ALEXANDR SOLZHENITSYN, NGƯỜI ĐÃ KHAI TỬ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

 ALEXANDR SOLZHENITSYN

NGƯỜI ĐÃ KHAI TỬ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

Khi Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Nga Yuri Andropov đọc cuốn hồi ký “Gulag Archipelago” của đại văn hào Alexandr Solzhenitsyn thì đã phải toát mồ hôi và nói “tập tài liệu này thật là nguy hiểm cho chúng ta”…

Và quả thật cuốn sách của Solzhenitsyn chính là yếu tố quan trọng nhất là cho chế độ Cộng Sản bị lung lay rồi sụp đổ ở Nga từ bên trong vì hoàn toàn mất đi chính nghĩa, sau khi những tội ác ghê gớm trong những trại tù cải tạo bị phanh phui ra trước ánh sáng bởi ngòi bút đanh thép của ông ta.

Cuốn sách này không những là một bằng chứng chính trị hay một tập lý luận về triết học hay lịch sử mà còn là một kiệt tác về văn chương cận đại.  Solzhenitsyn tin rằng chế độ Cộng Sản ở Nga dựa trên sức mạnh của Quân đội và Công An dưới sự lãnh đạo sắt thép của đảng Cộng Sản có tai mắt rình mò khắp nơi cũng không thể nào chống lại nổi sự thật và chính nghĩa được trình bày một cách khách quan nhưng dưới hình thức văn chương linh hoạt và đầy nghệ thuật. (a work of art). Hoàng đế Napoleon đã có lần nói là có thể ngăn cản được một đạo quân hùng mạnh nhưng không thể nào ngăn cản được một làn sóng tư tưởng. Ngay chính Mao trạch Đông cũng phải công nhận rằng “một ngòi bút trung thực có sức mạnh bằng một Trung Đoàn.”.

Solzhenitsyn trước đây là một đảng viên trung kiên đã từng có công chiến đấu chống quân Đức nhưng vào năm 1945 ông ta bị tù 7 năm về tội nói châm biếm Stalin và sau đó được phục hồi dưới thời Kruschev. Nhưng sau khi ra khỏi tù ông ta lại viết cuốn sách nổi tiếng “một ngày trong đời của Ivan Denisovitch” (thực ra là một hồi ký trong tù của bản thân) khiến sau đó lại bị đàn áp bắt bớ.

Được giải thưởng Nobel văn học năm 1970, Solzhenitsyn tiếp tục viết cuốn sách dài “Gulag archipelago” trong đó ông trình bày đầy đủ những tội ác dã man nhất của chế độ lao tù tại Nga và cuối cùng thì bị trục xuất ra nước ngoài. Sau cùng Solzhenitsyn định cư tại Mỹ tiểu bang Vermont và đi diễn thuyết tại nhiều nơi về tội ác của chủ nghĩa Cộng Sản. Năm 1991 ông được Đại Học nổi tiếng Dartmouth (New Hampshire) tặng tước vị Tiến sĩ văn chương danh dự.

Ông nói rằng “nhược điểm chính của chủ nghĩa Cộng Sản là dựa nền tảng trên sự dối trá (deceit). Đảng dùng sự dối trá để che đậy bạo lực và khi những tội ác bị phơi bày bởi văn chương nghệ thuật thì tất nhiên sẽ bị tan biến và chế độ sẽ bị sụp đổ..” Cuốn sách của ông giống như một cái “chiếu yêu kính” mà Đức Phật dùng để soi sáng những đám tà ma quỷ quái…

Solzhenitsyn chứng minh rằng chế độ lao tù cải tạo không phải chỉ do Stalin bày ra mà chính là do Vladimir Lenin tổ chức hòng tiêu diệt “những thành phần phản động”. Trước đó Kruschev đã tố cáo Stalin trong bài diễn văn tại Đại Hội Trung Ương Đảng lần thứ 20 nhưng riêng Lenin thì vẫn được tôn trọng là nhân vật đạo đức sáng lập nên chế độ Cộng Sản ưu việt. Bao nhiều tội lỗi được đổ cho Stalin để duy trì ngôi vị của Lenin và đảng Cộng Sản Nga. Điểm này cũng giống như việc Đảng Cộng Sản Việt Nam đổ tội cho Trường Chinh gây ra vụ tắm máu “cải cách ruộng đất” hòng chạy tội cho Hồ chí Minh, tên tội phạm đích thực đã gây ra vụ này sau khi học được ở Nga rồi trở về nước đem ra áp dụng.

Solzhenitsyn hoàn toàn phủ nhận huyền thoại Lenin và phán rằng chủ nghĩa Cộng Sản cũng tàn độc như chủ nghĩa Đức Quốc Xa vì vấn đề chính không phải chỉ là lịch sử và chính trị mà là một chủ thuyết vô luân (a question of moral).  Khi ở trong tù ông có thời giờ suy tư và đi đến kết luận là “ sự khác biệt giữa phải và trái không phải là một sự khác biệt giữa giàu hay nghèo, giữa các chế độ, giữa các đảng phái chính trị , giữa các giai cấp mà là giữa lương tâm của con người và tất cả mọi người (through all human hearts).

Sự thấu hiểu chính xác về nguồn gốc của tội ác do Solzhenitsyn đưa ra là một điều hoàn toàn trái ngược với chủ thuyết Cộng Sản luôn luôn được tô vẽ là nhân đạo và trong sáng. Chủ thuyết này đã bày đặt ra những nguyên tắc giả tạo là công bằng và hợp lý hòng đày ải hàng triệu người trong vòng lao tù trong nhưng điều kiện tàn ác nhất (unimaginable acts of sadism). Ông viết “ chủ nghĩa Cộng Sản đã gây ra những tội ác khủng khiếp nhất trong thế kỷ thứ 20 và đã làm cho hàng triệu sinh mạnh bị hy sinh..”

Khi tôi nằm ở trong nơi ngục tù hôi hám thì lần đầu tiên tôi đã nhận thấy được những ánh sáng đầu tiên của chân lý và hạnh phúc. Tôi bèn thốt lên rằng: cám ơn nhà tù, vì đã giúp cho tôi tìm ra được ý nghĩa của cuộc đời tôi..”

Sau khi bị trục xuất ra khỏi nước thì trong một dịp đọc diễn văn tại Đại Học Harvard , ông nói “sự thật cũng có lúc đem lại vui thỏa nhưng sự thật luôn luôn đem lại cay đắng “ (truth is invariably bitter). Tuy bị trục xuất ra khỏi nước nhưng Solzhenitsyn vẫn tiếp tục dùng ngòi bút của mình để làm rung chuyển chế độ CS ở Nga đang đi lần vào cơn hấp hối dưới thời Brezhnev và sau cùng đổ vỡ tan tành do việc làm của Gorbachev, Yeltsin. Con tàu Cộng sản Nga đã mục nát từ bên trong nên tuy Gorbachev cố gắng cứu vãn bằng những biện pháp nửa chừng như glasnost, perstroika cũng không làm sao lật được thế cờ và cuối cùng thì Mỹ đã “bất chiến tự nhiên thành”!

Khi TT Reagan sang thăm Nga vào năm 1988 do Gorbachev mời thì tại Moscow ông đã đọc trích dẫn cuốn sách của Solzhenitsyn và có thể nói đó là phát súng đầu tiên bắn vào tim óc của Cộng Sản Nga.  Nguyên do là tuy những cuốn sách của Solzhenitsyn đã đóng góp rất lớn vào việc làm cho chủ nghĩa này bị sụp đổ vì mất đi chính nghĩa vào năm 1991 nhưng vào khoảng thập niên 70,80 thì ông nhận thấy rằng thế giới tự do quá yếu hèn trước bạo lực và tình trạng đạo đức suy đồi tại nước Mỹ trước những cám dỗ của văn minh vất chất (moral decadence).

 Ông ta tuy là một người triệt để chống Cộng Sản nhưng cùng một lúc cũng thẳng thắn trong việc phê phán những sai lạc của thế giới tự do đã khiếp nhược không làm gì trước những tội ác ghê gớm của Cộng Sản.

Những lời phê phán nghiêm khắc của Solzhenitsyn đối với thế giới tự do và nước Mỹ có thể đúng vào lúc đó nhưng ông ta đã không tiên đoán được sự ra đời của hai chủ thuyết Thatcherism do thủ tướng Anh đưa ra và chiến lược đẩy lùi (roll back) của TT Ronald Reagan.

Chính hai vị này đã kết hợp với nhau cùng với Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLô đệ Nhị mở ra những đợt tấn công liên tục bằng văn hóa tư tưởng  một cách âm thầm vào bên trong bức màn sắt khiến cuối cùng thì Cộng Sản thua!

Khi Solzhenitsyn cảnh báo thế giới tự  do rằng “chúng ta không thể nào phê phán những chế độ độc tài, tàn bạo trên thế giới nếu chúng ta không duy trì được sự công bằng và tự do dân chủ ở ngay tại nơi chúng ta đang sinh sống..”.

Những lời khuyên của Solzhenitsyn xứng đáng được chúng ta ghi nhớ vì ông ta là một trong những nhân vật lịch sử vĩ đại nhất trong thế kỷ 20. Qua những đóng góp của ngòi bút tài tình của ông thì ông đã làm thay đổi lịch sử thế giới. Ông đã làm cho chủ nghĩa Cộng Sản không còn chỗ đứng nữa trong lương tâm con người..

Ông dùng lời văn của Fyodor Dostoievsky dẫn chứng việc làm của ông là “văn chương nghệ thuật đã cứu nhân loại” và qua kinh nghiệm và thành quả của chính bản thân ông thì ông đã chứng minh điều này là đúng sự thật. Sự ra đi của ông vào lúc 89 tuổi đã để lại nhiều thương tiếc vì ông là một ngọn đèn soi sáng, an ủi cho những người vẫn còn đang ngắc ngoải trong các nhà tù của những chế độ Cộng Sản còn lại, trong đó có Việt Nam!

XUÂN SƠN

 

 

Advertisements

Phóng sự buổi ra mắt sách Việt Nam Thời Lập Quốc

 

PHÓNG SỰ BUỔI GIỚI THIỆU TÁC PHẨM 

VIỆT NAM THỜI LẬP QUỐC

CỦA NHÀ BIÊN KHẢO LỊCH SỬ PHẠM TRẦN ANH

 

 

Buổi ra mắt sách Việt Nam Thời Lập Quốc của Nhà Biên Khảo Lịch Sử Phạm Trần Anh và tập thơ Nhị Thập Bát Tự của tác giả Vũ Lang được Hội CSV QGHC Miền Đông và Nguyệt San Hoài Hương (NSHH) tổ chức tại Mason District Governmental nằm trên đường Columbia Pike, Falls Church, VA vào một buổi sáng thứ bẩy đẹp trời 15-10-2011 đã quy tụ được nhiều  quan khách tên tuổi cùng đồng hương quen thuộc tại VA tham dự đông đảo.

Sau nghi thức chào cờ, mặc niệm, MC Minh Nguyệt giới thiệu tên quan khách và mời Ông  Trưởng Ban Tổ Chức Nguyễn Kim Hương Hoả  (NKHH) mở đầu chương trình chào mừng cử tọa và đọc tóm tắt tiểu sử cùng thành tích hoạt động của nhà biên khảo Lịch Sử Phạm Trần Anh (PTA).

Ông NKHH chào mừng, cám ơn quan khách và nói ông đại diện cho Hội CSV QGHC Miền Đông Hoa Kỳ rất hân hạnh giới thiệu một người bạn, một người đồng môn của gia đình hành chánh, một nhà tranh đấu, một nguời tù bất khuất, một nhà nghiên cứu lịch sử và văn hoá dân tộc mà ông rất ngưỡng mộ khâm phục. Đó là Ông Phạm Trần Anh.

Những chức vụ của Ông PTA trước ngày mất nước:

  • Tốt Nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh Khóa 14 năm 1969

  • Tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ

      Đức khóa 4/1970

  • Tốt nghiệp Cao Học 2 Chính trị Xã Hội Viện Đại Học Đà Lạt

  • Đảm nhiệm các chức vụ:  Phó Quận Tam Bình, Minh Đức, Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long.

  • Trưởng Ty Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng.

Ông PTA sau ngày mất nước:

  • Thành lập Mặt Trận Người Việt Tư Do Diệt Cộng Phục Quốc cùng với thi sĩ Tú Kếu và nhà báo Trọng Tú

  • Bị CS bắt ngày 3-7-1977 và  xử án tù chung chung thân vì hoạt động lật đổ chính quyền.

  • Được Hội Ân Xá Quốc Tế can thiệp trả tự do ngày 3-8-1997 sau hơn 20 năm tù với 9 năm bị cùm chân tay trong xà lim biệt giam và hơn 11 năm lao động khổ sai trong các nhà tù khắc nghiệt của CS.

Ông PTA đấu Tranh Tại Hải Ngoại:

  • Ngày 2-9-2006 sang Mỹ sau 9 năm bị CS cấm.

  • Được các hội đoàn và đồng hương vinh danh  là “Người Tù Bất Khuất”

  • Là Phó Hội Trưởng Ngoại Vụ kiêm Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành Hải Ngoại.

  • Đang cùng các chiến hữu vận động tổ chức Hội Nghị Diên Hồng Thời Đại và  Mặt Trận Dân Tộc Cứu Nguy VN.

  • Thành viên Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông để đấu tranh giải thể chế độ.

  • Nhà Biên Khảo Lịch Sử Văn Hóa Dân Tộc với các công trình nghiên cứu giá trị.

Ông PTA đã xuất bản 8 tác phẩm:

  1. Ðoạn Truờng Bất Khuất.

  2. Nguồn Gốc Việt Tộc

  3. Huyền Tích Việt.                                 

  4. Sơn Hà Nguy Biến.

  5. Hoàng Sa Truờng Sa của ViệtNam. 

  6. Chan Chứa Bao Tình.

  7. Quốc Tổ Hùng Vuong.                       

  8. ViệtNamThời Lập Quốc 1 & 2.

Để tiếp tục MC Lê văn Quan CSV QGHC mời giáo sư Nguyễn Ngọc Bích nói về tác phẩm VNTLQ của tác giả PTA.                  

GS. Bích nói ông đã bị rơi vào một mê-hồn-trận khi đọc cuốn VNTLQ. Trước đây chưa có yếu tố khoa học về DNA trong sử học cho nên đây là một khám phá rất mới và là khoa học nên khó có thể phủ nhận. GS Bích dám chắc Quý vị cũng sẽ tìm thấy được nhiều điều lý-thú trong cuốn sách VNTLQ 1 và 2!

Đến đây Minh Nguyệt mời Nhà Biên Khảo Lịch Sử PTA thưa chuyện cùng đồng hương về tác phẩm VNTLQ 1và2:Tác giả trình bầy những chứng minh rất quan trọng nói về lịch sử VN từ thuở ban đầu khi còn ở xa lắc tận cùng miền Bắc và sang đến tận bên Tầu. Tác phẩm chứa đựng những nghiên cứu sử liệu dính đến khoa học về DNA rất gía trị cho thế hệ trẻ biết về nguồn gốc dân tộc VN.

Một lần nữa MN trở lại máy vi âm kể tác giả PTA cho MN biết trong 5 năm nay tiền bán sách trừ chi phí ấn loát, còn dư ông gửi hết về VN giúp những bạn hữu đang trong cảnh khốn khó. MN mời mọi người mua sách ủng hộ và sẵn dịp đọc luôn những giòng chữ viết của một số vị trí thức nổi tiếng trong cộng đồng người Việt hải ngoại tỵ nạn CS như Cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Đức Nhuận, Ông Lê Mộng Nguyên-Viện sĩ Hàn Lâm Pháp Quốc, Ts NguyễnThanhLiêm-Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH, Nhà văn,Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh đã rất ca ngợi sử liệu nghiên cứu quý giá của ông PTA

Trước khi tới phần giới thiệu cuốn Nhị Thập Bát Tự của nhà thơVũ Lang,MNđại diện Ban Tổ Chức tặng tác giả PTA bó hoa cùng lúc các vị khách nữ cũng lên tặng ông PTA hoa và cờ VNCH.

Phút tặng hoa chấm dứt Minh Nguyệt mời tất cả các quan khách cùng đồng ca bản nhạc Hội Nghị Diên Hồng mà cô Minh Hà của Hoài Hương đã phân phát trước đó.

                             Hình kỷ niệm sau buổi giiớ thiệu tác phẩm VNTLQ

                                             Cô Jackie Bông Wright và tác giả Phạm Trần Anh

Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam dưới cái nhìn Xã Hội chủ Nghĩa

 

                  Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam

            dưới cái nhìn  Xã Hội chủ Nghĩa

                              Trọng  Đạt                

                                

                Văn chương há phải là đơn thuốc

                 Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu.

                    (Tú Xương)

 

 

      Chúng tôi nhận được cuốn Thạch Lam, Về tác giả và tác phẩm do một người bạn về thăm quê hương tặng, sách dầy 500 trang, khổ lớn, nhà xuất bản Giáo dục, sách gồm trên 70  bài viết về Thạch Lam. Khoảng một phần tư là những bài viết từ thập niên 39, 40 tại Hà Nội và tại Sài Gòn trước 1975, ba phần tư là những bài viết trong nước đa số ở thập niên 90. Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên Thạch Lam có thể được dư luận chú ý và ca ngợi nhiều đến thế, nhất là dư luận trong nước.

      Ngày nay trong nước người ta đã đánh giá lại Tự Lực văn đoàn trong bài Thạch Lam Với Quê Hương Sáng Tác của Đinh QuangTốn (Thạch Lam, Văn Chương Và Cái Đẹp, NXB Hội Văn Hà Nội, 1994)

 

         Gần đây kỷ niệm 82 năm sinh và 50 năm mất của Thạch Lam, chúng tôi lại về phố huyện Cẩm Giàng. Phần nhiều những người chúng tôi hỏi chuyện đều có biết nhà văn Thạch Lam quê ở đây. Những mặc cảm về giòng họ Nguyễn Tường cũng không còn nặng nề. Nhìn chung mọi người kể chuyện với thái độ khách quan, kể cả những cán bộ kháng chiến cũ. Họ đã “bước qua lời nguyền”để nhìn lịch sử một cách công bằng với tư duy đổi mới, đánh giá đúng con người với những đóng góp và những hạn chế của họ với lịch sử. Riêng đối với Thạch Lam, được họ nhắc đến với thái độ cảm tình”.

 

         Như vậy theo tinh thần tư duy đổi mới, họ được nhìn lịch sử một cách công bằng hơn và đánh giá lại một giai đoạn đã qua của nền văn chương Việt Nam. Nhưng trên thực tế chúng tôi thấy nhiều nhà phê bình trong nước có khuynh hướng đánh giá rất cao Thạch Lam, coi ông như một ngôi sao sáng chói nhất của Tự Lực văn đoàn thí dụ như Lê Dục Tú nhận xét dưới đây.

 

         “Nhưng về phía độc giả Thạch Lam cũng hiểu một tình trạng có thực: đó là sự tồn tại của hai hạng người: một hạng chỉ cốt xem truyện để giải trí và hạng thứ hai thực sự là biết thưởng thức. Khác với một số  nhà văn đương thời, Thạch Lam đã dũng cảm phục vụ hạng độc giả thứ hai để rồi phải chịu một thiệt thòi là sách của ông đã không tránh khỏi bị quên lãng trong một thời điểm nào đó. Song chỉ một thời gian sau đó, bạn đọc đã nhận ra được vẻ đẹp đích thực của văn chương ông và thừa nhận ông là “người có tài” và “viết hay hơn cả” trong Tự Lực văn đoàn”.

          (Thạch Lam, Người Đi Tìm Cái Đẹp Trong Cuộc Đời Và Trong Văn Chương).

 

         Hoăc như Nguyễn Phúc trong Quan Niệm Văn Chương Của Thạch Lam, Vị Nghệ Thuật Hay Vị Nhân Sinh (Thạch Lam,Văn Chương Và Cái Đẹp, NXB Hội văn Hà Nội 1994)

 

         “Nét đặc trưng của văn tài Thạch Lam trước hết thể hiện ở chỗ: Là thành viên chủ chốt của một văn đoàn vẫn được nhất trí coi là “lãng mạn”nhưng toàn bộ sáng tác của ông lại không chịu nằm gọn trong cái tên gọi đó, các nhà nghiên cứu văn học đã dụng công đi tìm những khái quát thích hợp, như “khuynh hướng nghiêng về bình dân với sự đồng cảm chân thành” “bút pháp tả thực tỉnh táo”… song xem ra vẫn chưa tìm được danh xưng nào vừa ý. Quả là một đời văn tuy ngắn ngủi nhưng lại có một tầm vóc “ngoại cỡ”

 

        Ông này lại đánh giá văn nghiệp Thạch lam cao hơn ông kia một bậc: ngoại hạng, quá cỡ. Chúng tôi lại xin dẫn chứng một số nhận xét khác.

         Hà Văn Đức (Thế Giới Nhân Vật Thạch Lam, Văn Học Việt Nam 1900-1945, NXB Giáo dục 1997). Cho thấy lối viết Khái Hưng, Nhất Linh không thực như Thạch Lam khi so sánh các nhà văn đồng nghiệp với nhau ấy dưới đây.

 

         “Ngòi bút của Thạch Lam tỏ ra trân trọng khi viết về những mặt tốt đẹp ớ người lao động. Trong tác phẩm của những nhà văn lãng mạn như Nhất Linh, Khái Hưng, dân quê hiện ra như một đám người ngờ nghệch dốt nát, bản năng (Vọi, Trống Mái). Thạch Lam không chấp nhận cách gán cho nhân vật của mình “những đức tính và tật xấu mà người dân quê không thực có”. Ông nhìn thấy những niềm vui bình dị, những ước mơ nho nhỏ, những đức tính đẹp tiềm ẩn trong họ”.

 

        Theo chúng tôi nghĩ cá nhân anh Vọi không thể coi là đại diện cho đám dân quê, cái ngờ nghệch của anh Vọi chỉ là trường hợp cá biệt không có tính cách biểu tượng, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

       Chúng tôi xin trích dẫn tiếp vài nhận định khác, dưới đây Phong Lê trong bài Thạch Lam Trong Tự Lực văn đoàn (cuốn Văn Chương Và Cái Đẹp).

 

         “Sự sống lại những giá trị văn học tiền chiến trong đó Tự Lực văn đoàn là hiện tượng ta đang chứng kiến, nhưng tôi không tin tất cả những gì thuộc Tự Lực văn đoàn sản sinh ra đều cần được khôi phục lại. Nhiều giá trị mà Tự Lực văn đoàn xây dựng được đã bị thời đại vượt qua, có bộ phận đã bị vượt qua ngay từ trước 1945. Còn Thạch Lam thì tôi vững tin ở sự tồn tại. Nếu không là tất cả thì cũng là phần lớn những gì ông đã viết”.    

 

        Nghĩa là theo Lê Phong toàn bộ văn nghiệp của Tự Lực văn đoàn chỉ riêng có Thạch Lam là có giá trị vượt thời gian còn lại đều lỗi thời và bị đào thải.

          Dưới đây là nhận xét của Trần Ngọc Dung trong bài Phong Cách Truyện Ngắn Thạch Lam (cuốn Văn Chương Và Cái Đẹp).

 

        “Các nhà tiểu thuyết Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, cũng tỏ ra quan tâm đến nhân dân lao động. Qua các trang viết không phải họ không hiểu được những nỗi thống khổ của người dân nghèo thành thị hay nông dân lao động, nhưng tình cảm không sâu sắc, nhiều khi không tránh được thái độï khinh bạc của những trí thức trưởng giả đối với những đám người “vô học” “dốt nát”, “hủ lậu”, “bẩn thỉu”(Trống Mái, Dưới Ánh Trăng . . .của Khái Hưng. Tối Tăm, Một Kiếp Người, Chàng Nông Phu, Đầu Đường Xó Chợ… của Nhất Linh, Bùn Lầy Nước Đọng của Hoàng Đạo), nhân vật chủ yếu và lý tưởng của họ nói chung thuộc tầng lớp giầu sang, có học thức cao trong xã hội cũ (Hiền trong Trống Mái, Hạc, Bảo trong Gia Đình của Khái Hưng, Duy, Thơ trong Con Đường Sáng của Hoàng Đạo, Dũng, Loan trong Đôi Bạn của Nhất Linh). Còn Thạch Lam lại xây dựng cho mình một thế giới nhân vật khác. Ông lặng lẽ hướng ngòi bút về phía những người nghèo khổ với tấm lòng trắc ẩn thương xót chân thành”.

 

          Trần Ngọc Dung chỉ công nhận Thạch Lam là người thực sự tôn thờ nhân bản trong Tự Lực văn đoàn, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

       Một cách tổng quát chúng tôi xin thu gọn những ý kiến đánh giá cao Thạch Lam của các nhà phê bình trên đây như sau:

        -Thạch Lam là người viết hay hơn cả trong Tự Lực văn đoàn.

        -Thạch Lam là nhà văn ngoại cỡ, ngoại hạng.

        -Thạch Lam là người mô tả dân quê bằng những nét chân thực nhất, các nhà văn khác của văn đoàn như Khái Hưng gán cho dân quê những cá tính mà họ không có.

        -Chỉ có văn chương Thạch Lam là tồn tại, giá trị văn chương của các tác giả khác  trong văn đoàn đều đã lỗi thời, đã bị thời đại vượt qua.

         -Chỉ có Thạch Lam là thực sự tôn thờ nhân bản, các cây bút khác của văn đoàn như Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo. . nhìn người nghèo bằng cặp mắt khinh bạc.

        Như quí vị độc giả đều đã biết theo dư luận của các nhà phê bình và dư luận độc giả, Khái Hưng và Nhất Linh đã và đang được coi như có sự nghiệp văn chương lớn nhất trong Tự Lực văn đoàn và cũng có thể của cả nền văn chương Viêt Nam. Theo dư luận chung, Thạch Lam đã được coi như nhân vật số ba của văn đoàn. Nay theo các nhà phê bình trong nước, thứ tự ấy cần phải được định giá lại nghĩa là Thạch Lam phải là cây viết sáng giá nhất của Tự Lực văn đoàn và Khái Hưng, Nhất Linh đương nhiên phải bị hạ bệ đưa xuống dưới chưa biết xếp vào đâu.

         Các nhà phê bình có quyền đánh giá, định giá, khen chê một tác phẩm hoặc cả một công trình văn học, họ cũng có quyền định giá lại toàn bộ văn chương của một văn đoàn song không có nghĩa là ý kiến chung, dư luận chung của độc giả bị loại bỏ bởi vì người đọc cũng là một lực lượng phê bình đáng kể mà ta không thể phủ nhận hay loại bỏ một cách dễ dàng. Điều chúng tôi muốn nói ở đây là các nhà phê bình không thể bắt đám đông độc giả phải tuân theo sự lượng giá của họ trên thực tế, độc giả vẫn là độc giả, nhà phê bình vẫn là nhà phê bình.

       Các nhà phê bình Tây phương từ hơn nửa thế kỷ nay đã không ngớt lời ca ngợi ngọn bút thần sầu quỉ khốc của Dostoievsky, nhà văn hào Nga thế kỷ 19, nổi tiếng về kỹ thuật mô tả tâm lý nhân vật. Người ta bảo ông ấy là nhà văn hào vĩ đại nhất của nhân loại từ trước tới nay, văn chương của ông ấy cho đến nay vẫn còn mới không bị rơi vào cổ điển, có người cho ông là triết gia sâu sắc, kẻ nói ông là nhà phân tâm học đại tài… thậm chí có người còn so sánh tư tưởng của ông với thuyết tương đối của nhà bác học Einstein nữa…Nhưng trên thực tế số độc giả của Dostoievsky tương đối ít thôi, nhiều người lại bảo đọc sách của ông họ không hiểu ông ấy nói cái gì, cũng có nhiều người thích và khen lấy khen để văn Dostoievsky tuyệt diệu nhưng trong số này nhiều người không biết nó hay ở chỗ nào cả. 

        Và như vậy phải chăng các nhà phê bình chuyên nghiệp không thể lái độc giả theo ý mình vì độc giả cũng là một lực lượng phê bình đáng kể. Trở lại vị trí của Thạch Lam trong Tự Lực văn đoàn chúng tôi xin được đánh giá theo dư luận chung như sau.

        Theo dư luận chung Khái Hưng vẫn được coi là tác giả lớn nhất không những của Tự Lực văn đoàn mà của cả nền văn chương Việt Nam. Theo  Phạm Thế Ngũ (Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn 3), Khái Hưng là cột trụ của Tự Lực văn đoàn, sáng tác của ông trong văn đoàn dồi dào cả về phẩm lẫn lượng. Theo  Nguyễn Vỹ, người đã gặp Nhất Linh ở Sài Gòn 1952 (Kỷ Vật Cuối Cùng, Phượng Hoàng, Cali 1997) Nhất Linh cho biết trong thời kỳ sáng tác cho Tự Lực văn đoàn ông thường đưa bản thảo cho Khái Hưng sửa, cuốn nào Khái Hưng sửa nhiều thì lấy tên cả hai người, cũng có cuốn do Khái Hưng sửa nhiều nhưng vẫn để tên Nhất Linh có nghĩa là Nhất Linh tự nhận tài năng của mình thua kém Khái Hưng.

         Chúng tôi mới được tiếp xúc với cụ Nguyễn Thạch Kiên, nhà văn, đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng, cụ cho  biết Khái Hưng là người đã khuyến khích và nâng đỡ Thạch Lam. Tiểu thuyềt luận đề của Nhất Linh bị Phạm Thế Ngũ chỉ trích nặng nề  trong khi Khái Hưng không thấy bị chỉ trích, ta có thể coi Khái Hưng như cây viết suất sắc nhất của văn đoàn. Nhất Linh là người đóng góp nhiều nhất cho công cuộc cải cách xã hội, vì công lao của ông với cách mạng xã hội quá lớn nên trên thực tế người ta vẫn thường xếp ông ngang hàng với Khái Hưng.

        Và như vậy dư luận chung từ trước đến nay đã xếp hạng Nhất Linh, Khái Hưng như ngôi sao sáng của văn đoàn dĩ nhiên Thạch Lam, Hoàng Đạo sẽ đứng hạng ba, hạng tư . Ta thử so sánh toàn bộ văn nghiệp của Thạch Lam với Khái Hưng, Nhất Linh để có một kết luận khách quan công bằng hơn.

         Về mặt số lượng, văn nghiệp của Thạch Lam so với Khái Hưng, Nhất linh thật là quá khiêm tốn: một truyện dài khoảng  200 trang, ba truyện ngắn được độ 200 trang, một tùy bút khoảng 60 trang, một lý luận văn chương khoảng 70 trang, toàn bộ chỉ hơn 500 trang, dài bằng Xóm Cầu Mới của Nhất Linh hay cuốn Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng. Như vậy nếu muốn xếp hạng Thạch Lam như một ngôi sao sáng chói đứng đầu Tự Lực văn đoàn thì phẩm chất các truyện của ông phải xuất sắc gấp bội Khái Hưng, Nhất linh vì số lượng quá ít oi.

         Trên thực tế các tài liệu cho thấy truyện của Thạch Lam khó bán, hoặc bán rất chậm, ngược lại truyện của Khái Hưng, Nhất Linh như Hồn Bướm Mơ Tiên, Gánh Hàng Hoa, Đoạn Tuyệt… bán chạy như tôm tươi. Lý do gì tác phẩm của Thạch Lam không được hoan nghênh? một điều chắc chắn là nó thiếu khả năng lôi cuốn vì tác giả của nó quá chú trọng vào hiện thực và mô tả nội tâm khiến cho câu chuyện trở lên buồn tẻ. Trong bài nói về cuốn Theo Giòng chúng tôi đã phân tích về tiêu chuẩn nghệ thuật của Thạch Lam, về cái chủ quan của ông trong việc đi tìm cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn chương.

         Ông đã nói nhiều lần rằng người nghệ sĩ phải chăm chú vào sự thực, bề trong của con người, hầu như ông đã cho hiện thực, diễn tả tâm lý hướng nội là tiêu chuẩn duy nhất của nghệ thuật và không đếm xỉa gì đến những tiêu chuẩn khác. Thạch Lam chỉ trích những hạng độc giả chỉ chú ý đến cốt truyện mà không màng đến tâm lý nhân vật có đúng hay không, hời hợt hay sâu sắc, nhưng trên thực tế tiêu chuẩn nghệ thuật của một tác phẩm văn chương rất phức tạp chứ không đơn giản như tác giả đã quan niệm.

        -Đa số người đọc nếu không nói là tám mươi phần trăm chú trọng về cốt truyện, những cuốn được coi như có giá trị lâu dài vượt thời gian là những cuốn có cốt truyện hay có khả năng lôi cuốn người đọc như Tam Quốc Chí, Nghìn Lẻ Một Đêm, Hồn Bướm Mơ Tiên chẳng hạn.

        -Những tác phẩm có giá trị về lịch sử như Khói Lửa Kinh Thành (LâmNgữ Đường) Chiến Tranh Và Hoà Bình, Sông Don Thanh Bình (Sholokhov)… đã làm sống lại một giai đoạn lịch sử. 

       -Những tác phẩm có giá trị về xã hội như  Godfather có thể coi như một tài liệu đầy đủ về xã hội đen.

        -Những tác phẩm lãng mạn bay bướm như Anna Karénine, Đôi Bạn, Cuốn Theo Chiều Gió…

        -Những tác phẩm diễn tả được những ý nghĩa, luận đề như Lão Ngư Ông Và Biển Cả của Hemingway ca ngợi tinh thần phấn đấu với số mệnh đến cùng.

        Một tác phẩm văn chương hay phải là một tác phẩm cân đối và hoàn chỉnh rung cảm được người thưởng thức qua nhiều tiêu chuẩn nghệ thuật chứ không quá đơn giản như dưới cái nhìn của Thạch Lam. Sách của ông không bán được phần lớn vì buồn nản, tiếng pháp gọi là monotone mặc dù tâm lý nhân vật sâu sắc, hiện thực, tâm lý và hiện thực cũng không cứu vãn được tình thế.

         Không đủ khả năng lôi cuốn người đọc mặc nhiên về nghệ thuật cốt truyện phải thua kém Nhất Linh, Khái Hưng và nhất là tính chất lãng mạn, một yếu tố quan trọng để khiến nó đủ khả năng lôi cuốn thì truyện của Thạch Lam cũng không được phong phú cho lắm như ở Khái Hưng, Nhất Linh. Không khí yêu đương lãng mạn trong văn chương Thạch Lam so vói Nhất Linh, Khái Hưng còn thua kém nhiều. Nghệ thuật phải có tính chất đại chúng, phục vụ đám đông chứ không phải làm theo cái ý thích của mình.

         Tiểu thuyết, truyện ngắn của Thạch Lam hiện thực được cả những nền nếp phong tục xã hội, những cảnh bần cùng đói khổ của giới người nghèo cùng mạt xã hội nhưng lại không mang những ý nghĩa cách mạng, cải cách xã hội như  Đôi Bạn, Nửa Chừng Xuân, hoặc không nói lên được nhiều về những mặt trái tàn nhẫn của nền luân lý cổ như Lạnh Lùng của Nhất Linh. Thế giới giầu cũng có những cái hay riêng như trong Băn Khoăn của Khái Hưng, không phải chỉ nói về giới nghèo mới là có giá trị cao.

         Một tác giả muốn được xếp vào hàng ngoại cỡ chúng tôi nghĩ cần phải có sự toàn diện về nghệ thuật bởi vì một vài tiêu chuẩn riêng thực không đủ để xếp hạng như vậy, tiêu chuẩn nghệ thuật đa dạng và toàn diện, cái mà văn chương của Thạch Lam còn thiếu mặc dù có xuất sắc ở một vài bình diện nào đó.

         Ở đây chúng tôi không lạc đề, không chỉ trích những yếu điểm của Thạch Lam để dìm ông xuống và đề cao Khái Hưng, Nhất Linh nhưng vấn đề là chúng ta phải nhìn nghệ thuật bằng cặp mắt khách quan đứng ngoài ảnh hưởng của thành kiến. Chúng tôi đồng ý nhìn nhận Thạch Lam là một nhà văn chuyên về đoản thiên có những nét sâu sắc, độc đáo, người đã đóng góp rất nhiều cho Tự Lực văn đoàn cũng như đã tô điểm những nét đẹp cho nền văn chương Việt Nam nhưng ông vẫn chỉ là một nhân vật số ba của Tự Lực văn đoàn không hơn không kém và địa vị của Khái Hưng, Nhất Linh mà người ta thường gọi là cột trụ của Tự Lực văn đoàn là một sự kiện  dĩ  nhiên  không thể đảo ngược bởi những lý do mà chúng tôi đã diễn đạt ở trên.

        Chúng tôi xin trở lại nhận xét của những nhà phê bình trong nuớc về việc thẩm định lại giá trị văn chương của Tự Lực văn đoàn. Theo như nhận xét của Trần Ngọc Dung, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo chỉ chú trọng tới xã hội trưởng giả, giầu có, ông ngụ ý chỉ trích họ không thực sự quan tâm đến giới bình dân, nhưng đề tài văn chương đâu có thể hạn hẹp vào một khuôn khổ nhất định được. Thiên chức của nhà văn không phải chỉ để ca tụng giới bần cố nông khố rách áo ôm mà nghệ thuật của họ phải được mở rộng ra cho tới tận chân trời đến tất cả mọi khía cạnh của xã hội, con người. Chiến Tranh và Hòa Bình, Anna Karénine… của Léon Tolstoi chỉ diễn tả thế giới của giai cấp quí tộc, ông hoàng bà chúa  không ca ngợi nông dân nhưng đã chẳng được dư luận chung xếp vào hàng những công trình văn hóa nhân loại là gì?

        Các nhà phê bình khen lấy khen để Thạch Lam như một ngôi sao sáng chói nhất trên bầu trời Tự Lực văn đoàn nhưng họ lại quên chú ý đến một điểm là sách của ông bán không được, chúng ta thử tìm hiểu tại sao? Thạch Lam ca ngợi Dostoievsky như một nhà viết tiểu thuyết có giátrị nhất của thế kỷ và trên hoàn cầu, ông đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của Dostoievsky. Chủ đề chính trong các tác phẩm của nhà văn hào này là sự tranh đấu giằng co giữa thiện và ác để làm chủ tâm hồn và đã ảnh hưởng tới Hồn Bướm Mơ Tiên (Khái Hưng), Tháng Ngày Qua, Bắn Vịt Trời (Nhất Linh), Sợi Tóc, Một Cơn Giận (Thạch Lam). Thạch Lam chịu ảnh hưởng Dostoievsky nhiều nhất về thuật tả tâm trạng con người, đó chính là một trong những lý do khiến cho tác phẩm của ông khó bán vì thiếu khả năng lôi cuốn không đáp ứng được sự đòi hỏi của người thưởng thức. Người đọc có nhu cầu của họ, nhà văn viết theo sở thích của mình tức là tự mình tách rời đám đông và dĩ nhiên sẽ bị họ lơ là bỏ rơi không thương không tiếc.

        Các nhà phê bình văn học trong nước ca ngợi Thạch Lam là người yêu thương và đi sát với những người nghèo cùng khổ, nhưng sự đi sát của ông có giá trị hơn công cuộc tranh đấu cải cách xã hội của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo hay không? ï Điều mà họ nói nhìn lại lịch sử một cách công bằng phải chăng chỉ là trò LƯU MANH VĂN NGHỆ?  nhìn lại lịch sử một cách khách quan như thế phải chăng chỉ là đưa chính trị vào văn chương một cách vô cùng khôn khéo.

        Phải chăng việc các ông lên án Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo vì họ là những người quốc gia chân chính đã can đảm đứng lên chống lại một tập đoàn bịp bợm gian ác trước kia? Phải chăng việc kết án Khái Hưng là khinh bạc dân nghèo để bào chữa cho việc thủ tiêu nhà văn lớn này một cách tàn nhẫn tại bến đò Cựa Gà Nam Định 1947 mà chứng cớ còn rành rành qua lời tường thuật của các nhân chứng hiện còn sống sót trong cuốn Kỷ Vật Cuối Cùng. Nhìn lịch sử một cách khách quan như các ông chỉ là trò mập mờ đánh lận con đen, giả mù sa mưa hoặc trò tuyên truyền xảo quyệt.

       Những ý kiến lệch lạc và sai lầm tận gốc rễ ấy thực không đáng được gọi là phê bình, được viết lên bởi những kẻ đã cố tình bóp méo văn chương, bóp méo sự thật để loại bỏ những tác giả mà họ không đồng quan điểm.

        Phê bình văn học đã đóng một vai trò quan trọng không những trong văn học sử mà còn có thể ảnh hưởng tới nền văn hoá lâu dài của cả một dân tộc. Chẳng thế mà người xưa đã quan niệm: làm thầy thuốc mà sai lầm thì giết một người, làm chính trị mà sai lầm thì hại một đời, làm văn hoá mà sai lầm thì hại muôn đời.

                           Trọng Đạt

VU LAN NHỚ MẸ

NÉN HƯƠNG TÂM NIỆM

 

                                 Mỗi độ Thu sang rằm tháng bảy

                                 Dân làng mở hội đón Vu Lan

                                 Ngày vui báo hiếu trong thiên hạ

                                Đạo sáng muôn đời chiếu thế gian …

 

                    Nguồn suối yêu thương chảy ngập tràn

          Đẹp như lòng mẹ mãi thương con

          Như hoa nở giữa trời quang đãng

                  Ân nghĩa sinh thành với nước non …

 

   Ánh lửa từ bi bát ngát thiền

       Đóa hoa chân lý sáng vô biên

              Truyện xưa hiếu nghĩa soi kim cổ

               Văn hiến ngàn năm của tổ tiên …

 

                     Cây nhớ rừng xanh nước nhớ nguồn

                “Núi sông gìn giữ lấy vuông tròn”

                         Nén hương tưởng niệm chân dung mẹ

                    Phảng phất anh linh, gió gọi hồn …

 

                     Sự nghiệp gia phong nối tiếp truyền

                     Noi gương hiếu hạnh Mục Kiều Liên

                                 Chứng minh nguyện có mười phương Phật

                       Giải cứu sinh linh thoát não phiền …

 

       Mỗi độ thu sang rằm tháng bảy

   Dân làng mở hội đón Vu Lan

          Ngày vui báo hiếu trong thiên hạ

                 Đạo sáng muôn đời chiếu thế gian …

 

Nhớ ngày giỗ mẹ PL 2532

Vu Lan Mùa báo hiếu

 

Cố Đại lão Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN

Nguyên Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống I

Nguyên Cố Vấn Viện Hóa Đạo

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

 

TÌNH CHA 

  

Tình cha

cao vời vợi

Lòng mẹ

 rộng bao la

Công lao

như trời bể

Vằng vặc

tựa trăng sao

 

Cha bây giờ

đã mất

Mẹ còn đó

hắt hiu

Lòng con

đau se thắt

Tháng ngày qua

buồn thiu !!!

 

VU LAN NHỚ MẸ 

Nhận được tin mẹ mất lúc 2 giờ 35 phút

Chết lặng cả người

Ù tai hoa mắt

Đất Trời như xụp đổ dưới chân

Mím môi đau …

Nghiến răng ghìm lửa bốc … 

Mẹ ơi,

Không sao thốt nổi thành lời

Ruột đau quặn thắt rối bời lòng con

Mẹ ơi

Tự nhiên nước mắt tuôn trào

Hai tay ôm mặt thiếp vào hồn thơ !!!

  

Mẹ ơi

mẹ đã đi rồi ..!


Mẹ đi con ở

 hỡi trời cao xanh ..!


Bao năm

dưỡng dục sinh thành


Mẹ cha chỉ muốn

thằng Anh nên người ..!

Bây giờ

con lớn khôn rồi


Mẹ cha cuỡi Hạc

về trời qui tiên ..!


Ngàn năm công đức

mẹ hiền


Cổng cha dạy dỗ

trước tiên làm người ..!

Dẫu cho

vật đổi sao dời


Đất trời xụp đổ

 muôn đời không quên ..!


Công cha nghĩa mẹ

chưa đền


Nước non non nước

chẳng quên lời thề ..!

 

Mẹ ơi

ngàn dặm sơn khê


Hai mươi năm lẻ

con về cuối thu *


À ơi …

nhớ mãi mẹ ru

Nam nhì lập chí

trượng phu một lòng …

Đời con

phận số long đong


Ba chìm bảy nổi

chẳng mong ngày về


Sân si

con lạc bờ mê


Cuộc đời còn lại

nguyện thề giác tha …

 

Trần gian

 ôi cõi ta bà


Cúi đầu con lạy

mẹ cha kiếp này

Mẹ ơi

con không

thốt nổi

thành lời


Ruột đau

quặn thắt

rối bời

lòng con !!!

PHẠM TRẦN ANH

(*đi tù hai mươi năm 1 tháng)

 

MẸ YÊU 

 

Xưa bông hồng cài áo

     Nay khăn trắng màu tang

  Lòng con đau quặn thắt

Buồn này ai thấu chăng?

 

Mẹ yêu … 

Mẹ vô cùng cao cả

Mẹ của con, mẹ của chúng con

Cả đời vất vả héo hon

Nuôi đàn con dại mỏi mòn âu lo …

 

Ngày Bố mất cả nhà hụt hẫng

Mình mẹ hiền lo liệu tính toan

Một sương hai nắng chẳng màng

Ngược xuôi tần tảo cưu mang một mình …

 

Mẹ ơi … 

Bao năm dưỡng dục con còn nhớ

Ân nghĩa cù lao chửa báo đền

Chúng con cúi lạy mẹ hiền

Công cha nghĩa mẹ dòng Tiên giống Rồng

  

Ngày hai buổi cúc cung phụng dưỡng

Nhìn mẹ ăn lòng dạ xót sa

Vu Lan tháng bảy vừa qua

Cầu xin trời Phật mẹ già sống lâu …

 

Mẹ ơi …

 

Mới hôm qua con còn có mẹ

Sáng hôm nay đã mất mẹ rồi

Còn đâu bóng dáng mẹ tôi

Một đời vất vả, vun bồi đàn con …

 

 

Mẹ yêu … 

Kỷ niệm đầy vơi sao kể xiết

Trăm ngàn thương nhớ nỗi niềm riêng …

Chúng con cúi lạy mẹ hiền

Ngàn năm nhớ mãi mẹ Tiên trên đời …

  

Mẹ ơi … 

Chiều nay tiễn mẹ về tiên cảnh

Nức nở bùi ngùi dạ nhớ thương 

Mẹ ơi 

Mẫu tử vấn vương 

Mẹ con ly biệt

 

đoạn trường từ đây !!!

PHẠM TRẦN ANH

 

 

LÊ ĐẠT “Phải quét sạch mây đen…Chặt hết gông xiềng,

Lê Đạt

 

Phải quét sạch mây đen

 cho chân trời rộng mở

Chặt hết gông xiềng

 cho những cánh tung lên

Ngày và đêm

    mộng bay đầy cuộc sống

Khát vọng theo khát vọng

     Không gì ngăn cản con người.

 

Nhân câu chuyện mấy người tự tử 

 

Ðọc báo Nhân dân số 822

Có đăng tin mấy người tự tử

Vì câu chuyện tình duyên trắc trở

Ðêm mùa hè nóng nôi

   như lửa

Tôi ngồi làm thơ

Vừa giận, vừa thương mấy người xấu số

Chân chưa đi hết nửa đường đời

Ðã vội nằm im dưới mộ

Cuộc sống cho dù lắm mưa

     nhiều gió

Nhiều cay đắng xót xa

Cũng còn đẹp gấp vạn lần cái chết

Chết là hết

                 hết đau

                             hết khổ

Nhưng cũng hết vầng trăng soi sáng trên đầu

Hết những bàn tay e ấp tìm nhau

Len lén, bước chân hò hẹn

Bây giờ gặp gỡ nơi đâu?

Dù có chết cùng nhau

Cũng vẫn là chia tay vĩnh viễn

Trời đầu xuân mây vần bão chuyển

Có lạnh không?

Tôi biết hai người khổ lắm

Còn gì buồn bằng không được yêu nhau

Nhưng sao lại chết?

Nhà đạo đức vuốt hàng râu mép

Hạ kính

lắc đầu

Chép miệng

“Hòa bình chủ nghĩa”

Tôi không nghĩ vội vàng như thế

Tôi đã từng yêu

                         từng đã khổ nhiều

Nhưng không thể tán thành cái chết

Tôi không thích loại cúi đầu theo số kiếp

Không sống cùng nhau

Thà chết cùng nhau

Con người ta cần cứng một cái đầu

Chọi nhau cùng số kiếp

Cắn răng vào cứ sống cứ yêu

 

 

Khi Lương Sơn Bá tương tư trên giường bệnh

Ngày một võ vàng

Ôm bóng người yêu mà chết

Khi Chúc Anh Ðài xăm xăm vào huyệt

Theo nhau cho trọn lời nguyền,

Cả rạp lặng yên

Những chiếc khăn tay đầm đìa nước mắt,

Sự thật cuộc đời đắng cay hơn nghệ thuật,

Lương Sơn Bá, Chúc Anh Ðài

Sống không được yêu nhau,

Chết còn được hóa thành đôi bướm,

Nhưng mấy người tự tử

Xác bây giờ mục nát dưới mồ,

Biết ai thương họ?

Có phải vì chúng ta quá yêu người cũ

Mà quên người sống bây giờ?

Có phải vì chúng ta mất nhiều trong Kháng chiến,

Nên chủ trương tiết kiệm lòng mình?

Có phải vì chúng ta muôn việc rối tinh

Ðành xếp lại chuyện mấy người tự tử?

Lịch sử trải qua bao nhiêu đau khổ

Những người chết thiêu trong lửa

Những người chết gục trong tù

Những người chết treo trên cột

Tùng xẻo lăng trì

Rỏ máu trên bàn thờ nhân loại

Cho con người được làm người

Cho con người được yêu được sống

Tôi muốn gào lên cho đến khi lạc giọng:

“Không gì đau thương

                                   bằng

                                           mất một con người

 

 

Sao họ lại đưa nhau đi tự tử

Có phải họ không bằng lòng chế độ

Bất mãn với cuộc đời?

Không.

           Họ chưa hai mươi

Cô bé hôm nào mới lớn

Soi trộm vào gương, thấy má mình hồng

Nghĩ đến chuyện lấy chồng

 đỏ mặt

Người con trai ngồi trên gò đất

Thổi sáo gọi người yêu

Làm nắng chiều

                          dừng lại

Lúa đương thì con gái

Cũng thấy rộn trong lòng

Xôn xao gió thổi

Ðầu sát bên đầu bàn chuyện tương lai

Thôn xóm tan dần bóng đen địa chủ

Cuộc đời như ánh trăng mỗi ngày một tỏ

Sáng bừng lên

                       trong những chiếc hôn đầu

Chế độ ta không cấm họ yêu nhau

Mà sao họ chết?

 

 

Người công an đứng ngã tư

                                            đường phố

Chỉ huy

             bên trái

             bên phải

             xe chạy

             xe dừng

Rất cần cho việc giao thông.

Nhưng đem bục công an

                                       máy móc

                                       đặt giữa tim người

Bắt tình cảm ngược xuôi

Theo đúng luật đi đường nhà nước

Có thể gây rất nhiều chua xót

                                               ngoài đời

 

 

Ngày Phật đản vừa rồi được nghỉ

Tôi đến nhà Văn Cao

Hai đứa rủ nhau

                          đi ăn thịt chó

Văn Cao vốn là người nể vợ

Ăn xong mua một gói về nhà

Tôi bỗng giật mình,

                              (nhưng không để lộ ra)

Người chủ xé thơ tôi

                                 gói thịt

Ngay lúc đó tôi chỉ còn muốn chết

Như dại như điên tôi oán đất, oán trời.

Nhưng hôm nay tôi chỉ oán mình tôi

Thơ tôi bị cuộc đời ruồng bỏ

Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ

Vẽ phấn bôi son, tô toàn màu đỏ

La liệt đầy đường hoa nở

                                        chim kêu

“Tốt tốt!

              xà và!

                        tốt tốt!”

Qua thơ tôi

                  cuộc đời như hết chuyện

Có thể khoanh tay yên trí đi nằm

Như Thượng đế bước sang ngày thứ tám

Không! Không!

                         bóng những ngày xưa u ám

Còn lởn vởn che cuộc đời như gấu ăn giăng

Cải cách đợt năm

Tôi có qua thăm nhiều thôn xóm

Những cây lúa cúi đầu dưới ruộng

Ðã ngẩng mặt lên trời

Mơ ước mấy nghìn đời

                                     biểu tình trên dãy thẻ

Lũy tre làng phơi phới bay xa

Mở rộng cửa đón những ông chủ mới

Ruộng đất nông dân được đội về cởi trói

Nhưng còn tim

                        còn óc con người?

Giữa năm Cộng hòa lớn khôn mười một tuổi

Vẫn còn lọt lưới

                          nhiều thói “an nam”

Dán nhãn hiệu

                        “Made in Cách mạng”

Ngang nhiên xúc phạm con người

Ðẩy họ đi tự tử.

 

 

Phải quét sạch mây đen

                                       cho chân trời rộng mở

Chặt hết gông xiềng

                                cho những cánh tung lên

Ngày và đêm

                     mộng bay đầy cuộc sống

Khát vọng theo khát vọng

                     Không gì ngăn cản con người.

                                                                                     Hà Nội, tháng 6-56

                                                                                     Lê Ðạt

 

 

Bài thơ đến đây, đáng lẽ là chấm hết

Nhưng tác giả đọc cho mấy người quen biết

Thấy cần tái bút đôi lời

Một anh bạn chửi tôi:

“Hết chuyện rồi sao

Mà lại đẽo đến chuyện người tự tử

Ngậm mực phun đen chế độ”.

Anh bạn ơi!

                  Tôi khuyên anh

Không đẹp gì cái lối vu oan giá họa

Ném bã rượu vào nhà người

“Trăn năm bia đá thời mòn

Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

Lịch sử luôn luôn duyệt lại

Không ai lừa được cuộc đời

Rồi các anh sẽ phải trả lời

Trước tòa án ngày mai.

Mấy thằng bán rẻ ông cha đi làm chó

Ðánh hơi gật gù

“Lại một anh làm thơ bất mãn”

Lân la xán đến gần

Hoa tay múa chân

Rêu rao miền Bắc

Trong kia miền Nam

                                thế này

                                           thế khác.

Cút đi ngay! Ðừng giở trò kiếm chác

Ăn bẩn sủa càn

Ðất nước trong khó khăn

Ðối với chúng ta càng yêu càng quý

Con thương cha mẹ

                              lúc ốm

                                        lúc đau

Chén thuốc múi chanh bảo nhau chạy chữa.

Tôi chưa quên những  ngày qua  đau khổ

Kiếp sống nặng trên vai

                                     như một án tù

Cắt tóc đi tu

                   tu không trọn

Thuốc phiện dấm thanh không thoát nợ đời

Mười tám tuổi già hơn ông cụ

Tôi đã biết thế nào là tự tử

Nên tôi yêu tha thiết cuộc đời

Càng yêu cuộc đời

                             tôi càng yêu chế độ

Chế độ của tôi.

Sống để bụng

                    chết mang theo dưới mộ

Nhưng yêu thương

                            không có nghĩa là tụng kinh gõ mõ

Bán dầu cù là

Xoen xoét “vì Ðảng vì Dân”

Ðể lừa Dân lừa Ðảng

Cuộc đời đòi hỏi người làm thơ can đảm

Vạch mặt những con sâu cách mạng

Ẩn núp trong nếp cờ

Ðội mũ đi hia,

Phè phỡn trên lưng chế độ.

Tôi trở lại chuyện mấy người tự tử

Họ đúng hay sai,

                          thôi để họ năm yên ngủ

Dù khen dù chê

                        họ cũng đã chết rồi

Nhắc nhở chúng ta nhiệm vụ với những người còn sống

Phải hiểu

               Phải yêu

                            Phải trọng

                                            Con người…

                                                                          Hà Nội, tháng 7-56

 

© Copyright Lê Đạt 1955, 2005