất xa so với các nước khác, trên mọi lãnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật. 

Phạm Thị Hoài: Và bản thân ông? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Hiện nay tôi là một người cầm bút tự do, tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào. Tôi nhìn nhận, đánh giá mọi việc theo tư duy, trí tuệ và lương tâm của mình. Tôi viết, dù là chính luận hay sáng tác văn học đều hướng về chân – thiện – mỹ, những giá trị có tính phổ quát toàn nhân loại mà tôi có thể thu nhận qua tri thức đông tây kim cổ. Tôi không cần một lý thuyết hay sự chỉ đường của bất cứ ai. 

Phạm Thị Hoài: Sự lãnh đạo của Đảng hiện nay có gắn với những nội dung tích cực hoặc cần thiết trong một lĩnh vực nào của đời sống? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Trên lý thuyết, sự lãnh đạo của Đảng đề cập những vấn đề thiết yếu của đời sống nhưng vì nó chưa xứng tầm với đất nước và thời đại, cố gò vào những lý thuyết giáo điều và tư tưởng đã lỗi thời, mục đích là giữ vững độc quyền lãnh đạo, nên đã làm trì trệ thay vì phát triển đất nước, phục vụ xã hội. Trong tình hình đó, nhiều kẻ bám vào để mưu lợi hoặc theo đuổi những mục đích cá nhân là điều tất yếu. 

Phạm Thị Hoài: Theo ông, không có sự lãnh đạo đó, xã hội có rơi vào hỗn loạn, khủng hoảng không? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Theo một nghĩa rộng, bất cứ quốc gia nào cũng cần có sự lãnh đạo của những người cầm quyền, thông qua chiến lược phát triển quốc gia, các kế hoạch 5 năm, 10 năm… chứ không thể để xã hội vận hành một cách tự do, không định hướng được. Hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, dĩ nhiên Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo. Ở đây có hai vấn đề đặt ra: 

Một là Đảng có xứng tầm lãnh đạo đất nước không? Không thể chỉ vì “được lịch sử giao phó sứ mệnh” như Đảng vẫn thường tự hào, giao một lần rồi tự cho mình quyền lãnh đạo mãi mãi. Điều này không khác chế độ phong kiến ngày xưa. Ngày trước là “vạn tuế”, bây giờ là “muôn năm”, một khi chiếm được quyền lực, những người cầm quyền đều tự coi đất nước như của riêng dòng họ, đảng mình một cách vĩnh viễn. Mặt khác, không có sự lãnh đạo hay lãnh đạo sai lầm đều đưa xã hội đến chỗ hỗn loạn, khủng hoảng, gây ra nhiều tội ác, thậm chí đưa đất nước vào họa diệt vong như nhiều bằng chứng lịch sử nhân loại đã cho thấy. 

Trong “Thư ngỏ gởi những người cộng sản Việt Nam” viết năm 1996 (đã công bố trên một số phương tiện truyền thông lúc đó và một số trang web sau này), gởi ban soạn thảo cương lĩnh Đại hội Đảng lần thứ VIII, trước khi đề nghị từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, chống thần thánh hóa lãnh tụ, thực hiện tự do dân chủ và đa nguyên chính trị, thực sự đoàn kết và hòa giải dân tộc, điều đầu tiên tôi đề cập là trưng cầu ý dân về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trước đó nữa, khi còn là đảng viên, tôi cũng đã có lần phát biểu điều tương tự trong một hội nghị của Đảng. Những người cầm quyền hiện nay chưa đủ bản lĩnh và thiện ý để làm điều này. Đó cũng là một trong những lý do làm tôi trở thành một trong hai người đầu tiên bị áp dụng nghị định 31/CP về quản chế hành chính trong 2 năm 1997 – 1999 (người kia là Bùi Minh Quốc). 

Hai là bộ máy lãnh đạo quá cồng kềnh, tốn kém. Một đất nước còn nghèo đói mà có tới 3 bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể “ăn” ngân sách nhà nước, chưa kể phải nuôi một lực lượng quân đội và công an hùng hậu, làm sao có đủ tiền của để lo cho nhân dân, phục vụ phúc lợi xã hội. Tinh giản bộ máy là điều đơn giản, quá dễ thực hiện nhưng Đảng vẫn không làm vì không muốn mất quyền và lợi. Ngược lại, nhân dân chẳng ai muốn phải gánh oằn lưng bộ máy cồng kềnh nặng nề này bằng mồ hôi, nước mắt của mình. 

Phạm Thị Hoài: Theo ông, đảng viên có quyền và có nên phủ nhận độc quyền lãnh đạo của Đảng không? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Đảng viên phải tuân thủ điều lệ và những nguyên tắc, quy định của Đảng. Điều này được áp dụng cho bất cứ tổ chức Đảng nào, nếu ai không muốn, đừng gia nhập Đảng. Tuy nhiên chuyện độc quyền lãnh đạo, “tuyệt đối không chia sẻ quyền lãnh đạo cho ai khác” trong khi mình chẳng phải là những người ưu tú nhất, cho thấy một ý thức chiếm hữu hẹp hòi, vì quyền lợi riêng của cá nhân và Đảng chứ không phải vì quyền lợi của nhân dân, đất nước, ngược với mục đích, tôn chỉ của đảng. Do đó tôi nghĩ đảng viên nào thực sự có lý tưởng vì dân vì nước không thể không đặt ra vấn đề này. 

Thực tế, đa số đảng viên hiện nay đều gắn bó với Đảng vì quá khứ, lợi quyền nên dù thấy Đảng sai lầm vẫn không công khai phản bác hay có phản bác nhưng vẫn tiếp tục ở trong Đảng, hưởng lợi quyền do Đảng mang lại. Rất ít người từ bỏ Đảng hoặc phê phán Đảng một cách triệt để (nhưng hiện tượng này đang có xu hướng ngày càng tăng). Nếu không có nhiều đảng viên như thế, Đảng sẽ đi vào thoái trào trong giai đoạn gọi là “tham quyền cố vị”, xa lạ với lý tưởng tốt đẹp mà Đảng vẫn tuyên truyền. 

Phạm Thị Hoài: Nếu được khôi phục đảng tịch, ông sẽ làm gì? 

Tiêu Dao Bảo Cự: “Guồng máy khi vận hành đã đè bẹp mọi lương tri hay lương tri không có chỗ trong guồng máy. Guồng máy đã trở nên vô hồn theo đà quay của nó. Mỗi người chỉ là một bộ phận, một chi tiết, một đinh ốc. Đinh ốc nào rơi ra như tôi sẽ bị nghiền nát. Không có sự phản kháng chống đối trong guồng máy vì như thế sẽ làm nó tê liệt. Chỉ có cách phá vỡ tung và làm lại theo cấu trúc mới. Có phải như vậy không? 

Đúng ra tôi không nên vào Đảng. Tôi là một kẻ yêu tự do, muốn tung trời lướt gió, làm sao có thể ở trong một Đảng được. Đảng là một tổ chức, một phương tiện, tập hợp sức mạnh, ý chí và hành động của nhiều người để đạt đến một lý tưởng chung. Nhưng khi lý tưởng chung đã không còn, Đảng sẽ trở thành tù ngục và là nơi thanh toán lẫn nhau. Đảng phải thuần nhất, nếu không Đảng sẽ mất sức mạnh dù đó là sức mạnh mù quáng. Những người lãnh đạo Đảng hiểu rất rõ điều đó. 

Đảng cầm quyền lại có thêm yếu tố quyền lực và quyền lợi gắn kết các thành viên. Sau bao nhiêu tổn thất, mất mát trong đấu tranh, khó ai có thể từ chối những yếu tố mới đầy hấp dẫn và lạc thú, có sức lôi cuốn mạnh hơn cả lý tưởng ngày xưa. Điều này giúp tôi hiểu thêm bản chất của con người và tính chất của guồng máy này. Lý tưởng và quá khứ với những tủi nhục và vinh quang đã ràng buộc họ vào một tổ chức, quyền lực và quyền lợi đã cố kết họ trong guồng máy. 

Guồng máy này dị ứng với những người và cách phản ứng như tôi.” 

Trên đây là một đoạn trích ở chương 3 nói về guồng máy trong cuốn sách Mảnh trời xanh trên thung lũng (NXB Văn Mới, Cali, Hoa Kỳ 2007), viết về suy nghĩ và tâm trạng của tôi sau bị khai trừ Đảng. Trước đây tôi vào Đảng trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt để cùng với những người đồng chí hướng chiến đấu có hiệu quả trong một tổ chức. Bây giờ mọi chuyện đã rất khác, quá khác ngày trước, và với tình hình của Đảng như đã phân tích trên, tôi còn vào Đảng hay trở lại Đảng để làm gì? 

Phạm Thị Hoài: Ông có tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tự chuyển mình thành một đảng dân chủ, từ bỏ chế độ toàn trị và cùng các đảng phái khác chia sẻ trách nhiệm điều hành đất nước? 

Tiêu Dao Bảo Cự: Đảng Cộng Sản Việt Nam có khả năng thích nghi rất lớn. Lịch sử Đảng cho thấy Đảng đã nhiều lần đổi tên, thay đổi đường hướng chiến lược để tồn tại và phát triển. Đảng cũng thấy rõ xu hướng hiện nay của toàn nhân loại là xu hướng dân chủ, nhưng Đảng sẽ không tự nguyện chuyển hóa về phía dân chủ vì như thế sẽ mất độc quyền lãnh đạo, có nghĩa là mất nhiều quyền lợi. Tuy nhiên xu thế lịch sử không cho phép họ tiếp tục giữ mãi độc quyền. Xu thế lịch sử ở đây không hiểu chung chung mà là ý thức dân chủ và tinh thần phản kháng của người dân ngày một lên cao, cộng với sức ép của quốc tế trên đường hội nhập. Đảng sẽ phải chuyển hóa nhưng tốc độ chuyển hóa tùy thuộc vào tác động nói trên và với sự tính toán, chuẩn bị chu đáo bằng nhiều thủ thuật, làm thế nào vẫn chiếm thế thượng phong, ít ra là thời gian đầu, trong cuộc chơi dân chủ không thể tránh được. Dù sao đó cũng là kịch bản tương đối ít gây xáo trộn, mất mát. Nếu Đảng vẫn khăng khăng quyết giữ độc tài toàn trị, đến một lúc nào đó, khi người dân không thể chịu đựng nổi, nhất định bạo loạn sẽ nổ ra, Đảng và nhân dân đều chịu tổn thất rất lớn. Trách nhiệm trước lịch sử về thảm kịch đó thuộc về Đảng. 

Đối với riêng tôi, điều mong chờ lớn nhất là sự tỉnh thức, can đảm đứng lên làm chủ của người dân, đại bộ phận nhân dân, mà đi đầu là tầng lớp tinh hoa và giới trẻ. Điều này cần có thời gian. Nhưng thời gian kéo dài cũng có nghĩa là chịu đựng và khổ đau kéo dài. 

Phạm Thị Hoài: Cảm ơn ông Tiêu Dao Bảo Cự. 

______________ 


© 2012 pro&contra

NGHỆ THUẬT ĐƯƠNG ĐẠI …

Nghệ sĩ người Hà Lan An Erik Kessels đã phủ kín một căn phòng bằng những tấm hình được tải lên trang web lưu trữ hình ảnh Flickr trong vòng 24 giờ. Hơn 1 triệu tấm hình được ông Kessels in ra, chất đống với ý tưởng gợi nhớ đến hàng núi thông tin và dữ liệu đang được chia sẻ trên Internet mỗi ngày. Ảnh:24 HRS PHOTOS INSTALLATIE ERIK KESSELS GIJS VAN DEN BERG / CATERS NEWS

 

 

Nhà tạo mẫu Thelma Madine (ở Liverpool – Anh) đã sáng tạo nên chiếc váy làm toàn bằng tóc người. 8 người đã làm việc trong vòng 300 giờ để kết 250 m tóc – nặng khoảng 95 kg – lại với nhau thành chiếc váy rực rỡ. Giá thành chiếc váy vào khoảng 50.000 bảng Anh. Ảnh: Voodou/Thelma Madine / Rex Features

 

 

Khoảng 10.000 bồn cầu và chậu rửa đã được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật dài 100 m, cao 5 m đặt tại công viên Shiwan ở thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc. Ảnh: China Foto Press / Barcroft Media

 

 

Nữ vũ công Polly Rae biểu diễn tại London – Anh. Ảnh: Ray Tang / Rex Features

 

 

Thêm một nỗ lục để phá kỉ lục kì dị: nhiều người… cùng mặc một chiếc quần lót nhất do sách kỷ lục thế giới Guinness công nhận. Kỷ lục lần này thuộc về cư dân vùng Canary Wharf, London – Anh. Ảnh: Ray Tang / Rex Features

   

Hoa hồng đính sương giá ở Frankfurt – Đức. Ảnh: Michael Probst/AP

 

 

Các nhà nghiên cứu Mỹ vừa phát triển một loại vật liệu mới nhẹ nhất thế giới. Nó nhẹ đến mức có thể đặt trên nụ bồ công anh mà không gây tổn hại gì. Ảnh: REUTERS/Dan Little/HRL Laboratories LLC

 

 

Cây cối gần một công trường xây dựng ở Nam Kinh, tỉnh Giang Tô – Trung Quốc được tiếp thêm chất dinh dưỡng để sống sót. Ảnh: Quirky China News / Rex Features

 

 

Dưới đây là chai rượu bằng giấy đầu tiên cả thế giới. Thân chai được làm bằng giấy phủ ngoài bằng lớp nhựa mỏng để giữ rượu sạch. Phát minh thuộc về nhà sáng chế Martin Myerscough người Anh. Ảnh: GreenBottle/PA

 

 

Hình ảnh không khác gì ngày tận thế khi tia sét sáng lóa giữa đám tro bụi đen kịt của núi lửa  Puyehue-Cordon Caulle ở Chile. Tấm hình được nhiếp ảnh gia Ricardo A. Mohr Rioseco chụp ngày 5-6, hai ngày sau khi núi lửa này bùng nổ, và vừa nhận được khen ngợi nhiệt liệt của kênh National Geographic. Ảnh: Ricardo A. Mohr Rioseco / Rex Features

 

 

Một cột gôn lẻ loi nằm giữa sân banh ngập nước ở ngoại ô Bangkok – Thái Lan. Ảnh: REUTERS/Damir Sagolj

 

 

Anh sinh viên Roshan Bliss tham gia cuộc biểu tình kỉ niệm 2 tháng phong trào “Chiếm phố Wall” ở Denver, bang Colorado. Bliss nói anh nợ đến 50.000 USD học phí. Ảnh: REUTERS/Nathan W. Armes

 

 

Một người biểu tình Ai Cập đội chiếc xe tăng đồ chơi trên đầu. Trên xe tăng dán hình Quốc vương Jordan Abdullah, Tổng thống Syria Bashar Assad và Saif al-Islam Gaddafi, người con trai vừa bị bắt của ông Muammar Gaddafi. Ảnh: Khalil Hamra/AP

 

__._,_.___

 

 

Giọng ca Chế Linh với những người hâm mộ Việt Nam

Giọng ca Chế Linh với những người hâm mộ Việt Nam 

Ca sĩ Chế Linh (DR)

Ca sĩ Chế Linh (DR)

Chế Linh, cùng với dòng nhạc vàng Việt Nam mà anh là một trong những giọng ca tiêu biểu, đang trở lại với công chúng yêu âm nhạc ở Việt Nam trong thời gian những năm gần đây, trên các sàn diễn lớn, sau hàng thập niên bị rẻ rúng. Vì sao giọng ca Chế Linh liên tục có sức thu hút như vậy, bất chấp hoàn cảnh xã hội và con người đã có rất nhiều thay đổi  ?

Giọng ca huyền thoại Chế Linh người gốc Chăm đã trở về Việt Nam với những người hâm mộ. Trong chuyến đi xuyên Việt lần này, Chế Linh đã biểu diễn tại nhiều thành phố, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng. Anh mới trở lại Hà Nội lần thứ nhì, và sẽ tới Sài Gòn biểu diễn vào ngày thứ Bảy tới 19/11. Một số trục trặc về khâu tổ chức, khiến buổi biểu diễn thứ hai tại Hà Nội suýt bị hủy bỏ, tuy nhiên cho đến phút chót mọi việc cuối cùng đã diễn ra suôn sẻ, Chế Linh lại lên sàn diễn và hội ngộ với những người hâm mộ anh.

Tuy mới trở lại với các sàn diễn lớn, nhưng thực ra ở Việt Nam, trong suốt nhiều thập niên qua, nhạc Chế Linh đã có mặt khắp chợ, cùng quê, từ các vùng xa xôi hẻo lánh, đến những nơi đài các, phồn hoa. Vì sao giọng ca Chế Linh liên tục có sức thu hút như vậy, bất chấp hoàn cảnh xã hội và con người cũng đã có rất nhiều thay đổi  ?

Để giải đáp cho câu hỏi, Tạp chí Cộng đồng của đài Phát thanh Quốc tế Pháp – RFI tuần này mời thính giả nghe một số nhận xét, bình luận và chia sẻ của nhà thơ Đỗ Trung Quân, nhạc sỹ Amư Nhân, nhà thơ Inrasara (từ Sài Gòn), ông Dũng Taylor Giám Đốc Điều Hành Công Ty D&D Entertainment (từ California – Hoa Kỳ) và chị Trà My, cùng anh Nguyễn Mạnh Thuật từ Hà Nội.

Chất Sến” chính là cái hay của dòng nhạc này

Dù phổ biến giọng ca Chế Linh là một giọng ca đặc biệt, không phải ai ai cũng có thể thưởng thức được. Từ Sài Gòn, nhà thơ Đỗ Trung Quân, một người thuộc nằm lòng rất nhiều ca khúc của các dòng nhạc trước 1975, vui lòng cho chúng tôi biết các suy nghĩ của anh.

Đỗ Trung Quân : Thưa quý vị, cái đề tài này rộng lắm. Cho phép tôi chỉ nói trong cái hiểu biết hạn hẹp của mình, và vắn tắt thế này. Việc đầu tiên xin được nói ngay là, tôi không phải là khán giả hâm mộ anh Chế Linh đâu, mặc dù anh Chế Linh tôi đã nghe nhiều trước 1975, cùng với nhiều ca sĩ khác của dòng nhạc mà ta gọi là « bình dân » ấy, vì tôi ở Sài Gòn. Bây giờ người ta sử dụng các từ nhạc bolero hay nhạc Sến. Tôi thì gọi là « bình dân », vì nó hầu hết nó mang cái tâm trạng, cái quan niệm, cái suy nghĩ, cái tình cảm,… Trước khi trở thành tiểu thị dân thì Sài Gòn, như anh và quý vị biết, là cái vùng đất để người ta đến nhập cư và định cư, thì, trong tâm trạng nhập cư như vậy, thì dòng nhạc bình dân, theo tôi hiểu, thứ nhất phản ảnh cái nỗi lo âu thân phận trước một cái đô thị lớn, không biết mình có thể sống được không, mình học như thế nào, rồi mình ở trong một cái xóm nghèo, một gác trọ mình thuê, rồi mình yêu một cô gái nào đó trong xóm, …. Nó là tâm trạng của đa phần của người bình dân, trước khi anh thành đạt, anh trở thành trí thức, anh trở thành một thương gia, một doanh nhân, … thì hầu hết ai cũng khởi đầu bằng con đường hết sức gian nan của một người hoàn toàn chưa có tài sản, chưa có sự nghiệp.

RFI : Anh có thể cho thính giả biết, cái nét đặc thù mà anh nói của giọng ca và âm nhạc mà Chế Linh sáng tác được không ?

Đỗ Trung Quân : Ca sĩ Chế Linh là một giọng ca đặc biệt, đặc biệt tới nỗi mà anh có thể được xem là người mở ra cả một trường phái hát giống anh, hát cái kiểu nhả chữ buông hơi, gì đấy,… Tất nhiên, trước 1975, anh được xem là hát quá sướt mướt. Tôi không phê bình nó là xấu hay là tốt, dở hay là hay. Tôi nói, đó là cái điểm độc đáo, đặc biệt của anh Chế Linh mà thôi. (…) Có một điều nữa tôi nói, chỉ có ca sĩ của Sài Gòn cũ mới hát ra được dòng nhạc này. Cái này nó hơi chủ quan một tý. Tôi thấy, ca sĩ Hà Nội bây giờ, có những người tốt nghiệp thanh nhạc, họ rất là vững vàng, có những người xuất thân nhạc viện Hà Nội, họ trở lại tìm hát cái dòng nhạc của Sài Gòn, mà chúng ta gọi là dòng nhạc bolero đó. Thế nhưng, giọng Hà Nội hát chuẩn dòng này quá, thì lại không ra cái chất, mà chúng ta gọi là chất Sến ấy. Bởi vì, Sến thì nó mới thích, nó phải luyến láy, nó phải sướt mướt, nhiều khi phát âm phải kéo chữ, nhả chữ, giống như là nó hơi « nhão » một tý đấy, thì nó mới ra được cái chất nhạc bình dân này.

Tôi cho rằng, những anh như anh Quang Lê, anh Trường Vũ, anh Chế Linh hay một số các anh chị em đã về Việt Nam hát, mà khán giả thích, chỉ là vì, hát ra đúng được cái chất mà người ta gọi là chất Sến ấy. Thành ra, khi tôi nói là hát ra được chất Sến, chính là cái hay của dòng nhạc này, chứ không phải dở đâu. Vì hát nghiêm túc kiểu nhạc viện, thì không bao giờ có thể thành công được dòng nhạc này hết.

Nhạc sỹ Chăm Amư Nhân, người thường xuyên biểu diễn nhạc Chế Linh cho chúng tôi biết một số ấn tượng của ông về giọng ca này :

Amư Nhân : Tôi thấy giọng hát Chế Linh rất là mềm mại, và những bài hát mang tính trữ tình, ca ngợi tình yêu đôi lứa. Thêm vào đó là giọng hát luyến láy mang tính đặc thù riêng của người Chăm. Nếu mà không phải là người Chăm thì cũng khó mà bắt chước được như vậy. (…) Tôi ít nhiều thích một số bài anh Chế Linh hát, như bài « Đôi ngả chia ly », bài « Hận Đồ Bàn », rồi bài « Cho vừa lòng em », … Ở Việt Nam, ngay bây giờ người ta hay gọi là nhạc Sến ấy. Nhưng Sến có cái hay của nó, Sến không có gì là xấu cả. Đôi khi tôi ngồi uống rượu, bạn bè với nhau, tôi thường hát những bài này.

Nhạc Chế Linh và sự lan tỏa của hồn Chăm

Nhà thơ và nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inrasara đã biết đến Chế Linh từ lâu. Những ý nghĩa mà âm nhạc Chế Linh để lại trong ông, cũng thăng trầm như chính cuộc đời ông. Đối với Inrasara, nhạc Chế Linh bắt rễ sâu xa trong nỗi buồn Chăm, một nỗi buồn lan toả không chỉ trong không gian văn hóa Chăm, mà thấm cả vào văn hóa của sắc tộc Việt – sắc tộc đa số.

Inrasara : Tôi xin nói cảm nhận của cá nhân mình. Thưở nhỏ, tôi từng mê Chế Linh. Có thể nói thế. Tôi chép tay và thuộc cả trăm ca khúc của anh, hay ca khúc được lưu truyền qua giọng hát anh. Rồi, một thời gian khá dài, tôi cũng đã chối bỏ anh, như chối bỏ những gì cực đoan. Tôi không thích cực đoan. Ở Chế Linh là chán nản và đau khổ cực đoan, rên rỉ và sướt mướt cũng cực đoan. Ngay cả uốn éo, luyến láy cũng cực đoan nốt. Đó là điều tôi lánh xa. Nhưng mươi năm qua thôi, tôi nghĩ khác. Chính sự cực đoan ấy đã làm nên sự khác lạ, độc đáo trong nghệ thuật.

Tôi xin nhắc qua vài ca khúc tiêu biểu như : « Thói đời », « Mười năm tình cũ » và « Một lần cuối ». Nó đúng chất Chế Linh, rung và luyến, lên cao, dừng, rồi chùng xuống đột ngột, nhưng không bao giờ thiếu mượt mà. Còn « Nụ cười chua cay », thì nó bột phát và đầy ngẫu hứng, rất là Chăm, rất là Chế Linh.

RFI : Ở đây anh nói đến chất Chăm, bên cạnh tính nghệ thuật của Chế Linh nói chung. Vậy, cái chất đó được thể hiện như thế nào ?

Inrasara : Ca dao là những lời thơ dân gian gắn bó chặt chẽ với thơ ca. Có thể nói ca dao Chăm là một phần hữu cơ của tâm hồn dân tộc Chăm. Lịch sử dân tộc Chăm là lịch sử ly tán, mất mát và đau buồn, đó là điều ai cũng thấy. Nên không ai ngạc nhiên, là hầu như không thấy ca khúc vui trong dân ca Chăm. Khúc ca vui, chắc chắn có, nhưng nó diễn ra ở một thời xa xôi nào đó. Các ca dao dân ca mà tôi sưu tầm được in trong cuốn « Văn học Chăm / Khái luận – văn tuyển » thì chỉ còn là các bản sầu ca. Các sầu ca ấy kết hợp với các làn điệu dân ca, khi trầm buồn, khi ai oán, lâm ly, bi thiết, vang lên trong những đêm cô đơn, nó luôn luôn đậm đà trong ta những dư âm không bao giờ dứt. Các bạn cứ nghe « Người ơi, người ở đừng về » hay « Bèo dạt mây trôi » của quan họ Bắc Ninh, mà các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc cho rằng, chúng mang âm hưởng đặc Chăm, thì sẽ rõ ngay thôi.

Theo tôi, tiếng hát Chế Linh cũng mang âm hưởng đó, cái sự nâng, cái sự rung và cái sự luyến láy, mặc dù nó là tân nhạc, nhưng nó vẫn đậm chất Chăm, nếu chúng ta nghe qua các dân ca Chăm, qua các đài Phát thanh, hoặc trên đài truyền hình, thì chúng ta sẽ nhận nó rất là rõ, nhận ra rõ lắm.

Chế Linh – người kể chuyện, người mang tâm sự

Từ Hoa Kỳ, ông Dũng Taylor Giám Đốc Điều Hành Công Ty D&D Entertainment lý giải cho chúng tôi biết, vì sao nhạc Chế Linh lại hút hồn người đến vậy. Điều chủ yếu theo ông, Chế Linh không chỉ hát, mà ông còn là một người « kể chuyện », chính những tâm tư, tâm sự được truyền đi trong các ca khúc của ông thấm vào người nghe trong những giây phút lắng lại trong dòng đời trôi chảy.

Dũng Taylor : Theo kinh nghiệm của Dũng, nhạc Chế Linh không phải là dòng nhạc vui. Nó mang tâm sự, mang tâm sự thì không thể nào có thể nhảy nhót vui được. Chúng ta tìm đến nó khi chúng ta có cùng tâm sự. Dòng nhạc Chế Linh giống như một người kể truyện. Anh Chế Linh không chỉ hát. Một ca sĩ hát hay, mình có thể khen là người này có giọng hát hay, biết cách hát, hát khéo. Nhưng mà một người ca sĩ, một nghệ sĩ muốn làm tròn vai trò của họ, họ phải trở thành một người kể chuyện, một người đem tới được cái tâm sự, và làm cho khán giả cảm nhận được cái ý nghĩa của bài hát. Anh Chế Linh làm được điều đó. Cái dòng nhạc đó giống như một người kể chuyện ỉ ôi, kể chuyện than tâm, thương tâm với mình. Bình thường là phải như vậy, thì mới đạt được đỉnh cao của dòng nhạc Chế Linh.

Khi mình có tâm sự, mình mới tìm đến dòng nhạc này, và mình càng thấy nó thấm thía, nó hay hơn. Những người nào yêu mến dòng nhạc Chế Linh và tiếng hát, thì đó là điều tất yếu. Họ cần tới nó, tìm tới nó, thì họ cảm thấy nó là viên thuốc rất là hay.

RFI : Dạ, anh có ý tưởng rất là gợi : « viên thuốc ». Tức là giọng ca nó buồn, nhưng nó không ảo não, hoặc truyền đi một tâm hồn kéo con người đi xuống …

Dũng Taylor : Đúng rồi ạ. Anh nhớ là nghệ thuật Việt Nam, những gì khiến mình cười, những gì thanh thản khiến mình dễ quên lắm. Còn những gì nó lấy được nước mắt của người ta nó lưu lại lâu lắm.

Là những lúc mình ngồi ở một quán cà fê, mình uống một ly cà fê, mình hút một điếu thuốc, trong những buổi sương lạnh, mình nhớ tới những chuyện không được vui trong đời sống của mình, như trong tình cảm, xa cách gia đình, ly tán, hay gì đó, … thì bắt đầu nó mới nhập tâm mình. Và khi nó đã nhập tâm mình rồi, thì người Việt Nam mình họ bị một cái điều là, họ luôn mang nó theo, nó là một hành trang. Thì anh Chế Linh, anh ấy trở về, anh ấy nhắc lại cho họ, đã một thời sống chung trong cái dòng nhạc đó.

Nhạc vàng êm dịu, không buồn và lời thì hay

Chị Trà My yêu nhạc Chế Linh, cũng như hầu hết các nhạc phẩm thuộc dòng nhạc vàng, trước 1975, vừa mới sinh con. Mặc dù còn yếu và đang tập trung vào chăm lo cho cháu, chị cũng vui lòng hé mở với chúng tôi những cảm xúc đã gắn chị với người ca sĩ huyền thoại :

Trà My : Sinh em bé, nên không đi nghe được bác Chế Linh hát. Nói chung, được cái là, hai vợ chồng cùng sở thích nên thật là may mắn. Một phần vì lý do đấy, nên cả hai đã cùng nhanh chóng, nhanh chóng quyết định, đây là một nửa của mình.

Thấy mọi người bảo rằng, nhạc vàng vừa Sến, vừa buồn, nhưng cả hai vợ chồng bảo, chẳng thấy buồn gì. Mình chẳng thấy gì buồn ở trong nhạc vàng, mà chỉ thấy lời nhạc rất là hay. Âm nhạc ấy nó khác với các thứ nhạc khác. Đôi khi nó chỉ là lời tâm sự, nhưng nó không giống nhạc bây giờ. Nhạc bây giờ cũng là lời nói, nhưng nghe nó ngang phè phè. Còn lời của nhạc vàng cũng chỉ là lời nói bình thường thôi, nhưng thấy nó khác, nghe nó không chướng tai.

Dạo mang bầu em vẫn cứ nghe, nhưng mà mọi người bảo suốt ngày cho con nghe nhạc vàng, thì nó ủ dột. Nhưng em nghĩ, nó là một thứ nhạc êm dịu mà. Nó lại là thứ nhạc mà mình yêu thích nữa. Cho nên, khi mình vui, mình nghe như thế, mình thỏa mãn sở thích của mình, thì mình nghĩ rằng con cũng vui. Nên, từ khi con trong bụng, em vẫn cho con nghe, hai mẹ con cùng nghe.

Nghe nhạc Chế Linh làm việc thấu suốt hơn

Người cuối cùng chia sẻ với chúng tôi các tâm sự về Chế Linh là anh Nguyễn Mạnh Thuật. Anh Thuật đã có mặt tại cả hai buổi biểu diễn của Chế Linh tại Hà Nội. Âm nhạc của Chế Linh như đã hòa vào cuộc đời anh Thuật, không chỉ là xúc cảm, nhạc Chế Linh giúp anh rất nhiều trong công việc hàng ngày.

Nguyễn Mạnh Thuật : Bài nào tôi cũng thích. Nếu là ca sĩ Chế Linh thể hiện, thì bài nào tôi cũng thích. Cái dòng nhạc này, đối với tôi, nó gắn liền với cuộc sống, nó trải lòng.

Kỷ niệm mà tôi nhớ nhất là có một năm Tết [ở quân đội] không về. Ở nhà có mỗi mẹ già, ba tôi thì mất rồi. Mình bảo là ngày 27 Tết mình về. Mẹ tôi có làm bánh chưng chờ con về. Song cuối cùng, tôi không về được. Đúng lúc giao thừa, tôi nhớ có một anh bạn, anh ấy mở bài hát « Mùa xuân của Mẹ » bằng điện thoại. Nghe mà nó mủi lòng và thật sự là rất xúc động.

Nhiều lúc nghe, tôi thấy mình trầm lại, cái nhạc nó giúp cho mình vừa thư giãn trong lúc căng thẳng, thứ hai là, trong đó có cái gọi là cái định hướng cho mình, khi mình tư vấn [nghề của anh Nguyễn Mạnh Thuật], tự dưng mình có sự đồng cảm. Mình như là người trong cuộc. Đối với những khách hàng mất mát tình cảm hay bị mâu thuẫn, là một fan nghe nhạc, tự dưng như mình đồng cảm, và mình tư vấn, mình giải quyết các thắc mắc, những mất mát của khách hàng, một cách nhập tâm hơn. Mình thấy là mình làm chính xác hơn, thấu suốt hơn.

Nhạc trữ tình, với âm hưởng buồn nổi trội, của giọng ca Chế Linh da diết mà không bi lụy, đau đớn, tiếc nuối nhưng không uất hận, … trong cái chất buồn não nề, thê lương, nghẹn ngào, chan chứa bất hạnh – mà nhiều người gọi là nhạc “sến” ấy, có một cái gì đó kiêu hãnh âm thầm, một khát khao vượt thoát, một sự khoan thứ cao thượng, một sự nâng niu trân trọng tất cả những gì quý giá còn lại, dù là mỏng manh nhất, trong những gì đổ vỡ, những gì thất bại, …

Phải chăng chính những điều đó, khiến cho nhiều người, khi đã được nghe thứ âm nhạc ấy, thấm được thứ âm nhạc ấy, sẽ dịu vết thương lòng, có thêm sức mạnh hòa giải với tự thân, với người khác, có ý chí làm lại những gì không thành, có quyết tâm mà đi tiếp ?

 

Xin chân thành cảm ơn chị Trà My, các anh Đỗ Trung Quân, Amư Nhân, Inrasara, Dũng Taylor và Nguyễn Mạnh Thuật đã tham gia vào tạp chí hôm nay

Vũ Hoàng Chương “Say Ði Em !!!”

Giải trí vui và ý nghĩa :  Mời coi hai clips này về SAY, nhưng nên đọc bài thơ SAY ĐI EM của Vũ Hoàng Chương, và  thơ Tôn nữ Hỷ Khương, cũng về SAY, mà trong quan niệm khác .


 

Say Ði Em 

Vũ Hoàng Chương


Khúc nhạc hồng êm ái 

Ðiệu kèn biếc quay cuồng 
Một trời phấn hương 
Ðôi người gió sương 
Ðầu xanh lận đận, cùng xót thương, càng nhớ thương 
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo? 
Hồn ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo 
Lòng trôi nghiêng mà bước vẫn du dương 
Lòng thiêng tràn hết yêu đương 
Bước chân còn nhịp nghê thường lẳng lơ… 
Ánh đèn tha thướt 
Lưng mềm não nuột dáng tơ 
Hàng chân lả lướt 
Ðê mê hồn gửi cánh tay hờ 
Âm ba gờn gợn nhỏ 
Ánh sáng phai nhạt dần 
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân 
Lui đôi vai, tiến đôi chân 
Riết đôi tay, ngả đôi chân 
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió 
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ 
Hãy thêm say còn đó rượu chờ ta 
Cổ chưa khô đầu chưa nặng mắt chưa hoa 
Tay mềm mại bước chân còn chưa chuếnh choáng 
Chưa cuối xứ Mê Ly chưa cùng trời phóng đãng 
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men 
Say đi em, say đi em 
Say cho lơi lả ánh đèn 
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt 
Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết 
Ta quá say rồi 
Sắc ngã màu trôi 
Gian phòng không đứng vững 
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi? 
Chân rã rời 
Quay cuồng chi được nữa 
Gối mỏi gần rơi 
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa 
Say không còn biết chi đời 
Nhưng em ơi 
Ðất trời nghiêng ngửa 
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ 
Ðất trời nghiêng ngửa 
Thành sầu không sụp đổ, em ơi!


Còn gặp nhau 

Tôn Nữ Hỷ Khương

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thưở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao
Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.

Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc, say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý lẽ huyền vi
An nhiên, tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kỳ.

Tác giả: Tôn Nữ Hỷ Khương