VIỆT NAM NĂM NGÀN NĂM VĂN HIẾN

Giới Thiệu Tác Phẩm Lịch Sử Việt của Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh

https://www.facebook.com/vietnamnuoctoi2016/videos/1124429307752876/?t=0

 

ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC

CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ TRƯỚC KHI ĐÃ QUÁ MUỘN!

Kính Thưa Quý vị Quan khách

     Thật là một vinh hạnh lớn lao cho chúng tôi hôm nay được tham dự Buổi Lễ Tưởng niệm 44 năm Ngày Quốc Hận để chúng ta cùng nhau thảo luận về hiện tình bi thảm của đất nước và vai trò của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS chúng ta trước Đại họa mất nước.

     Thưa quý vị, Thượng viện Tiểu bang California Hoa Kỳ vừa thông qua quyết nghị SCR 7 tưởng niệm 44 năm ngày cộng sản xâm chiếm miền Nam Việt Nam và quyết nghị tháng 4 năm 2019 là “Black April-Tưởng Niệm Tháng Tư Đen”. Nội dung bản Quyết nghị ghi rõ “Ngày 30 tháng 4 năm 2019 đánh dấu 44 năm ngày Cộng sản Việt Nam xâm chiếm miền Nam VN. Điều quan trọng là chúng ta không bao giờ quên thảm kịch Black April-Tháng Tư Đen này và nhận thức được mối quan tâm hàng đầu hiện nay của những người Mỹ gốc Việt – Nhân quyền, tự do tôn giáo, dân chủ và đấu tranh chống lại nguy cơ đất nước Việt Nam bị xâm lược.

CHÚNG TA CÙNG NHAU NHÌN LẠI LỊCH SỬ                                                                                     

TẠI SAO TÀU HÁN XƯA, ĐẾ QUỐC MỚI TRUNG CỘNG LÀ KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP CỦA DÂN TỘC?

     Nhìn lại tiến trình vận động của lịch sử Việt từ thời lập quốc cho đến này nay, ai trong chúng ta cũng hãnh diện tự hào xen lẫn bi phẫn thương đau qua những thăng trầm của một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất, một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến. Dân Quân Cán Chánh Việt Nam Cộng Hòa chúng ta với di sản tinh thần cao quý, hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của hai chữ tự do cũng như ý thức được trách nhiệm của một con dân đất Việt luôn đặt “Tổ Quốc Danh Dự và Trách nhiệm” lên trên hết, việc nước trước việc nhà… Đặc biệt, ngày nay lý tưởng Dân chủ Tự do cũng như Quốc kỳ Quốc gia Việt Nam với tôn chỉ “Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm” không còn là của riêng Dân Quân Cán Chánh Việt Nam Cộng Hòa nữa mà đã trở thành một biểu tượng tranh đấu của giới trẻ Việt Nam và toàn thể đồng bào Việt Nam trong nước. Thật vậy, trong lịch sử thế giới chưa hề có một quốc gia nào, chế độ nào đã bị xâm chiếm mà sau gần nửa thế kỷ ngọn cờ quốc gia vẫn phất phới tung bay trên toàn thế giới. Cả thế giới đã phải nghiêng mình thán phục vì không có một quân đội nào đã phải buông súng trong tức tưởi nghẹn ngào mà 5 vị tướng, một bộ trưởng, hàng chục sĩ quan cấp tá và hàng trăm quân nhân đã tuẫn tiết lưu lại tấm gương hào hùng dũng liệt, “Anh hùng tử khí hùng nào tử” cho muôn đời sau. Điều mỉa mai là khi đoàn quân gọi là “Giải Phóng” tràn xuống xâm chiếm miền Nam thì hàng triệu người dân Việt đã phải bỏ nước ra đi. Hàng trăm ngàn người đã bỏ thây trên biển cả trong rừng sâu vì lý tưởng tự do… Đây là cuộc bỏ phiếu bằng chân vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

     Tại sao đất nước VN lại có những anh hùng tuẫn tiết như một huyền thoại như thế, xin thưa đó là lòng yêu nước thương nòi, khí phách hào hùng bất khuất bắt nguồn từ lý tưởng chính nghĩa quốc gia cao cả. Nói tới lòng yêu nước thương nòi thì chỉ có dân tộc VN mới gắn liền yêu nước với thương nòi từ ý niệm “Đồng bào” thân thương tuyệt vời… Ngày nay cả nước đang sống dưới sự thống trị bạo tàn bất nhân của tập đoàn Việt gian CS với nền văn hóa Mác Lê phi nhân bản, phản dân tộc nên con em chúng ta bị nhồi nhét cái gọi là duy vật sử quan, lịch sử bị xuyên tạc, sửa đổi bóp méo để viết theo nghị quyết của đảng CS nên lịch sử không còn là lịch sử nữa như nhà sử học Phan Huy Lê đã thừa nhận và đau đớn hơn khi sử gia Đào Duy Anh đã chua chát thốt lên câu nói để đời “Người ta biết tôi vì lịch sử và hậu thế cũng lên án tôi vì lịch sử!”. Trong khi đó con em chúng ta thành đạt ở hải ngoại nhưng do cuộc sống thực tế nên ít nhiều cũng quên đi phần nào bản sắc văn hóa cũng như cội nguồn dân tộc.

     Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc Việt Nam biểu trưng một triết lý văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính nhân đạo, chan chứa vẻ nhân văn, tràn đầy tình đồng bào, nghĩa ruột thịt qua hình tượng “Bọc điều trăm trứng nở trăm con”. Chính vì vậy, chỉ có dân tộc Việt Nam mới có hai chữ “Đồng bào” thân thương ruột thịt, từ đó dẫn đến ý niệm “Yêu Nước” gắn liền với “Thương nòi” vì tất cả con dân Việt Nam cùng chung một dòng máu mủ ruột rà… yêu quê cha đất tổ, tất cả đã trở thành giá trị đạo lý truyền thống của nền văn minh đạo đức Việt Nam.

    Trên thế giới Việt Nam là dân tộc duy nhất từ xa xưa cho đến ngày nay vẫn tôn thờ vị Quốc Tổ, Ông Tổ khai sinh ra đất nước Việt Nam cách đây 4.898 năm. Tại sao chúng ta có con số 4.898 năm này vì tính từ thời Đế Nghi và Kinh Dương Vương lên ngôi năm 2879 năm TDL cộng với 2019 năm nên Việt lịch là 4.898 năm. Đây là đạo lý truyền thống cao đẹp của một dân tộc tôn trọng giá trị của con người, truyền thống Nhân bản xem con người là căn bản, là đích điểm để phục vụ. Đây cũng là truyền thống “Uống nước nhờ nguồn” đạo lý làm người là phải biết ơn người có công lập quốc, biết ơn “ Tổ Tiên”  nguồn cội của dòng họ cho đến ông bà cha mẹ của mỗi chúng ta… Quý vị và các bạn đã biết rằng duy chỉ có dân tộc Việt Nam còn tôn thờ Quốc Tổ mà tiền nhân chúng ta chỉ đảo ngược Quốc Tổ thành Tổ Quốc biểu tượng của Hồn thiêng sông núi u linh bàng bạc kết tụ anh linh của các anh hùng dân tộc, anh thư liệt nữ cùng các chiến sĩ vô danh bao đời bảo quốc an dân mà không một dân tộc nào có được ý niệm Tổ Quốc biểu trưng của hồn thiêng sông tuyệt vời như dân tộc Việt Nam.

    Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua gần một ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch tà thuyết Cộng sản với nền văn hóa Mác Lê phi nhân phản dân tộc. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Trong suốt dòng lịch sử, Tàu Hán xưa và đế quốc mới Tàu Cộng ngày nay đã xâm lược nước ta tổng cộng lớn nhỏ 26 lần và thống trị dân ta 9 lần gần 1 ngàn năm.

     Thế nhưng sức sống mãnh liệt của dân tộc đã vùng lên giành lại độc lập từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, bậc Nữ lưu Anh Thư không chỉ của Việt Nam mà còn là của nhân loại đã được TT HK Donald Trumg ngợi ca trong lần tham dự hội nghị Apec 2017 tại Việt Nam. Đặc biệt, sau chiến thắng lịch sử của anh hùng dân tộc Ngô Quyền năm 938 giành lại độc lập tự chủ cho dân tộc VN mà mới đây bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ tướng Mattis đã phải đến thăm trận địa bãi cọc ngầm dưới lòng sông và dâng hương tưởng nhớ các anh hùng dân tộc Việt tài ba lỗi lạc. Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ triều đại nào, tập đoàn cầm quyền nào của Tàu Hán cũng chủ trương xâm chiếm nước ta bằng mọi giá nên Đế quốc Tàu Hán xưa và đế quốc mới Tàu Cộng ngày nay chính là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam.

    Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay.  Trong lịch sử nhân loại, không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung Quốc xuống phương Nam. Các nhà Việt Nam học khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam vẫn đặt ra 2 câu hỏi mà vẫn chưa được lý giải thỏa đáng, đó là tại sao triều đại nào của Trung Quốc cũng chủ trương xâm chiếm lãnh thổ và tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá và yếu tố nào đã giúp dân tộc Việt Nam tạo nên kỳ tích là sau gần 1 ngàn năm bị thống trị mà dân tộc Việt vẫn vùng lên giành lại được độc lập dân tộc? Thật ra, tìm hiểu suy ngẫm lại toàn bộ tiến trình lịch sử thì chúng ta thấy ngoài lý do vị trí địa lý chiến lược và tài nguyên, có 2 lý do chính để Hán tộc phải tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá. Lý do chính là Hán tộc đã lấy văn hóa Việt cải biến thành văn hóa Hán, văn minh Hán và lãnh thổ Trung Quốc ngày nay chính là địa bàn cư trú của tộc Việt mà Hán tộc đã xâm chiếm và quan trọng hơn nữa là quá nửa dân số Trung Quốc là người gốc Việt cổ. Đây là một nguy cơ tiềm tàng đe dọa sự sống còn của Trung Quốc nên triều đại nào, giới cầm quyền nào cũng chủ trương xâm lược tiêu diệt dân tộc chúng ta.

     Thưa quý vị, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên toàn thế giới được kết quả khoa học mới nhất thuyết phục nhất đã phục hồi một sự thật lịch sử là đại chủng Hoabinhian Protoviets là một đại chủng lớn của những người Tiền sử từ châu Phi tới định cư ở vùng Hòa Bình lưu vực sông Hồng sông Việt (Việt Giang) cách đây từ 70 tới 85 ngàn năm và thành lập nền văn hóa Hòa Bình được xem là cổ nhất của nhân loại. Người Hòa Bình chính là người Tiền Việt, người Việt cổ sau này là cư dân đầu tiên cư trú trên toàn lãnh thổ Trung Quốc mà Hội thảo các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới kể cả TQ, Đài Loan tại Đại học Berkeley năm 1978 đã các định người Di Việt cư trú trên lãnh thổ TQ đầu tiên và tiếp nhận văn hóa văn minh của Di Việt nên cái gọi là văn minh TQ chính là văn minh Bách Việt. Kết quả phân tích cấu trúc mã di truyền DNA cho biết Dân tộc Việt là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất. Dân tộc Việt có cấu trúc di truyền khác hẳn người Trung Quốc (Tàu Hán) và người Việt có cùng một mã di truyền Genom DNA với Haloptype A,B,C,D và yếu tố đột biến di truyền châu Á với cư dân Đông Nam Á lục địa và Hải đảo kể cả người TQ gốc Việt cổ ở miền Đông Bắc, miền Nam và với thổ dân châu Mỹ Ameriviets nữa. Kết quả genome mã di truyền cũng cho biết là gần 2/3 dân số Trung Quốc là người TQ gốc Việt cổ vì có cùng DNA với Việt Nam. Xâm chiến toàn bộ lãnh thổ cổ xưa của tộc Việt, lấy văn hóa văn minh Việt làm văn minh và quá nửa dân số TQ là người Việt cổ, đây là tử huyệt của đế quốc mới TC nên triều đại nào của Tàu Hán và Tàu Cộng đều chủ trương xâm chiếm và tiêu diệt VN bằng mọi giá.

ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM CÒN HAY ĐÃ MẤT?!

     Thời Thực dân Pháp đô hộ VN thì nhà cách mạnh Phan Bội Châu đã viết Ái Quốc Ca rồi Huyết lệ Thư, ngày nay nhạc sĩ yêu nước Việt Khang đã viết Huyết Lệ Ca “Việt Nam Tôi đâu?” VN còn hay đã mất mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương tôi?!!! Ngày nay mà còn một số người còn bán tín bán nghi rằng có mật ước Thành Đô hay không?. Chúng ta chỉ xem những gì Việt gian Cộng sản thực hiện từ 4-9-1990 tới nay và đặt câu hỏi “Tại sao…” Việt gian bán nước phải làm thì câu trả lời Mật Ước bán nước Thành Đô là có thật. Nếu không phải là Mật ước bán nước thì tại sao Nguyễn Cơ Thạch, bộ trưởng ngoại giao CHXHCNVN phải cay đắng thốt lên “Một Thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu!!!” và nếu không có mật ước bán nước thì tại sao Việt gian Nguyễn Phú Trọng lại phải thêm 1 ngôi sao chư hầu cùng với 4 ngôi sao Mông, Mãn, Tạng, Hồi trên lá cờ Trung Quốc? Nếu không có mật ước bán nước thì tại sao và tại sao sẽ trả lời cho chúng ta …

     Không phải năm 1990 Việt gian CS mới ký Mật ước Thành Đô mà ngay từ năm 1953 Hồ Chí Minh đã ký “Giao Ước Ghi Nhớ Hợp tác Việt Trung” số VT/GU-0212 ngày 12-6-1953 tại Quảng Tây trong đó có các điều khoản cam kết chấp nhận Việt Nam là 1 quân khu như quân khu Quảng Châu của Trung Quốc ngày 12-6-1953 tại Quảng Tây. Hồ Chí Minh đã ký thỏa thuận giao quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, sau đó là cả Việt Nam trở thành một bang của Trung cộng theo mô thức Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết sau khi chiếm được toàn cõi Việt Nam.[1]( Điều 1: Chính phủ Trung Quốc sẽ đồng ý viện trợ vũ khí theo yêu cầu chi viện của quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra sẽ gửi các cố vấn, chuyên gia quân sự để giúp đỡ quân đội nhân dân Việt Nam. Điều 2: Đảng Lao động do đồng chí Hồ Chí Minh lãnh đạo đồng ý sáp nhập đảng Lao Động Việt Nam là một bộ phận của đảng cộng sản Trung Quốc. Điều 3: Hai bên thống nhất Việt Nam dân chủ cộng hòa là một bộ phận của cộng hòa nhân dân Trung Hoa với quy chế của một liên bang theo mô hình các quốc gia nằm trong Liên Bang Xô Viết (Phụ lục đính kèm)…

     Cuộc xâm chiếm VN lần thứ 27 này không cần tiếng súng mà qua quyền lực ngầm của đế quốc mới Trung Cộng khống chế VN toàn diện với những tên Thái thú xác Việt hồn Tàu nên phần lớn chúng ta chưa thấy rõ được đại họa mất nước! Ngày nay, chúng ta đau đớn nhìn những gì tập đoàn Việt gian bán nước đã và đang thực hiện từ khi Nguyễn Phú Trọng ký 15 văn kiện bán nước đến 17 văn kiện Nguyễn Xuân Phúc sắp ký tại Bắc Kinh để thực hiện những bước cuối cùng để biến VN thành một khu tự trị dân tộc Kinh thuộc TQ. Chúng ta thực sự đã và đang mất nước dần dần vào tay Tàu Cộng. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm gì trước khi đã quá muộn? Toàn dân VN chúng ta phải làm gì trước khi đất nước Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ thế giới và dân tộc Việt sẽ tiêu vong. Chúng ta sẽ đắc tội với tiền nhân và con cháu muôn đời sau sẽ nguyền rủa oán hận thái độ thờ ơ vô cảm của những người Việt Nam hôm nay…

     Đế quốc Trung Cộng chỉ mới xâm chiếm Tây Tạng từ năm 1959 đến nay mới có hơn một nửa thế kỷ mà Đức Đạt lai Lạt Ma của Tây Tạng đã ngậm ngùi cay đắng thốt lên: “Tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ và nhân cách của các thế hệ Tây Tạng, vốn quý giá hơn mạng sống của họ, nay đã gần như bị tiêu diệt ! Đảng cộng sản và nhà nước Trung Cộng đã biến Tây Tạng thành một “Địa ngục trần gian”!. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta ở Hải ngoại phải đoàn kết một lòng, quyết tâm ủng hộ cho tiền tuyến VN cho hơn chin chục triệu đồng bào VN trong nước như cộng đồng Ba Lan đã gửi tiền của về yểm trợ cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền Cộng Sản.  Chúng ta sẽ thành lập một Quỹ Cứu Quốc do các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo cùng vận động giám sát để yểm trợ cho các tù nhân lương tâm, các nhà đấu tranh dân chủ và đồng bào dân oan trong nước như cộng đồng lưu vong Ba Lan đã thực hiện để cứu dân cứu nước. Đồng bào Hải ngoại quyết tâm đoàn kết, yểm trợ Quốc nội, Dệt kẻ Nội thù, chống quân Tàu Cộng xâm lược. Hồn thiêng sông núi, anh linh của anh hùng liệt nữ sẽ phù trợ cho chúng ta trong sứ mạng cao cả cứu dân cứu nước này. Nếu mỗi con dân đất Việt ở hải ngoại chỉ ủng hộ quỹ Cứu Nước 1 dollar, chúng ta sẽ có ngân khoản hơn 4 triệu dollars chưa kể các mạnh thường quân yêu nước sẽ ủng hộ. Hành động vì dân vì nước này sẽ lưu danh trong sách sử đến muôn đời.

     Thưa quý vị, chúng ta đôi khi chán nản khi thấy cộng đồng người Việt Hải ngoại đang sa vào cái gọi là nghị quyết 36 nên thay vì chống Cộng chúng ta quay ra đánh phá nhau. Không phải Việt gian CS mạnh mà do chúng đang suy yếu nên mới tìm cách tung tin gây chia rẽ phân hóa sức mạnh của chúng ta. Chúng tôi xin thông báo cùng quý vị sự đánh phá lẫn nhau chỉ là hiện tượng nổi do một số cá nhân mà đằng sau là bàn tay của đặc công nằm vùng CS nhưng đồng bào VN ở khắp thế giới đã thống nhất một tiếng nói chung “Diệt Kẻ Nội Thù-Chống quân xâm lược”. Đó là Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại VN đã thành lập được hơn 3 năm qua, hội đồng Liên kết bao gồm 5 vị lãnh đạo tinh thần trong Hội Đồng Liên Tôn VN và các đại diện hội đoàn đoàn thể khắp các châu lục đã tạo thành một tổng lực đánh ngay vào tử huyệt của tập đoàn Việt gian CS. Đã đến lúc tất cả con dân đất Việt chúng ta phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết quên đi mọi tị hiềm đố kỵ cá nhân, quyên đi địa phương tôn giáo, hội đoàn đoàn thể để cùng với toàn dân trong nước chung lưng đấu cật diệt kẻ nội thù trong một chiến tuyến chung “Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước” để góp phần chuyển đổi lịch sử. Xin được thay mặt cho Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam trân trọng gửi lời chào mừng đến quý đồng hương ở Canada và tha thiết kính mời quý vị chúng ta cùng nhau góp sức lo cho đại cuộc cứu dân cứu nước .

    Thưa quý vị, mặt khác đất nước Việt Nam của chúng ta sau ngày 30-4-1975 với sự thống trị của tập đoàn Việt gian Cộng Sản là một chuỗi những tang thương mất mát, lòng người ly tán, nghèo nàn lạc hậu, đất nước mất dần vào tay Tầu Cộng. Bên cạnh những mất mát đó, điều kiện khách quan của lịch sử khiến hàng triệu đồng bào phải rời bỏ quê hương ra đi tỵ nạn trên khắp thế giới.  Sau hơn 43 năm đồng bào Việt Nam cư trú tại Hải ngoại đã lên tới hơn 4 triệu người Việt Nam với số lượng trí thức chuyên viên giỏi nhất và nhiều nhất thế giới mà không một dân tộc nào có được. Tinh thần hiếu học cùng với ý chí tiến thủ, con em của chúng ta đã thành đạt và đã đóng góp rất nhiều với những quốc gia sở tại như những công dân danh dự của nước này.

    Điều kiện khách quan của lịch sử cũng đã tạo cho Việt Nam chúng ta có những người Mỹ gốc Việt, người Canada gốc Việt, người Nhật gốc Việt, người Đức gốc Việt, người Anh gốc Việt, người Pháp gốc Việt, người Nga gốc Việt, người Ba Lan gốc Việt… người Việt chúng ta, ngôn ngữ của chúng ta trải ra khắp thế giới. Với điều kiện khách quan của lịch sử và với sức sống vô biên của dân tộc, chúng ta đã thành hình một Đại Việt Nam siêu biên cương trên toàn thế giới. Với truyền thống yêu nước thương nòi của người Việt khắp nơi trên thế giới mặc dù sinh sống ở đâu lòng vẫn hướng về tổ quốc, về quê hương đất nước Việt Nam vẫn quây quần tụ hội trong tình ruột thịt, nghĩa đồng bào dưới “Mái Nhà Việt Nam” tại mỗi quốc gia, mỗi tiểu bang, mỗi quận hạt thành phố. Giới trẻ Việt Nam thành đạt ở Hải ngoại sẽ hội nhập vào dòng chính để có những dân biểu nghị sĩ như cộng đồng Do Thái để hỗ trợ cho tiến trình dân chủ hóa VN tiến tới giải thể bạo quyền CS như lời kêu gọi của TTHK Donald Trump.

      Sau khi chế độ Cộng sản xụp đổ, những người Việt Nam lưu vong sẽ trở về mang theo tài sản, vốn tri thức để đóng góp tài năng trong công cuộc kiến quốc và hưng quốc Việt Nam. Thế hệ trẻ sẽ ở lại hội nhập vào dòng chính của đất nước, quê hương thứ hai sau Việt Nam.    Yêu cầu lịch sử đặt ra cho giới trẻ tại Hải Ngoại mà điều kiện khách quan của lịch sử đã tạo cho dân tộc chúng ta một thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức thời đại để hoàn thành một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật siêu vượt, đưa đất nước chúng ta bước lên sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Trước mắt, chúng ta phải hội nhập vào dòng chính trên các lãnh vực từ khoa học kỹ thuật tới văn hóa xã hội, từ kinh tế tới chính trị như cộng đồng Do Thái để trở thành những dân biểu nghị sĩ đóng góp công sức xây dựng quốc gia sở tại, đồng thời không quên yểm trợ cho quê hương Việt Nam của chúng ta như cộng đồng Ba Lan lưu vong đã làm để giải thể bạo quyền Cộng sản. Tất cả sẽ tạo nên một sức mạnh Việt Nam tiềm tàng, một Việt Nam siêu biên cương chắc chắn sẽ đóng góp hết sức to lớn trong công cuộc kiến thiết quốc gia và phục hưng quốc gia Đại Việt Nam sau đại nạn CS.

     Chúng ta phải làm sao xứng đáng với tiền nhân, chúng ta phải làm gì để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với anh linh của những anh hùng liệt nữ Việt Nam. Chúng ta hãnh diện được làm người Việt Nam thuộc một đại chủng lớn của nhân loại để ngẩng cao đầu sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Chính niềm tự hào dân tộc sẽ thôi thúc lòng yêu nước của toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ trong nước và Hải ngoại quyết tâm làm một cuộc cách mạng Dân tộc Cứu Quốc.

    Đất nước Việt Nam đang bước qua một khúc quanh lịch sử quyết định sự sống còn của dân tộc nếu toàn thể đồng bào Việt Nam trong nước không đứng lên đáp lời sông núi trên toàn quốc đồng loạt xuống đường đấu tranh giải thể bạo quyền, giành lại dân chủ tự do và quyền sống làm người, quyền làm chủ đất nước. Sứ mạng lịch sử của tất cả chúng ta và đặc biệt là thanh niên sinh viên giới trẻ quốc nội và Hải ngoại, tương lai của đất nước phải kết hợp thành một Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước để quyết tâm hoàn thành một cuộc cách mạng Dân tộc Cứu Quốc và kế tiếp là cuộc cách mạng dân tộc kiến quốc để hưng quốc Việt Nam

    Như chúng ta đã biết thời đại của chúng ta là thời đại của cách mạng truyền thông với không gian mạng internet toàn cầu mà giới trẻ Ai Cập và mới đây Algerie đã vận dụng Facebook, tistter để chuyển đổi lịch sử. Chính vì vậy, nhiệm vụ trước tiên mà giới trẻ chúng ta phải làm là xây dựng từng nhóm liên kết quốc nội Hải ngoại để cùng nhau trao đổi kiến thứcgóp phần nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, phục hồi hào khí Việt để cứu quốc và phục hưng Đại Việt Nam. Hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa đã và đang phát triển vượt bực, yêu cầu của chúng ta đặt ra là phải thành lập Phong trào Hậu duệ tại các nước, tại mỗi tiểu bang, mỗi thành phố lớn. Đồng thời chúng ta tổ chức một Biệt đoàn Văn nghệ Đấu tranh do ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh, ca sĩ Thế Sơn, ca sĩ Huỳnh Phi Tiễn… đi khắp các nơi phát động Phong Trào Toàn Dân Cứu Nước chắc chắn sẽ được sự ủng hộ nhiệt tình của đồng bào VN ở Hải ngoại.

     Giới trẻ trong nước phải vận dụng tối đa phương tiện messenger, tistter để vận động các nhóm truyền thông, mỗi nhóm 10 người, mỗi người xây dựng phát triển 10 bạn bè thân hữu đồng chí hướng để thông báo mục tiêu tranh đấu trước đại họa mất nước, đặc khu nhượng địa, luật an ninh mạng, nạn ô nhiễm môi trường Fomosa, nạn chiếm đoạt đất đai nhà cửa của đồng bào dân oan… Đặc biệt giới trẻ chúng ta phải phát động các cuộc đấu tranh bảo vệ đời sống thiết thực của người dân như vật giá lên cao, tăng giá xăng dầu, BOT, Xây dựng đường cao tốc Bắc Nam, nạn sách nhiễu tình dục học sinh trẻ em, nạn bạo hành ở trường học, vấn đề tệ trạng y tế sán lợn… Chúng ta nhắn tin vận động các nhóm theo cấp số nhân tăng lên 10 x 10 = 100 x 10 = 1000 x 10 = 10000 x 10 = 100.000 x 10 = 1.000.000, thông báo địa điểm tập họp, linh hoạt thay đổi địa điểm để an ninh CS không kịp trở tay đối phó và một khi có số lượng đông đảo đồng bào tham gia xuống đường đồng loạt cùng một ngày giờ, đồng loạt trên cả nước thì bạo quyền sẽ quỳ gối đầu hàng… và lịch sử sẽ bước sang một trang mới xán lạn huy hoàng chấm dứt thảm họa Cộng sản hãi hùng hơn 2/3 thế kỷ qua…

     Toàn thể đồng bào trong nước và Hải ngoại cùng nắm chặt tay nhau, muôn người như một cùng đứng lên đáp lời sông núi để cứu quốc và hưng quốc, tô điểm giang sơn gấm vóc, xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng. Với sức sống vô biên của người Việt Nam chúng ta, với “Đại Nghĩa Cao cả” của Hào khí Diên Hồng-Tây Sơn Thời Đại, chúng ta nguyện làm hết sức mình, quyết tâm tranh đấu cho: Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn, Dân Tộc Việt Nam bất diệt, Đất nước Việt Nam Phú Cường, Toàn dân Việt Nam sung túc an lạc. Chân thành cám ơn quý vị, quý đồng hương đã lắng nghe tâm tình của một con dân yêu nước và trân trọng kính chào quý vị.

 

LỊCH SỬ VIỆT

 

 

 

 

 

 

 

    https://youtu.be/fLfBQJLTzEY

HUYẾT LỆ THƯ
CỨU DÂN CỨU NƯỚC

Quốc phá Gia vong, vong Quốc nhục
Ngàn năm Quốc hận, Quốc dân ơi!?

Trước bàn thờ Quốc Tổ, biểu trưng của Hồn thiêng sông núi, của Tổ Quốc Việt Nam, chúng con toàn thể đồng bào Việt Nam xin cúi đầu tưởng niệm những anh hùng dân tộc đã hy sinh để tổ quốc Việt Nam trường tồn, Dân tộc Việt Nam bất diệt.

Nhớ xưa Quốc Tổ mở nền, Văn Lang một cõi

Văn hiến ngàn năm, Trải bao hưng phế thăng trầm

Tổ Quốc vẫn trường tồn, Dân tộc Việt bất diệt

Sử sách Việt ngàn năm ghi nhớ

Phù Đổng Thiên Vương đại thắng giặc Ân

An Dương Vương đánh tan 50 vạn quân Tần, Đồ Thư bỏ mạng

Triệu Vũ Đế dựng xây Nam Việt

Uy danh lừng lẫy, Bách Việt rạng rỡ trời Nam

Hán Văn Đế cầu xin hòa hiếu

Giao trả Lĩnh Nam, Đường đường một cõi

Lịch sử Việt hào hùng bất khuất

Gần ngàn năm nô lệ Bắc phương

Anh hùng Liệt Nữ, Đời đời nối tiếp

Đứng vùng lên cứu nước Việt Nam

Anh Thư nước Việt

Trưng Nữ Vương đánh đuổi Tô Định xâm lăng

Phục hồi Hùng Lạc, hậu duệ vua Hùng

Lý Trường Nhân giành quyền tự chủ…

Lý Nam Đế đánh dẹp quân Lương

Xưng Nam Việt Đế, Quốc hiệu Vạn Xuân

Những Anh hùng Dân Tộc

Kể sao cho hết, từ Mai Hắc Đế đến Bố Cái Đại Vương

Vì dân cứu nước

Danh nhân lịch sử, tài trí phi thường

Khúc Thừa Dụ, Chiếm Lĩnh Nam chỉ xưng Tiết Độ

Mở nền tự chủ, Tế thế an bang

Bờ cõi vững vàng, Việt Nam sang trang sử mới

Chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử, Nam Hán tan hàng

Ngô Quyền dựng nên, Kỷ nguyên Độc lập

Đinh Tiên Hoàng Đế Dẹp loạn Sứ quân, Đại Cồ Việt nước

Phạt Tống bình Chiêm, Đại Hành Hoàng Đế

Đại Việt Triều Lý, Rạng rỡ trời Nam

Danh Tướng Lý Thường Kiệt, Tiến đánh Ung-Liêm, Tan tành Trung Quốc

Vận nước đổi thay, Thái bình thịnh trị

Cả thế giới cúi đầu kinh sợ

Đạo quân Mông hung hãn bạo tàn

Ba lần sang đánh Việt Nam, Ba lần đại bại rành rành sử ghi

Hốt Tất Liệt hung hăng, Buộc ta quy phục

Đại Đế Thái Tông

Đại thắng quân Mông, manh giáp không còn

Chiến tích thần kỳ, Thế giới ghi công

Đạo quân “Bách chiến bách thắng”

Từ Á sang Âu, Chỉ thua Đại Việt

Hào khí Diên Hồng, Toàn dân quyết chiến

Hưng Đạo Đại Vương, Hai lần chiến thắng

Quân Nguyên xâm lược, Lừng danh thế giới

Mười năm kháng chiến, Lam Sơn khởi nghĩa

Lê Lợi lên ngôi, Danh thần Nguyễn Trãi tuyên xưng “Bình Ngô Đại Cáo”

Duy Ngã Đại Việt Chi Quốc, Thực vi văn hiến Chi Bang

Chỉ có nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền văn hiến ngàn năm

Từ Triệu, Đinh, Lê, Lý Trần, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh

Mỗi bên hùng cứ một phương, Phong tục Bắc Nam cũng khác…

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Nhưng Hào Kiệt đời nào cũng có…

Đánh cho để đen răng, Đánh cho được để dài tóc

Đánh cho xe giặc tan tành, Đánh cho quân thù tơi tả

Đánh cho lịch sử biết rằng, Đất nước Việt Nam hùng anh ta có chủ

Hoàng Đế Quang Trung,                                                        

Chiến thắng Rạch Gầm, 5 vạn quân Xiêm phơi xác

Tốc chiến tốc thắng, Diệt gọn 20 vạn quân Thanh, Thần kỳ lịch sử…

Hỏa Hồng Nhật Tảo kinh thiên Địa, Yên Bái ngàn sau đuốc sáng soi

Việt Nam Muôn Năm, Đầu người rơi rụng

Việt Nam Muôn năm, Người khác tiến lên

Việt Nam Muôn năm, Người người nằm xuống

Việt Nam muôn năm, Anh dũng đứng lên

Việt Nam Muôn năm, Anh hùng cứu quốc

Việt Nam Muôn năm, Sống mãi muôn đời…

Kính thưa toàn thể đồng bào,

Lịch sử Việt hào hùng bất khuất, thế mà bất hạnh thay cho dân tộc vì trong lịch sử Việt chưa có triều đại nào bất nhân hại dân bán nước như tập đoàn Việt gian Cộng sản ngày nay. Kể từ thành lập ngày 3-2-1930, đảng Cộng sản Việt Nam đã hủy diệt văn hóa truyền thống Việt, cấm đoán các tôn giáo chơn truyền để tôn thờ chủ nghĩa duy vật vô thần, thực hiện nền văn hóa Mác Lê vô Tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo.

Hơn 2/3 thế kỷ, tập đoàn Việt gian Cộng sản Bất nhân Hại dân Bán nước đã đào tạo những con người lạnh lùng vô cảm, những cỗ máy vô cảm công cụ phục vụ cho chế độ độc tài toàn trị, đồng thời thành lập các tôn giáo quốc doanh để mua chuộc phân hóa tôn giáo, thế tục hóa tôn giáo để người dân mất niềm tin vào đạo giáo hầu dễ bề thống trị. Nền văn hóa vô sản đã thay thế văn hóa dân tộc, luân lý đạo đức suy đồi, xã hội sa đọa, con người lạnh lùng vô cảm mất hết tính người chà đạp lên nhau mà sống, giết người không gớm tay, xã hội không còn đạo lý tình người của truyền thống nhân bản Việt Nam.

Thưa toàn thể đồng bào, tội ác của tập đoàn Việt gian Cộng sản ngày càng chồng chất, tiếng kêu khóc oán than uất hận của người dân thấu tận trời xanh đến nỗi “Chặt hết trúc rừng Nam cũng không ghi đủ tội ác, Tát cạn biển Đông cũng không rửa sạch tanh hôi của loài quỷ Đỏ nên Thần-Người đều căm hận, Trời-Đất chẳng dung tha!!!”.

Tập đoàn Việt gian CS đã gia nhập hàng ngũ Cộng sản quốc tế nên ngày 18-1-1950 và ngày 31-1-1950, nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Cộng hòa Liên bang Sô Viết (Liên Sô) đã công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Chính vì vậy, ngày 7-2-1950 Hoa Kỳ, Anh và các nước thế giới tự do công nhận chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo. Chính tập đoàn Việt gian Cộng sản đã đưa dân tộc Việt Nam vào cuộc chiến tranh ý thức hệ hy sinh gần 1 chục triệu người dân vô tội.

Ngày 20-7-1954, tuân theo chỉ thị của Trung Quốc và Liên Sô ký kết hiệp định Genève chia đôi đất nước. Trong thời gian thống trị miền Bắc, tập đoàn Việt gian Cộng sản đã phát động phong trào đấu tố để cướp đất đai ruộng vườn tư hữu của người dân, thực hiện chiến lược “Bần Cùng hóa” nhân dân, giết chết gần 200 ngàn người dân vô tội.

Ngày 20-12-1960, thi hành chỉ thị của Mao Trạch Đông phát động cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam. Sau cuộc “Tổng Công Kích” tết Mậu Thân thất bại, Việt gian Cộng sản đã tàn sát dã man, chôn sống hơn 5 ngàn người dân kể cả đàn bà và trẻ em.

Ngày 30-4-1975, vi phạm hiệp định Paris đem quân xâm chiếm miền Nam, thực hiện chế độ độc tài toàn trị, tước đoạt mọi quyền tự do căn bản của người dân, đưa nhân dân vào cảnh khốn cùng và khiến đất nước Việt Nam trở thành những nước nghèo nàn lạc hậu nhất thế giới thậm chí thua cả Lào và Cambodia…

Sau khi Liên Sô và các nước Đông Âu sụp đổ hết chỗ nương tựa, tập đoàn Việt gian Cộng sản vội vàng quỳ gối xin lập lại quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh nên cúi đầu ký kết Cái gọi là Mật Ước Thành Đô. Chính vì vậy, tập đoàn Việt gian đã nhường đất nhường biển, thỏa thuận nguyên tắc cơ bản và mới đây ký kết những văn bản cuối cùng thực hiện trước thời hạn trở thành khu Tự trị năm 2020.
Chủ trương Hán hóa dân tộc Việt đư

ợc thực hiện từng bước một với việc Tập Cẩm Bình ban chỉ dụ tại quốc hội, thành lập viện Khổng Tử, cung hữu nghị Việt Trung, đồng thời, bắt các em học sinh từ cấp 1 tới cấp 3 phải học tiếng Trung kể từ niên học 2018 để Hán hóa người Việt ngay từ khi còn đi học. Ngày 07 tháng 4 năm 2015, Tập Cận Bình hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Đại lễ đường Nam Hải. Trung Quốc – Việt Nam nhấn mạnh ” Phát triển lành mạnh và ổn định trên một lãnh thổ có hai dân tộc. Đồng thời thực hiện Hiệp ước (2016-2020) do lưỡng đảng ký kết” để từng bước trở thành Khu Tự trị của Đế quốc mới Trung Cộng.

Năm 2017 vừa qua, tập đoàn Việt gian Cộng sản đứng đầu là tên phản quốc Nguyễn Phú Trọng đã ký kết thực hiện những văn kiện cuối cùng thi hành trước năm 2020, thời điểm mà mật ước bán nước Thành Đô 4-9-1990 quy định Việt Nam trở thành Khu tự trị của Trung Quốc. Mới đây, tên tay sai Bùi Hiền từng đi du học Trung Quốc, đảng viên của đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra đề nghị thay lối chữ mới. Đây là chủ trương hết sức thâm độc quỷ quyệt của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc để xóa bỏ, triệt tiêu văn hóa Việt vì một khi bỏ chữ quốc ngữ, thay vào lối chữ mới lai Tàu thì 5, 10 năm sau, con em chúng ta sẽ không còn biết gì về lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt nữa.

Năm 2018 vừa qua, sau khi kiêm nhiệm chức CT nhà nước CHXHCNVN Việt gian Nguyễn Phú Trọng quyết tâm thực hiện những bước cuối cùng để biến Việt Nam thành Khu Tự trị Dân tộc Kinh của Trung Quốc. Tập đoàn Việt gian CS đã thông qua luật an ninh mạng, luật thiết quân luật, tiến hành đặc khu kinh tế Quảng Ninh, cho Hải quân tham gia tập trận chung với Trung Quốc, cử Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch sang Bắc Kinh cam kết chiến đấu đến người Việt Nam cuối cùng để bảo vệ thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa…

Hồi chuông báo tử của tập đoàn Việt gian Cộng sản đã điểm nên điên cuồng bắt bớ xét xử các nhà tranh đấu dân chủ, Khủng hoảng kinh tế tài chánh, ngân sách cạn kiệt, nợ công ngập đầu và nhất là nội bộ đang đấu đá quyết liệt, chắc chắn sẽ tiêu vong trong một ngày gần đây. Đặc biệt là Hoa Kỳ đã chính thức trở lại Biển Đông Nam Á với sự hiện diện tại Đà Nẵng của Hàng Không Mẫu Hạm vì quyền lợi thiết thân của họ nên sẽ là đồng minh của chúng ta đối đầu với đế quốc mới Trung Cộng.

Thưa toàn thể đồng bào, chỉ còn không đầy 1 năm nữa thì đất nước Việt Nam sẽ trở thành một khu Tự trị của đế quốc mới Trung Cộng, đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới, dân tộc Việt Nam sẽ bị tiêu vong!!!

Trong giờ phút thiêng liêng Giao Thừa của Tết Kỷ Hợi, vang lên lời kêu gọi cứu dân cứu nước của Hồn thiêng sông núi, anh linh của các anh hùng liệt nữ bao đời cứu quốc an dân, toàn thể đồng bào Việt Nam phải quyết tâm đứng lên đáp lời sông núi trước khi đã quá muộn. Lịch sử Việt đã ghi dấu ấn tích về “Mùa Xuân Kỷ Hợi” 39 Trưng Nữ Vương phục quốc Hùng Lạc và đặc biệt, “mùa Xuân Kỷ Hợi” 939 Anh hùng Dân Tộc Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên Bạch Đằng Giang, chấm dứt thời kỳ nô lệ Tàu Hán mở ra Kỷ nguyên Độc Lập của dân tộc Việt.

Kính Thưa toàn thể đồng bào,

Là con dân đất Việt lẽ nào chúng ta cam chịu cúi đầu khuất phục chấp nhận thân phận nô lệ, sống kiếp ngựa trâu, để tập đoàn Việt gian phản quốc ngang nhiên dâng hiến đất đai của Tổ Quốc, Dân Tộc Việt bị tiêu diệt, thế hệ hôm nay sẽ đắc tội với Tổ Tông, với con cháu muôn đời sau.

– Không còn khốn khó thương đau nào hơn thống khổ hôm nay khi 90 triệu đồng bào sống trong ngục tù Cộng Sản!

– Không còn nhục nhã hờn căm nào bằng ô nhục căm hờn hôm nay khi “Giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta”!

– Toàn dân hãy đứng lên giành quyền làm chủ của nhân dân, để chuyển đổi lịch sử, đón mừng mùa xuân dân tộc trên quê hương Việt Nam thân yêu. .

Toàn dân Việt phải tự quyết định số phận của chính mình và vận mệnh của đất nước chúng ta mở ra một Mùa Xuân Kỷ Hợi 2019 cho Dân tộc Việt.

Đại Nghĩa Tất Thắng Hung Tàn, Chí Nhân Phải thay Cường Bạo

Nguyện cầu Hồn Thiêng Sông Núi phù trì cho Dân Tộc Việt Nam

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn, Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt.

Giao Thừa Kỷ Hợi 2018-2019

1. Diên Hồng Thời Đại Việt Nam: Phạm Trần Anh. 2. Liên Minh Dân Chủ Tự Do Việt Nam: Huỳnh Hưng Quốc. 3. Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền VN: HT Thích Nguyên Trí. 4. Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: HT Thích Không Tánh, Phó Viện Trưởng kiêm Tổng Ủy Viên Từ thiện Xã hội. 5. Liên ủy Ban Chống CS và Tay Sai: Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn. 6. Phong Trào Phụ Nữ Hành Động Cứu Nước: Nữ Sĩ Hồng Khương. 7. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam: Nhân sĩ Cao Xuân Khải.
8. Ủy Ban Chống Văn hóa Tôn Giáo Vận CS: MS Nguyễn Công Chính. 9. Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy: Nhân sĩ Lê Quang Hiển, Nhân sĩ Lê văn Sóc.
10. Radio Toàn Dân Cứu Nước: Trần Việt Lê Chân.
11. Phong Trào Tân Dân: Nhân sĩ Trần Sinh Cát Bình. 12. Khối 8406 Hoa Kỳ: Đại diện Ô Vũ Hoàng Hải. 13. Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết: Nhân sĩ Nguyễn Lý. 14. Liên Hiệp Hội Thánh EM: Phó Trị Sự Trần Viết Hùng. 15. Đoàn Thanh niên Dân Chủ: Trần Long. 16. Hội Đồng Liên Kết Tranh Đấu Nhân Quyền VN: Trần Ngọc Bính. 17. Liên Minh Dân Chủ Việt Nam: Nguyễn Hữu Ninh. 18. Trung Tâm Sinh Hoạt Văn Hoá Việt Nam tại BC Canada: Đại diện Bà Mai Kim Huyền. 19. Phong Trào Yểm Trợ Khối 8406 Canada: Đại diện Ông Lạc Việt. 20. Hội Người Việt Tự Do tại BC: Đại diện Ông Phan Mật. 21. Little Saigon Vancouver Foundation: Đại diện Ông Nguyễn hữu Ninh. 22. Tập Hợp Quốc Dân Việt Vancouver Canada: Đại diện Ông Lê ngọc Điệp. 23. Hội Diên Hồng Thời Đại Tây Bắc Hoa Kỳ: Nhân sĩ Phạm văn Tường. 24. Văn Đàn Thời Đại: Nhân sĩ Vũ Lang.
25. Giáo Hội Cộng Đồng Tin Lành Lutheran Việt Nam Hoa Kỳ: MS Nguyễn Hoàng Hoa. 26. Truyền Hình Việt Nam Hải Ngoại: Ký giả Nguyễn Đình Toàn. 27. Hội Cảng Sát Quốc Gia Úc Châu: Nhân sĩ Vũ Trọng Khải.</strong>

CHIỀU CUỐI NĂM GỢI NHỚ…

https://www.vntv.online/?p=5908

VIỆT NAM TÔI ƠI…

https://www.vntv.online/?p=5928

https://www.facebook.com/vietnamnuoctoi2016/videos/988495471346261/?t=12

TÂM THƯ

Kính thưa toàn thể Đồng bào

Trước thềm năm mới, Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước chân thành kính chúc toàn thể đồng bào vui đón một năm mới An khang thịnh vượng, một mùa Xuân Dân tộc sẽ đến với toàn dân Việt chúng ta trên quê hương Việt Nam không còn bóng dáng Việt gian cộng sản bất nhân hại dân bán nước.  

Trước bàn thờ Tổ Quốc biểu tượng của Hồn thiêng sông núi, chúng ta nguyện chung sức chung lòng quyết tâm đấu tranh cho nền Độc lập thực sự của dân tộc, đấu tranh cho quyền dân chủ tự do thực sự, Nhân dân Việt Nam sung túc An lạc thực sự, đấu tranh xây dựng một quốc gia Việt Nam phú cường để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trường tồn, Dân tộc Việt Nam Bất diệt.

Hồn thiêng sông núi, Anh linh của Anh hùng Liệt nữ Việt Nam sẽ phù trì cho Dân tộc chúng ta.

Xin được thay mặt cho Quý vị Cố vấn và Hội Đồng Sáng lập Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước, chúng tôi xin đọc bức Tâm Thư kính gửi toàn thể con dân đất Việt.

 

Kính Gửi

Toàn thể Đồng bào Việt Nam

Quý Hội Đoàn, Đoàn Thể, Quý nhân sĩ trong nước và Hải ngoại.

Kính Thưa quý vị,

Sau hơn 43 năm thống trị đất nước, tập đoàn Việt gian Cộng sản đã đem lại hậu quả nặng nề cho dân tộc Việt Nam trên nhiều phương diện. Toàn dân Việt đã thấy rõ bộ mặt thật “Hại dân bán nước” của tập đoàn Việt gian Cộng Sản là những tên Thái Thú thời đại “Xác Việt hồn Tàu”. Việt gian Nguyễn Phú Trọng đã kiêm nhiệm chức vụ Chủ Tịch nước để thi hành những bước cuối cùng biến Việt Nam thành một “Khu Tự Trị Dân Tộc Kinh” theo đúng Mật ước Bán Nước Thành Đô 4-9-1990.

Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm của suy vong, nguy cơ mất nước cận kề. Đây là thời kỳ đau thương ô nhục nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Thật bất hạnh cho cả một dân tộc khi tập đoàn Việt gian bất nhân, hại dân bán nước phản bội công lao của tiền nhân bao đời dựng nước và giữ nước để duy trì địa vị thống trị tha hồ bóc lột vơ vét tài sản của nhân dân.

Chúng ta đã và đang mất nước từng phần, chỉ còn 1 năm nữa thì đất nước Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới, dân tộc Việt sẽ tiêu vong. Chưa bao giờ hiểm họa mất nước lại đè nặng lên con tim khối óc của những người Việt Nam yêu nước như bây giờ.

Trước thảm trạng dở sống dở chết của hơn 90 triệu đồng bào Việt Nam. Trước nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng, đế quốc mới của thời đại.

Đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử, Chúng tôi những người Việt Nam yêu nước, chuộng dân chủ tự do, công bình và tiến bộ xã hội ở trong nước và Hải ngoại, Long trọng tuyên bố trước Quốc dân Việt Nam và trước toàn thế giới:

I. MẶT TRẬN TOÀN DÂN CỨU NƯỚC là một Tập hợp Quốc Dân Việt bao gồm tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, chính kiến trong và ngoài nước cùng đấu tranh cho nền Độc lập thực sự của dân tộc, đấu tranh cho quyền dân chủ tự do thực sự, Nhân dân Việt Nam sung túc An lạc thực sự, đấu tranh xây dựng một quốc gia Việt Nam phú cường để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trường tồn, Dân tộc Việt Nam Bất diệt.

II. MẶT TRẬN TOÀN DÂN CỨU NƯỚC lấy truyền thống Nhân đạo Việt Nam, đạo làm người Việt Nam làm tư tưởng chủ đạo. Khởi đi từ sự tôn trọng phẩm gía con người, cùng đích là phục vụ con người. Tất cả cho con người nói chung để người Việt Nam nói riêng và cả nhân loại nói chung cùng chung sống trong hòa bình an lạc.

III. MẶT TRẬN TOÀN DÂN CỨU NƯỚC đặt quyền lợi Dân tộc lên trên hết để thực hiện 3 nhiệm vụ cấp bách của lịch sử:

  1. CỨU QUỐC:

–  Giải cứu đồng bào Việt Nam khỏi sự thống trị bạo tàn của chế độ Cộng sản Việt Nam.

– Giải cứu đất nước khỏi sự xâm lăng bành trướng của đế quốc đỏ Tầu Cộng.

  1. KIẾN QUỐC:

– Xây dựng một nền Đệ Tam Cộng Hòa: Dân chủ Tự Do thực sự, một xã hội Công Bằng và bình đẳng, bảo đảm sự thăng tiến đồng đều cho mọi công dân.

–  Bảo lưu truyền thống tốt đẹp của đạo lý làm người Việt Nam, Phục hoạt Văn hóa truyền thống Việt: Dân tộc, Nhân bản và Thời đại.

– Vận dụng trí tuệ Việt Nam, nhân lực và tài lực của đồng bào Việt Nam tại Hải ngoại cùng với đồng bào trong nước xây dựng kiến thiết quốc gia sau đại nan Cộng sản trên quê hương Việt Nam.

  1. HƯNG QUỐC: Để kiến quốc và hưng quốc, Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước chủ trương:

  1. Cách mạng hoá, Hiện đại hoá Việt Nam.

  1. Phục Hưng Dân tộc Đại Việt Nam.

Việt Nam ngày 1 tháng 1 năm 2019.

 HỘI ĐỒNG CỐ VẤN

  • Hòa Thượng Thích Nguyên Trí: CT Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền Việt Nam.

  • Hòa Thượng Thích Đức Huệ.

  • HT Thích Không Tánh: Phó Viện Trưởng kiêm Tổng Vụ Trưởng Tù Thiện Xã Hội Tăng Đoàn GHPGVNTN.

  • Linh Mục Nguyễn Văn Lý: Tập Hợp Quốc Dân Việt.

  • Linh Mục Nguyễn Công Thanh.

  • Mục Sư Nguyễn Công Chính: CT Hội Đồng Các Sắc Tộc và Tôn giáo Việt Nam.

  • Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa.

  • Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn: Cố Vấn Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • Nhân sĩ Trần Minh Xuân: Đại Gia đình Nguyễn Ngọc Huy.

 

HỘI ĐỒNG SÁNG LẬP MẶT TRẬN TOÀN DÂN CỨU NƯỚC

  • Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh (Hoa Kỳ): Đồng CT kiêm TTK Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, CT Hội Đồng Điều Hành Đại Hội Diên Hồng Thời Đại VN, CT HĐ Điều Hành Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.

  • TS Phan Văn Song (Pháp Quốc): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • Nhân sĩ Trần văn Đông (Canada): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • BS Võ Đình Hữu (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, Đại diện Hải Ngoại.

  • Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • Nhân sĩ Lưu văn Tươi (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • Nhân sĩ Cao Xuân Khải (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • Nhân sĩ Nguyễn Trung Châu (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • Nhân sĩ Đặng Thị Danh (Canada): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • Nhân sĩ Đoàn Hữu Định (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • BS Lê Thuần Kiên (Canada): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • BS Hoàng Thị Mỹ Lâm (Cộng Hòa Liên Bang Đức): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

Trân Trọng Kính Chào Toàn Thể Đồng bào

Thành viên của Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước có mặt khắp nơi trên cả nước, để bảo mật, chúng tôi chưa công bố các Thành Viên Sáng lập trong Quốc Nội.

Trân trọng Kính mời quý Nhân sĩ Trưởng thượng, Quý Hội Đoàn Đoàn Thể tham gia vào Mặt Trận với tư cách đồng sáng lập Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước và Thành viên của Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước.

Xin quý Đồng bào trong nước và Hải ngoại liên lạc với chúng tôi qua Điện thoại 1(714) 332 9243 hoặc Email: phamtrananh2015@gmail.com, dongvantran@gmail.comdienhongthoidai@gmail.com 

https://youtu.be/Lmk6Fb8dv5g

TUYÊN BỐ CỦA MẶT TRẬN TOÀN DÂN CỨU NƯỚC

Nhận định rằng:

1. Sau khi loại trừ Trần Đại Quang, Nguyễn Phú Trọng TBT đảng Cộng sản Việt Nam đã kiêm nhiệm chức CT nhà nước CHXHCNVN theo đúng kế hoạch của Tàu Cộng để thực hiện những bước cuối cùng biến Việt Nam thành khu tự trị “Dân Tộc Kinh” của Trung Quốc năm 2020.

Ngay sau khi tuyên thệ nhận chức Chủ Tịch Nước CHXHCNVN, Nguyễn Phú Trọng đã cho lưu hành đồng nhân dân tệ của Trung Quốc ở 7 tỉnh biên giới phía Bắc trong khi bắt phạt người dân đổi tiền USD của Hoa Kỳ và trấn áp trí thức đối lập qua vụ kiểm điểm kỷ luật giáo sư Chu Hảo. Đồng thời ra lệnh đàn áp đánh đập dã man các công dân yêu nước và xử án thật nặng hơn 100 người dân yêu nước biểu tình ngày 10-6-2018 vừa qua ở Biên Hòa và Bình Thuận…

Đối ngoại, Việt gian Nguyễn Phú Trọng đã cam kết với Đặc sứ của Tập Cẩm Bình xác nhận mối quan hệ Việt Trung chưa bao giờ tốt đẹp như ngày nay rồi cử hải quân tham dự tập trận với Trung Quốc, cử Bộ Trưởng quốc phòng Ngô Xuân Lịch sang Bắc Kinh nguyện làm tiền đồn, cam kết sẽ hy sinh đến người Việt Nam cuối cùng để bảo vệ “Thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa Trung Quốc”.

2. Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã đọc bài diễn văn nảy lửa trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Lên án Xã Hội Chủ nghĩa và kêu gọi toàn thế giới đứng lên chống cái ác, sự nghèo khó của chế độ Cộng sản độc tài toàn trị.

Đặc biệt, Hoa Kỳ chính thức không công nhận những quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Tàu Cộng xâm chiếm bất hợp pháp và kêu gọi Trung Cộng tháo dỡ các căn cứ mới xây dựng trên những đảo này. Đồng thời phát động một cuộc chiến tranh thương mại nhằm suy yếu nền kinh tế của đế quốc mới Trung Cộng.  

Mặt khác, Hoa Kỳ tăng cường tối đa sức mạnh của Hải Quân, Không Quân và Liên minh Ấn Độ Thái Bình Dương Indo-Pacific tại vùng biển Hoa Đông và biển Đông Nam Á để sẵn sàng đè bẹp Trung Cộng trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự. Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ đang là đồng minh thật sự của dân tộc Việt Nam chúng ta chống Đế quốc mới Trung Cộng.

3. Toàn dân Việt Nam đã nhận thức được bản chất hại dân bán nước của Tập đoàn Việt gian Cộng sản nên hơn 100 ngàn đồng bào đã đồng loạt xuống đường biểu tình ngày 10 tháng 6 – 2018 để chống cái gọi là luật Đặc Khu, Luật An ninh mạng với một khí thế sục sôi căm hận chưa từng có.  

Toàn thể đồng bào Việt Nam trong nước và ở Hải ngoại đang mong chờ một Mặt Trận tổng lực giương cao ngọn cờ chính nghĩa “Diệt kẻ nội thù-Chống quân xâm lược” ra đời đáp ứng nguyện vọng của toàn thể đồng bào Việt Nam.

Trước đại họa mất nước cận kề, đáp ứng nguyện vọng cấp thiết của toàn thể đồng bào Việt Nam, Chúng tôi những công dân yêu nước trong Quốc nội và ở Hải ngoại long trọng công bố trước toàn thể đồng bào Việt Nam và Công luận Quốc tế:

  1. Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước là một tập hợp rộng lớn của toàn thể đồng bào Việt Nam yêu nước ở Quốc nội và Hải ngoại được thành lập để hoàn thành sứ mạng lịch sử Cứu Dân Cứu Nước. 

  1. Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước đặt quyền lợi của Tổ Quốc Dân tộc lên trên hết, tất cả vì Độc lập Dân Tộc, Dân Chủ Tự Do và Ấm no Hạnh Phúc thật sự của toàn dân.

Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước chủ trương hoàn thành 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng:

  • Hoàn thành cuộc cách mạng Dân Tộc Cứu Quốc: Diệt kẻ Nội thù “tập đoàn Việt gian Cộng sản” chống quân xâm lược “Đế Quốc mới Trung Cộng” để bảo vệ giang sơn gấm vóc Việt Nam của chúng ta.

  • Thực hiện cuộc cách mạng Dân chủ xã hội để Kiến Quốc và Hưng Quốc sau đại nạn Cộng sản.

  • “Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước chủ trương xây dựng một nền Đệ Tam Cộng Hòa được toàn dân lựa chọn: Tam quyền phân lập bảo đảm Dân chủ Tự Do thật sự, Ấm no hạnh phúc thật sự trong một xã hội Công Bằng và bình đẳng thật sự, bảo đảm sự thăng tiến đồng đều cho mọi công dân Việt Nam.

Nguyện cầu Hồn Thiêng Sông núi Phù trì cho Dân Tộc ViệtNam                                          Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn                                                                                                  Dân Tộc Việt Nam Bất Diệt                                                                                                            Quốc Gia Việt Nam Muôn Năm.

Việt Nam ngày 1 Tháng 1  Năm 2019

HỘI ĐỒNG CỐ VẤN

  • Hòa Thượng Thích Nguyên Trí: CT Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền Việt Nam.

  • Hòa Thượng Thích Đức Huệ.

  • Hòa Thượng Thích Không Tánh: Phó Viện Trưởng kiêm Tổng Vụ Trưởng Từ Thiện Xã Hội Tăng Đoàn GHPGVNTN.

  • Linh Mục Nguyễn Văn Lý.

  • Linh Mục Nguyễn Công Thanh.

  • Mục Sư Nguyễn Công Chính: CT Hội Đồng Các Sắc Tộc và Tôn giáo Việt Nam.

  • Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa.

  • Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn: Cố Vấn Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  • Nhân sĩ Trần Minh Xuân: Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy.

 

HỘI ĐỒNG SÁNG LẬP MẶT TRẬN TOÀN DÂN CỨU NƯỚC

  1. Nhà Biên Khảo Phạm Trần Anh (Hoa Kỳ): Đồng CT kiêm TTK Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, CT Hội Đồng Điều Hành Đại Hội Diên Hồng Thời Đại VN, CT HĐ Điều Hành Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.

  2. TS Phan Văn Song (Pháp Quốc): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  3. Nhân sĩ Trần văn Đông (Canada): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  4. BS Võ Đình Hữu (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, Đại diện Hải Ngoại.

  5. Nhân sĩ Nguyễn văn Tánh (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  6. Nhân sĩ Lưu văn Tươi (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  7. Nhân sĩ Cao Xuân Khải (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  8. Nhân sĩ Nguyễn Trung Châu (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  9. Nhân sĩ Đoàn Hữu Định (Hoa Kỳ): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  10. Nhân sĩ Đặng Thị Danh (Canada): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  11. BS Lê Thuần Kiên (Canada): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

  12. BS Hoàng Thị Mỹ Lâm (Cộng Hòa Liên Bang Đức): Đồng CT Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.

Trân Trọng Kính Chào Toàn Thể Đồng bào 

Thành viên của Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước có mặt khắp nơi trên cả nước, để bảo mật, chúng tôi chưa công bố các Thành Viên Sáng lập trong Quốc Nội.

Trân trọng Kính mời quý Nhân sĩ Trưởng thượng, Quý Hội Đoàn Đoàn Thể tham gia vào Mặt Trận với tư cách đồng sáng lập Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước hoặc là Thành viên của Mặt Trận Toàn Dân Cứu Nước.

Xin quý Đồng bào trong nước và Hải ngoại liên lạc với chúng tôi qua Điện thoại 1(714) 332 9243 hoặc Email: phamtrananh2015@gmail.com, dongvantran@gmail.comdienhongthoidai@gmail.com 

 HOÀNG SA TRƯỜNG SA

CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM

https://www.vntv.online/?p=5868

 

TAO BABE: Ancient Viet, Cradle of Asian Civilization

Tao Babe

https://taobabe.wordpress.com

Tôi sinh ra ở Việt Nam.

Khi viết những lời này, tôi suy nghĩ tới ý nghĩa thực sự và sâu sắc nhất của chúng. Ra khỏi cái bóng tối tăm của quê hương tôi trong quá khứ, trộn lẫn sương mù và khói thuốc pháo, tôi hầu như không thể nhìn thấy diện mạo của những người đến trước tôi; những khuôn mặt quen thuộc thoáng qua của hàng ngàn năm xa xưa: những người tự gọi mình là người Việt Nam.

Khói và sương mù trở nên dày hơn, xa xăm hơn, tôi cố gắng nhìn về quá khứ. Sau hai ngàn năm, không khuôn mặt nào còn lại, chỉ có những hình ảnh mơ hồ. Quá khứ, chỉ có bóng tối. Và nó ở lại … hàng ngàn năm Bóng Tối.

Tôi lớn lên với ý nghĩ, chúng ta chỉ là một phần nhỏ bé của một nền văn minh khổng lồ và mạnh mẽ ở phía bắc, xa hơn rất nhiều trong lịch sử được ghi lại; một nền văn minh đã phát minh ra hàng ngàn điều quan trọng, từ gốm, giấy, lụa. Đối với người Việt Nam, chúng tôi đã được chứng minh là hoàn toàn không có sáng tạo, tích cực gì; xã hội của chúng ta không có kỹ thuật và tiên tiến đủ để có những người khổng lồ tinh thần có khả năng làm những kỳ công như vậy. Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã phát minh ra nước mắm, nhưng rồi cũng thất bại trong cuộc tranh luận vì trong lịch sử, người Hy Lạp đã khẳng định trước ý tưởng đó.

Người Trung Quốc ở phía Bắc là một quốc gia giàu có và mạnh mẽ mà chúng tôi là những người nghèo khó ở phía Nam, những người hầu như trần truồng và đói khát. Tôi lớn lên với suy nghĩ rằng sở dĩ tiếng nói và phong tục tập quán Việt tương tự như Trung Quốc bởi vì chúng tôi đã sao chép của họ, mà không hề có nguyên bản gốc của mình.

Tôi rất đau buồn và thành kính xin lỗi tất cả.

Tôi chỉ có thể xin tổ tiên của tôi tha thứ. Tôi không biết gì về quá khứ của dân tộc tôi. Làm sao mà tôi có thể biết được? Chúng tôi chưa bao giờ biết sự thật đã bị chôn vùi xuyên tạc, và sự thật là: Đất Việt cổ, phía nam sông Hoàng Hà, là cái nôi của nền văn minh châu Á!

Vậy làm sao chúng tôi có thể trở thành cái nôi của nền văn minh châu Á? Rõ ràng, chúng tôi không có các tác phẩm lịch sử ghi lại điều này. Tất cả lịch sử lâu đời và nổi tiếng của chúng tôi đã bị xoá bỏ hơn hai ngàn năm trước và bị đàn áp trong đau thương và chết chóc. Ngoài ra, các bài viết lịch sử không phải bao giờ cũng là chứng cứ bởi lẽ mọi người đều biết lịch sử được viết bởi những người chiến thắng và không nhất thiết gần với sự thật.

Không, đây là một tuyên bố phi thường, và như Carl Sagan nói, ‘yêu sách phi thường đòi hỏi phải có bằng chứng phi thường.’ Vì vậy, với ít tác phẩm lịch sử trưng dẫn này, cái “bằng chứng bất thường của tôi”đến từ đâu? Xn thưa nó đến từ khảo cổ di truyền học và khảo cổ học.

Khảo cổ di truyền học

Hãy bắt đầu với Archaeogenetics (khảo cổ di truyền học), vì nó có các gen để tìm ra những người tạo ra một nền văn minh. Archaeogenetics là một phương pháp tương đối mới để nghiên cứu khoa học quá khứ của con người bằng cách áp dụng các kỹ thuật di truyền phân tử: phân tích DNA thu được từ các di tích khảo cổ học, phân tích DNA từ dân số hiện đại và áp dụng các phương pháp toán thống kê các tài liệu khảo cổ học và vật liệu di truyền.

Phương pháp này gần đây đã có sẵn do công việc đột phá của các nhà di truyền học khám phá bộ gen của con người. Với bản in màu xanh khoa học này, các nhà khoa học đã có thể khảo sát dòng dõi con người từ quá khứ xa xôi và làm sáng tỏ những gì trước đây không rõ ràng.

Đây là tuyên bố công khai từ một tài liệu được phát hành vào năm 1992 bởi một nhóm các nhà di truyền học thuộc Hiệp hội Di truyền Hoa Kỳ.

DNA của ty thể (mtDNAs) từ 153 mẫu độc lập bao gồm bảy quần thể châu Á đã được khảo sát về biến thể tuần tự bằng cách sử dụng phản ứng chuỗi polymerase (PCR), phân tích endonuclease hạn chế và lai tạo oligonucleotide.

Tất cả các quần thể châu Á chia sẻ hai hình thái đa dạng sinh học AluIIDdI cổ ở 10394 và 10397 và tương tự về mặt di truyền cho thấy chúng có chung tổ tiên. Sự đa dạng mtDNA lớn nhất và tần số cao nhất của mtDNAs với HfiaI / HincII morph 1 đã được quan sát thấy ở người Việt Nam cho thấy một nguồn gốc Mongoloid Nam của người châu Á.

Tần số đa dạng cao của người Việt Nam và tần số cao của HincII / H # aI morph 1 haplotypes cho thấy phía Nam Trung Quốc là trung tâm của phát tán mtDNA châu Á (BLANC et al.1983) … Các tần số cao của nhóm haplotype xóa D * mtDNAs ở Đông Nam Á, các hòn đảo Thái Bình Dương và Thế giới Mới ngụ ý rằng những người di cư mang nhãn hiệu này là hậu duệ từ một cộng đồng người sáng lập đơn lẻ. ( Hiệp hội Genetics của Mỹ) *

Nghiên cứu kỹ càng của về trình tự gen của họ đã cho thấy một sự thật đáng kinh ngạc: “Dữ liệu cung cấp bằng chứng cho thấy người Việt Nam đa dạng nhất, và do đó, dân số già nhất.” * Điều này có nghĩa là lịch sử mà con người liên quan đến chúng ta, thực hiện những lời dạy thầm vì thiếu bằng chứng bằng văn bản, về Đế quốc Việt Nam vĩ đại của chúng ta, thật sự là tất cả.

Khảo cổ học

Bây giờ chúng ta đến với Khảo cổ học. Sách có thể bị đốt cháy và các nhà sử học có thể bị chôn sống để trấn áp sự thật và lịch sử, nhưng số lượng lớn các hiện vật cổ xưa nằm không bị xáo trộn, dưới lòng đất ngàn năm không dễ bị phá hủy như vậy. Với việc khôi phục các hiện vật cũng đi đến sự phục hồi của quá khứ cổ xưa của dân tộc tôi.

Tất cả những gì cần làm là:

1) Xác định di cốt và những thứ khác

2) Niên đại của chúng

3) Ghi lại các vị trí địa chất của chúng

Sự thật sẽ xuất hiện một khi các hiện vật cổ đã được tìm thấy.

Niên đại và vị trí là rất quan trọng bởi vì trước năm 111 TCN, khu vực Nam sông Dương Tử, từ Thái Bình Dương đến biên giới phía đông của Miến Điện, là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Bản đồ dưới đây cho biết đâu là lãnh thổ của Việt Nam và được gọi là gì.

Bản đồ này không cho thấy Đài Loan, mặc dù các mô hình di cư cho thấy tổ tiên cổ của tôi đã đi tới đảo đó ít nhất là ba đợt liên tiếp. Làn sóng đầu tiên là vào năm 4.000 trước Công nguyên từ khu vực gần Hòa Bình (trong vùng Bắc Việt Nam hiện nay). Dụng cụ đá và vật liệu di truyền từ các mảnh xương khớp với những vật liệu được tìm thấy từ cả hai địa điểm.

Làn sóng thứ hai xuất phát từ khu vực Bắc Sơn (cũng tại Bắc Việt Nam ngày nay) và cũng có các công cụ, rìu, di truyền … làn sóng thứ ba là đa dạng nhất, đến từ Java và Malaysia. Đợt cuối cùng này định cư dọc theo khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam và tạo nên người Champa ngày nay (mô hình chuyển đổi này sẽ được trình bày kỹ hơn trong bài đăng sau).

Bản đồ cho thấy thời cổ đại Bách Việt (百越 / 百 粵) cổ xưa như thế nào. Thuật ngữ Bách Việt có nghĩa là một trăm bộ lạc người Việt, nối lại câu chuyện cổ đại của Lạc Long Quân và Âu Cơ, và 100 con của họ sinh ra từ một túi trứng với 100 quả trứng. Mặc dù thần thoại giống như câu chuyện cổ tích của trẻ em nhưng nó là nghiên cứu khoa học về di truyền học xác định sự lan rộng địa lý của người Việt Nam trong khu vực đó chứ không phải trí tưởng tượng kỳ diệu của ai đó về một quá khứ vinh quang mà có thể hoặc không thể tồn tại.

Bất cứ thứ gì tìm thấy trong vùng đó có niên đại trước năm 111 TCN là nguồn gốc Việt Nam vì đó là nơi mà người Việt Nam đã sống hàng ngàn năm trước năm 111 TCN. Vâng, bây giờ là lãnh thổ Trung Quốc và bất cứ điều gì xảy ra sau năm 111 TCN đều có thể được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, nhưng điều đó không phủ nhận thực tế là người Việt Nam sống ở khu vực đó trước khi bị người Hán chiếm giữ. Điều này có nghĩa là bất kỳ hiện vật cổ nào cũng phải thuộc về người Việt Nam chứ không phải người Hán.

Vì tôi không thể đi vào chi tiết của tất cả các hiện vật khác nhau có nguồn gốc Việt Nam do phạm vi bài viết nhỏ này, bây giờ tôi sẽ tập trung vào gốm sứ. Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu chi tiết những khám phá khảo cổ khác trong các bài đăng sau này.

Theo LADIR Dynamics, Phòng thí nghiệm Tương tác và Phản ứng ở Đại học Paris 6, các miếng gốm cổ có từ 4000 năm trước Công nguyên (đã hơn 6.000 năm trước). Trong phân tích của họ, đồ sứ và đồ trang sức đã xuất hiện ở khu vực Đông Nam Á, nơi người Việt đang sinh sống vào thời đó.

Những mảnh gốm cổ nhất (<4000 B.C.) được tìm thấy ở Đài Loan, ở Philippines và ở Việt Nam. Các đồ gốm sứ Việt Nam đầu tiên có từ thời Hùng (700 TCN). Mẫu vật bao gồm từ màu nâu đỏ đến màu be-vàng, từ màu xám đến trắng, và phong cách của chúng rất đơn giản, theo truyền thống Phật giáo. Đồ gốm Celadon xuất hiện với sự độc lập về chính trị, dưới triều Lý (1009-1225) và Trần (1225-1400) và trở nên phổ biến ở Trung Quốc.

Cũng có bằng chứng bằng văn bản về điều này vẫn còn tồn tại ở Mông Cổ theo yêu cầu của Kubilai Khan: Kubilai Khan, vị hoàng đế Mông Cổ, đã yêu cầu “bát sứ trắng” bao gồm trong cống mà ông hoàng của Việt Nam nợ ông. Các đồ gốm đơn sắc của Lý và Trần được phủ ba loại men (màu ngà, nâu và ngọc bích); chúng bao gồm các bình lớn, bát, đĩa, chén, bình, và có thể được trang trí bằng lá, hoa, động vật…

Các phân tích cũng xác định loại đất sét, nguyên liệu cùng các kỹ thuật được sử dụng và khu vực địa lý mà đất sét được lấy. Cấu trúc vi mô của gốm sứ chứa rất nhiều thông tin về các kỹ thuật và vật liệu được sử dụng vào thời điểm đó. Nhờ quang phổ Raman, thành phần có thể được phân tích mà không gây nguy hiểm cho bản thân đối tượng. Có vẻ như đồ gốm Việt Nam có tỷ lệ ôxít sắt tương đối cao, nó giải thích màu sắc của chúng, cũng như oxit kali và đặc biệt là nhôm (> 30%) và phải được nung ở nhiệt độ rất cao. Quang phổ Raman có thể cho thấy sự khác biệt giữa các bản sao hiện đại và cổ đại.

Với tất cả những bằng chứng này, tôi đã nhận ra rằng tổ tiên tôi là một đế quốc hùng mạnh một thời, rộng khắp khắp lục địa Châu Á. Chúng tôi đã có một quá khứ dài và nổi tiếng, đầy những anh hùng vĩ đại và các vị vua hùng mạnh.

Người Việt cổ lan rộng khắp nơi, di cư đến các vùng đất xa về phía bắc của nước Việt Nam ngày nay. Các gen của chúng ta-máu mẹ của chúng ta chảy qua anh em chúng ta ở phía bắc (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) và phía Nam (Malaysia, Indonesia, Philippines).

Sự thật đau đớn là, chúng ta là một đế chế sụp đổ. Chúng ta đã mất lịch sử, chữ viết, kiến thức, mất cả mối quan hệ máu- máu huyết với đất nước chúng ta, thậm chí chúng ta đã mất đi ký ức về vương quốc hùng mạnh đó. Nhưng từ tro tàn, một con phượng mới tri thức sống dậy. Sự thật đã giải phóng tôi khỏi phức cảm tự ti mà tôi thường mang theo từ khi còn nhỏ.

Bây giờ tôi biết rằng chúng tôi đã không sao chép bất cứ ai và chúng tôi không phải là kẻ bắt chước. Kiến thức và trí tuệ của chúng tôi đã được kết hợp chặt chẽ với lối sống Hán, ngôn ngữ và phong tục của chúng tôi, lộn xộn và đồng hóa cho đến khi chúng tôi, những đứa trẻ Việt Nam, thậm chí còn không nhận ra nó là gì, như đã từng thuộc về chúng ta. Nhưng trong động mạch và tĩnh mạch của tôi chảy dòng máu cổ từ một đế chế tuyệt vời và vinh quang. Ngay cả khi tôi là người duy nhất nhận ra điều này, ít nhất trong khi tôi vẫn còn sống, những ký ức về tổ tiên của tôi vẫn còn.

Hầu hết người Hán miền Nam trên thực tế là người lai hoặc người Việt / Yueh hoàn toàn. Máu không bao giờ bị mất vì hầu hết người Hán ở Giang Nam vẫn có thể cảm nhận được một số kết nối với Việt Nam. Thử nghiệm DNA không nói dối. Miền Bắc Việt Nam không khác biệt với người Hán phía Nam Trung Quốc.

T.B.

TTV

TỰ HÀO VIỆT NAM

Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của mình. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về ngọn nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam.

Huyền sử con Rồng cháu Tiên là niềm tự hào của nòi giống Việt. Đã là người Việt Nam thì từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả uyên bác đến bác nông dân suốt đời chân lấm tay bùn, không ai không một lần nghe truyện cổ tích Họ Hồng Bàng. Thật vậy, ai trong chúng ta mà không biết về nguồn cội Rồng Tiên với thiên tình sử của “Bố Lạc Mẹ Âu” mở đầu thời kỳ lập quốc của dòng giống Việt.

Truyền thuyết Việt Nam nói đúng hơn đó là truyền kỳ lịch sử Việt Nam được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất lại đề cao con người với ý nghĩa nhân bản truyền thống. Truyền thuyết Việt Nam biểu trưng một triết lý văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính nhân đạo, chan chứa vẻ nhân văn, tràn đầy tình đồng bào, nghĩa ruột thịt qua hình tượng “Bọc điều trăm trứng nở trăm con”.

Từ ý niệm đồng bào dẫn đến lòng yêu nước, thương nòi, yêu quê cha đất tổ, tất cả đã trở thành giá trị đạo lý truyền thống của nền văn minh đạo đức Việt Nam. Henri Bernard Maitre đã ca tụng nét đẹp văn hiến của Việt tộc qua đền thờ gọi là “Văn miếu”: “Văn Miếu không phải để cầu kinh hay làm bùa phép mà là nơi trang trọng ghi ơn các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá, các vị Tiến sĩ với những chuẩn mực đạo đức để con cháu đời sau ghi sâu vào tâm khảm bài học về đạo làm người Việt Nam, xứng đáng với hoài bão của Tiền Nhân”.

Đối với người Việt, việc thờ cúng Ông bà Tiên tổ là đạo lý làm người trong đời sống tâm linh của người Việt. Từ xa xưa người Việt coi trọng đạo nghĩa nên thường nghĩ tới ngày giỗ của người thân hơn là chú trọng đến ngày sinh nhật của mình. Ngày nay, dù giới trẻ quan tâm nhiều đến ngày sinh nhật nhưng cũng không quên những ngày kỵ giỗ người thân trong gia đình. Đạo thờ cúng ông bà là một “Việt đạo” thể hiện đạo lý làm người của Việt tộc. Linh mục Cadière một thừa sai ngoại quốc đến Việt Nam truyền giáo phải thốt lên “Việt Nam là một dân tộc có tinh thần tôn giáo cao độ”.

Học giả P. Mus nghiên cứu về Việt Nam cũng thừa nhận rằng “Dân tộc Việt có một đời sống tâm linh cao, người Việt không làm việc, họ tế tự”. Thật vậy, người ngoại quốc ngạc nhiên khi thấy “Mỗi gia đình Việt Nam là một nhà thờ, nhà nào cũng có bàn thờ gia Tiên ở chính giữa nhà. Trong đời sống tâm linh Việt, Nhất cử nhất động, việc gì cũng tràn đầy tính chất thiêng liêng, thờ phượng, tế lễ, cúng giỗ với tất cả tấm lòng chí thành”. Đây chính là điểm đặc thù độc đáo thấm đậm bản sắc dân tộc, tràn đầy vẻ nhân văn của triết lý văn hoá nhân chủ Việt Nam.

Trong đời sống tâm linh Việt không chỉ hiển hiện ở bàn thờ Gia Tiên mà đền thờ ngự trong tâm thức mỗi người. “Người Việt không tham dự vào các buổi lễ để được ban phát ân sủng, mà họ hiệp thông cầu nguyện như một người “Tư Tế” với tất cả tính chất thiêng liêng của một tôn giáo”. Điều này thể hiện giá trị cao đẹp đặc trưng đời sống tâm linh của người Việt cổ.

Thờ cúng tổ tiên chính là đạo lý làm người, là cái gì thiêng liêng cao cả truyền từ đời này sang đời khác. Chính dòng sống tâm linh này đã góp phần bảo tồn dòng giống Việt. Truyền thống thờ cúng ông bà không còn là một tập tục, một tín ngưỡng đơn thuần mà đã trở thành đạo lý của dân tộc. Thờ cúng ông bà được xem như Tổ Tiên chính giáo của đạo làm người Việt Nam mà Nguyễn Đình Chiểu một sĩ phu yêu nước thế kỷ XIX đã ân cần nhắc nhở “Thà đui mà giữ đạo nhà, Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”. Người Việt Nam ai cũng biết uống nước phải nhớ nguồn vì “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn đạo hiếu mới là đạo con … Ơn cha mẹ thề không lỗi đạo, Thờ sống sao thờ thác làm vầy. Công cha nghĩa mẹ xưa nay, Con nguyền ghi nhớ thảo ngay một lòng”.

Đây chính là điểm độc đáo của dòng sống tâm linh Việt vẫn tiếp nối truyền lưu trong mỗi con người Việt Nam chúng ta hôm nay và mãi mãi về sau. Thật vậy bên cạnh đời sống thực tế khổ đau trước mắt, vẫn hiển hiện một đời sống tâm linh sâu thẳm, thấm đậm tính nhân bản hiện thực cao đẹp. Chính dòng sống tâm linh đó đã tạo cho mỗi người Việt Nam một quan niệm sống lạc quan yêu đời, an nhiên tự tại nhưng vẫn sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nền độc lập thực sự, quyền tự do thực sự và sự ấm no hạnh phúc thực sự cho toàn dân Việt Nam.

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua gần một ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của một nước lớn đất rộng người đông cùng với những thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong cái gọi là “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của gần một ngàn năm nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng, lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lý La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mã, để rồi phải xác nhận đó chính là nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại phần đất Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, tuy bị Hán tộc xâm lấn phải bỏ trung nguyên xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành “cái gọi là văn minh Trung Quốc”. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là: “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy …”.

Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử, Người Thầy muôn đời của Hán tộc đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ứng xử như vậy… Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo hành động như thế ..”.

Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man mạnh được yếu thua, bất kể tình người, bất kể luân lý đạo đức. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn miệt thị Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu. “Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những tôn ti trật tự, những giá trị đạo lý cho xã hội Trung Quốc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác.

Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính Hán Hiến Đế, vị vua cuối cùng của triều Hán đã phải thừa nhận như sau: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

Lịch sử nhân loại đã phải ghi lại “Kỳ Tích” có một không hai này của một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến với nền văn minh đạo đức xa xưa. Chính truyền thống yêu nước thương nòi của dòng giống Rồng Tiên đã viết lên những trang sử đẹp nhất nhân loại. Nữ sĩ Blaga Dimitrova viết: “Việt Nam là xứ sở của địa linh nhân kiệt, một dân tộc với truyền thuyết đầy bí ẩn và một lịch sử quá oai hùng đến nỗi khó mà phân biệt đâu là huyền thoại, đâu là hiện thực nữa!”. L’aurroussau một học giả Pháp nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã nhận định về sức sống huyền diệu của một dân tộc nông nghiệp bị Hán tộc du mục thống trị gần 1 ngàn năm mà vẫn kiên cường bất khuất, vùng lên chiến đấu để giành lại độc lập dân tộc: “Không có gì thắng được cái sức sống mạnh mẽ của người Việt Nam”.

Nhà Việt Nam học Paul Mus cũng phải thừa nhận một sự thật mà không một dân tộc nào có được: “Ngay từ ngày lập quốc, tất cả then chốt của lịch sử Việt Nam đều ở cái tinh thần đối kháng đã biết kết hợp một cách kỳ lạ, một bên là năng lực đồng hoá lạ lùng, bên kia là ý chí quật khởi quốc gia không chịu khuất phục mặc dầu bị thua trận, bị phân tán, bị chinh phục. Hơn một ngàn năm bị sát nhập hoàn toàn vào Trung Quốc, từ thế kỷ thứ hai trước kỷ nguyên đến thế kỷ thứ mười sau kỷ nguyên, thay vì làm cho dân tộc Việt Nam kiệt quệ thì ngược lại đã làm cho dân tộc Việt trở nên hùng cường”.

Đặc biệt, trong bộ Bách khoa từ điển “Encyclopaedia Universalis” xuất bản ở Paris năm 1990 do nhà sử học Phillipe Devilière chủ biên với sự tham khảo hơn 60 học giả Âu Mỹ đã viết: “Lịch sử Việt Nam là gì? Đó là cuộc đấu tranh không ngừng cho sự tồn vong của cả một dân tộc. Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ có một sức sống phi thường. Suốt 10 thế kỷ bị Trung Quốc thôn tính, người Việt Nam vẫn giữ nguyên bản sắc dân tộc và liên tiếp nổi dậy đánh đuổi kẻ xâm lược ỷ vào sức mạnh tưởng có thể khuất phục được họ.

Lịch sử đã đặt lòng tin vào dân tộc ấy và đã chứng minh khả năng đề kháng, óc sáng tạo, tính kiên trì và sự thích ứng với mọi cuộc chiến gian khổ nhất, khó khăn nhất và kể cả không cân sức nhất. Người Việt Nam tự hào với quá khứ của mình, tôn vinh những bậc vĩ nhân đã tô điểm rạng rỡ quá khứ đó và quá khứ dù xa xăm hay gần đây luôn luôn có mặt khắp nơi trên đất Việt Nam, tác động mạnh mẽ vào hiện tại và tương lai. Việt Nam giữ một vị trí chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và Việt Nam có bề dày lịch sử hơn hẳn nhiều vương quốc châu Âu như Pháp, Anh, Tây Ban Nha dù rằng đối với phương Tây, hai tiếng Việt Nam vẫn còn mới mẻ”. 

Là người Việt Nam yêu nước, chúng ta phải tri ân những anh hùng liệt nữ đã đời đời hy sinh để tổ quốc trường tồn. Nhớ ơn tiền nhân chưa đủ mà chúng ta phải học tập, noi gương các danh nhân anh hùng khai sáng văn hoá, các anh hùng dân tộc của thời xa xưa thấm đậm trong tâm thức Việt để rồi dân tộc sẽ sản sinh ra những anh hùng của một ngày mai. Chính vì vậy, có thể nói lịch sử là ngọn nguồn của lòng yêu nước, chính lịch sử quá khứ hào hùng của một dân tộc sẽ là tương lai xán lạn huy hoàng của dân tộc đó.

Nói theo sử gia thời danh Arnol Toynbee thì “Nếu thiếu những sự thách thức tức là thiếu yêu cầu bức bách đòi hỏi phải biết vận dụng được một cách vượt bậc khả năng xoay chuyển tình thế thì không có điều kiện để một cộng đồng người thể hiện được sức mạnh và sự sáng tạo của mình. Chính sự đáp ứng thích hợp trước những thách thức, sự vận dụng một cách vượt bậc khả năng xoay chuyển tình thế, đã đưa tới những thành tựu văn hoá lớn tạo nên bản lĩnh của các dân tộc và có thể nói lịch sử hình thành một nền văn minh lớn, không bao giờ diễn ra trên một con đường bằng phẳng với những bước đi bình thản”. Trên thế giới có lẽ không một dân tộc nào mà chịu đựng thử thách gian nan khốn khó hơn dân tộc Việt. Lịch sử cũng đã chứng minh dân tộc ta đáp ứng được những yêu cầu bức bách, sự thách thức của từng thời đại để Việt Nam là một trong những nền văn minh cổ của nhân loại còn tồn tại mãi đến ngày nay.

Bước sang thế kỷ XX, dân tộc Việt chưa tháo gỡ được cái ách thống trị của thực dân Pháp thì chủ nghĩa cộng sản đã tràn vào Việt Nam đưa dân tộc Việt vào thế khốn cùng. Cộng sản Việt Nam đã núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, tạo cơ hội cho tư bản nhân danh thế giới tự do nhảy vào can thiệp, ngăn chặn làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á. Hậu qủa là hàng triệu người đã phải hi sinh oan uổng để rồi gần chín mươi triệu đồng bào đang phải sống dở chết dở dưới chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân.

Với chủ trương nô dịch của cộng sản, biết bao thế hệ Việt Nam bị nhồi nhét nền văn hóa Mác-Lê phi nhân tàn bạo mà hậu qủa là tạo ra những cỗ máy vô hồn, những con người vô cảm lạnh lùng, mất gốc. Trong khi đó, gần 4 triệu đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng sản trên khắp thế giới nên thế hệ con em chúng ta ở hải ngoại phần nào bị ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai mang tinh thực dụng, quên đi bản sắc văn hóa truyền thống Việt chan chứa tình người. Chính vì vậy, vấn đề hết sức khẩn thiết là làm sao phải phục hoạt văn hóa Việt, phục hưng minh triết Việt để tẩy rửa mọi ý hệ ngoại lai, mọi ý đồ truyền bá văn hóa “Trung Quốc” đang được “những tên Thái thú mới”, “xác Việt hồn Tàu” đang thi hành mệnh lệnh của quan thầy Trung Cộng ra sức nhồi sọ dân tộc Việt.

Hơn lúc nào hết, tìm hiểu về huyền thoại Rồng Tiên, khởi nguyên dân tộc Việt Nam kiểm chứng với những kết quả khoa học thuyết phục nhất sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc dân tộc và cội nguồn văn hóa Việt Nam. Trong ý hướng đó, Lược Sử Việt Nam tóm lược lịch sử Việt Nam từ thời lập quốc cho đến ngày nay để thế hệ trẻ Việt Nam hiểu rõ tường tận lịch sử Việt Nam. Khi thế hệ con em chúng ta hiểu rõ về bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, về đời sống văn hoá tâm linh Việt, về những lễ tết, hội hè đình đám của dân tộc Việt thì thế hệ con em chúng ta sẽ thấy rõ hơn gía trị cao đẹp của bản sắc văn hóa truyền thống nhân bản Việt. Con em chúng ta có quyền tự hào là “con Rồng cháu Tiên” của một dân tộc có lịch sử lâu đời như danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã tuyên xưng: “Chỉ nước Đại Việt ta từ trước, mới có nền văn hiến ngàn năm”.

Chúng ta phải làm sao xứng đáng với tiền nhân, chúng ta phải làm gì để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với anh linh của những anh hùng liệt nữ Việt Nam. Chúng ta hãnh diện được làm người Việt Nam thuộc một đại chủng lớn của nhân loại để ngẩng cao đầu sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Chính niềm tự hào dân tộc sẽ thôi thúc lòng yêu nước của toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ trong nước và Hải ngoại để vươn lên làm một cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ xã hội.

Điều kiện khách quan của lịch sử đã tạo cho dân tộc chúng ta một thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức thời đại để hoàn thành một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật siêu vượt, đưa đất nước chúng ta bước lên sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Toàn thể đồng bào trong nước và Hải ngoại cùng nắm chặt tay nhau, muôn người như một cùng đứng lên đáp lời sông núi để cứu quốc và hưng quốc, tô điểm giang sơn gấm vóc, xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.

MỘT ĐẠI VIỆT NAM, SIÊU BIÊN CƯƠNG

Việt Nam Minh Châu trời Đông,
Việt Nam giống thiêng Tiên Rồng…

Việt Nam trên đường tương lai
Lửa thiêng soi toàn thế giới, Việt Nam ta nguyền tranh đấu cho đời…
Tình yêu đây là khí giới
Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…
Việt Nam Muôn năm Muôn Năm
Việt Nam Muôn Năm Muôn Năm…
Việt Nam Muôn Đời…

Đất nước Việt Nam của chúng ta sau ngày 30-4-1975 với sự thống trị của tập đoàn Việt gian Cộng Sản là một chuỗi những tang thương mất mát, lòng người ly tán, nghèo nàn lạc hậu, đất nước mất dần vào tay Tầu Cộng. Bên cạnh những mất mát đó, điều kiện khách quan của lịch sử khiến hàng triệu đồng bào phải rời bỏ quê hương ra đi tỵ nạn trên khắp thế giới. Sau hơn 43 năm đồng bào Việt Nam cư trú tại Hải ngoại đã lên tới hơn 4 triệu người Việt Nam với số lượng trí thức chuyên viên giỏi nhất và nhiều nhất thế giới mà không một dân tộc nào có được. Tinh thần hiếu học cùng với ý chí tiến thủ, con em của chúng ta đã thành đạt và đã đóng góp rất nhiều với những quốc gia sở tại như những công dân danh dự của nước này.

Điều kiện khách quan của lịch sử cũng đã tạo cho Việt Nam chúng ta có những người Mỹ gốc Việt, người Nga gốc Việt, người Nhật gốc Việt, người Đức gốc Việt, người Anh gốc Việt, người Pháp gốc Việt… người Việt chúng ta, ngôn ngữ của chúng ta trải ra khắp thế giới. Với truyền thống yêu nước thương nòi của người Việt khắp nơi trên thế giới mặc dù sinh sống ở đâu lòng vẫn hướng về tổ quốc, về quê hương đất nước Việt Nam vẫn quây quần tụ hội trong tình ruột thịt, nghĩa đồng bào dưới “Mái Nhà Việt Nam” tại mỗi quốc gia, mỗi tiểu bang, mỗi quận hạt thành phố.

Sau khi chế độ Cộng sản xụp đổ, những người Việt Nam yêu nước sẽ trở về mang theo tài sản, vốn tri thức để đóng góp tài năng trong công cuộc kiến quốc và hưng quốc Việt Nam. Thế hệ trẻ sẽ ở lại hội nhập vào dòng chính của đất nước, quê hương thứ hai sau Việt Nam. Tất cả sẽ tạo nên một sức mạnh Việt Nam tiềm tàng, một Việt Nam siêu biên cương chắc chắn sẽ đóng góp hết sức to lớn trong công cuộc kiến thiết quốc gia và phục hưng quốc gia Đại Việt Nam trong tương lai.

Với sức sống vô biên của người Việt Nam chúng ta, với “Đại Nghĩa Cao cả” của Hào khí Diên Hồng-Tây Sơn Thời Đại, chúng ta nguyện làn hết sức mình, quyết tâm tranh đấu cho:

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn
Dân Tộc Việt Nam bất diệt
Đất nước Việt Nam Phú Cường
Nhân dân Việt Nam sung túc an lạc. 

PHẠM TRẦN ANH

HISTORY OF VIETNAM

Cover History of VN

PREFACE

Historically, each nation has a tradition and culture that was made into a legend for the purpose of promotion of the national pride with its epics. Indeed, the legend of Dragon and Fairy about the origin of the Vietnamese race seems to be mysterious, but in reality, it reflects the humanist characteristics of Vietnamese tradition. The legend of the Fairy and the Dragon is the pride of Vietnamese people. Vietnamese people from babies to ripe old-aged elders, poor peasants to scholars, all have heard of the fairy tales about Hong Bang Family. Indeed, we all know about our source, with the great love of Father Dragon and Mother Fairy or “Luo (Lac) Father and Ou (Au) Mother”, ancestors of the Vietnamese race.

Suffice to say that the Vietnamese original legend in its historical tradition is imaginary. However, it heightens our traditional humanism. The legend of Vietnamese origin represents a noble cultural philosophy, for it is full of humanity, of fellow countrymen’s love fictionized in the image of ‘a bag of one hundred eggs, producing one hundred babies’ commonly known as ‘people of the same womb’. From the fellow-citizen concept to patriotism, love for homeland, all these have become the moral and traditional values of Vietnamese ethic and civilization. Henri Bernard Maitre praised the significance of Vietnamese culture through the ‘Temple of Literature’: “This Temple is not a place to pray or to make amulets. It is a formal place to honor our national heroes, our cultural elites, our doctorates with high ethical standards, and their names were engraved on stone-slabs, so that the future generations of Vietnamese would learn about our proper behaviors, worthy of the aspirations of our ancestors.”

For Vietnamese, the act of worshiping our ancestors is the moral standards in the spiritual life of the Vietnamese people. Since the ancient time, Vietnamese people have highly revered moral principles, so we often think about the commemoration of our relatives’ deaths rather than focusing on our birthdays. Today, although young people are more interested in their birthdays, they do not forget to commemorate their passed-away relatives. Worshiping our ancestors is a ‘Vietnamese religion’ showing moral standards of the Vietnamese. Cadière, a Catholic priest who came to Vietnam to evangelize Christianity, had once confessed that Vietnam was a nation of high religious spirit.

P. Mus, a scholar, when observing the Vietnamese, also acknowledged that Vietnamese people had a high spiritual life: “Vietnamese people did not work, they worship. Indeed, foreigners were surprised to see that every Vietnamese family had an ancestor altar in the middle of their homes. In the Vietnamese spiritual life, every movement is full of a sacred nature, and they worshipped their ancestors with all their hearts. This is the unique characteristic that is imbued with the deep national identity, full of the democratic and humanistic cultural philosophy. As a matter of fact, the Vietnamese spiritual life does not only emblem through the ancestral altar, but also in the altar on the mind of each person. Vietnamese people do not participate in ceremonies to pray for themselves, but they pray as a priest with all the sacred characteristics of a religion.” This represents the good values that characterize the spiritual life of the ancient Vietnamese people. Ancestors worshiping is human morality; it is something noble and spiritual handed down from generation to generation.

This spiritual life has contributed to the conservation of the Vietnamese heredity. Ancestor worshiping tradition is no longer a practice, a simple creed, but it has become a national standard of morality. Ancestor worshiping is considered the orthodox religion of Vietnamese people. Do Chieu, a patriot in the 19th century graciously reminded us, “It’s better to be blind to conserve our moral conformity than not worshiping our ancestors while our eyes are good.” Everyone of us Vietnamese knows that when we drink water, we need to know where it comes from, because “Our father’s kindness is as great like Great Mountain, and our mother’s love is as sourceful as the water flowing out from a stream. We must respect our parents and fulfill our filial duties…! Parents’ kindness to us is undeniably great and unforgettable, regardless of their being alive or in the great beyond. Past and present, we ought to be grateful to parents’ kindness forever.”

This is the uniqueness of Vietnamese’s spiritual life that each Vietnamese observes today and forever after. Undeniably, besides the real life’s sufferings and hardships, we all enjoyed being embraced by our traditional deep and noble spiritual life. It enlivens within each Vietnamese an optimistic living concept, love for life and leisure, together with the will to readily sacrifice our lives for the true independence, the true freedom, prosperity and happiness for all Vietnamese people.

Vietnamese history is the one full of rises and falls of a nation from the dawn of its foundation till today, in which it suffered for nearly one thousand years under Chinese domination, nearly one hundred years under French colonialism, and more than a half century of subjugation by foreign ideologies. During the course of our history, many a time, Chinese people, simmering in their expansionism by all means and with wicked and diabolic tricks, have attempted to invade our country.

Every time they were able to occupy our land, they exerted any way possible to destroy all traces of our roots, our civilization, and our culture. Simultaneously they distort and flip our history and replace it with something vague and chaotic that hampers the later generations Vietnamese from their aboriginal race and pride of their people. Each Chinese dynasty kept renaming the names of places purposefully, the chorographical features of our lands and rivers. More or less the Vietnamese people for nearly one thousand years under Chinese domination had been severely influenced by their mischievous policy of the cultural slavery that made us accept all the “false”, without questioning. However, history must be the truth, whether it has been distorted or buried for thousands of years. We need to see the light of the objective truth now.

At the threshold of the third millennium, the light of truth illuminates the true past that had been covered for thousands of years by our Chinese enemy. In the second millennium, mankind was shocked before the so-called ‘Greece-Roman paradox’ as the whole world previously discerned that all the Western civilization belonged to the Roman and Greece Empires, and then they had to confirm that it was from the civilization of old China too. At the end of the second millennium, mankind was shocked again to find that the so-called Chinese civilization was originally from Malyo-Viets.
The key thing for us is to review the entire history of Vietnam to restore the historical truth in order to dispel the dark clouds that have palled over our history for thousands of years. In the human history, perhaps no people have experienced so many glorious ups and painful downs in the course of our history as did the Vietnamese people. Right from the national foundation, Vietnamese people were hit and chased by Chinese people with the power of nomads, and then Vietnamese people had to leave their homeland and moved southward to settle on the land where Vietnam is now. After nearly one thousand years under China’s domination, Ngo Quyen defeated the South Han in the battle on Bach Dang river in 938, officially opening an era of independence for Vietnam.

Periodically, although we were invaded by China and forced to migrate to the south, the culture of Vietnamese people made its way into China, creating a so-called Chinese civilization. Sigma Qian, a noted historian of Chinese people, had to admit the fact that: “Although the Vietnamese were viewed as barbarians, at the beginning they had the great merit to all peoples …”.

Confucius, a great Chinese scholar, praised the brilliant civilization and confirmed the superiority of Bai-Yue Civilization in the southern part of China: Vietnam. In the book ‘Doctrine of the Mean,’ Confucius wrote: “Tolerance, generosity and kindness, no sense of vengeance against the immoral man: these are the source of power of the South, and it is the quality of a gentleman .. ! Wearing armor, riding horse, going to the battle field without fear of death: these are the source of power of the North, and it’s the strength of a bellicose man”.

In Spring and Autumn Analects, Confucius typified many incidents where a father killed his son, a son murdered his father, a father disgraced his son’s wife, a son abused his father’s concubine, a brother and a sister engaged in incestuous relationship, a subject assassinated his king, and so on. This proved nomadic Han-Chinese were barbarous in the manner of survival, regardless of human love and morality. Ironically, the invaders viewed Vietnamese as barbarians. On the contrary, the Baiyue in the south already had the agricultural civilization for a long time prior to the “Han civilization” interference. Confucius, the ever master of all times of Han Chinese, himself researched, collected, and learned from the civilization of Baiyue in the south, from which he brought the moral rules to the savage society in the north.

All ‘Five Classics’, the quintessence of Han-Chinese, were authored by Confucius who admitted that he just repeated what his predecessors left without any inventions of his own. Nowadays, the truth of history is recovered when all researchers affirm that most inventions which used to be considered as of the Chinese civilization-the agricultural advancement to the metallurgy, bronze-casting techniques, paper-making, glass-melting, gunpowder-making, architecture of sweeping roofs and curved knives… all belonged to Baiyue’s civilization. The Emperor Xian of Han, the last emperor of the Han dynasty, also admitted that: “Jiaozhi is a civilized land with many rivers, mountains, jewels, cultural objects and talented people”.

Coeval with the dawning of Vietnamese civilization, it is necessary to learn about the legend of The Fairy and The Dragon, foundation of Vietnamese nation and the beginning of the State by the National Ancestor ‘Hung King.’ Our filial generations will know clearly about the traditional cultural characteristics of the Vietnamese together with the spiritual cultural life, such as Tet holidays, and the meanings of other Vietnamese festivities. As such, our filial generations will thoroughly understand more clearly about the noble and beautiful values of the traditional culture characteristics of the Vietnamese.

We are proud that we are the children of ‘The Fairy and The Dragon’, the ancestors of a nation which has a long-standing history. Nguyen Trai, a cultural celebrity, declared: “To this day, only our Great Yueh (Viet) had thousands of years’ civilization.”. We are proud to be the Vietnamese, one of the biggest races of mankind, and we can keep abreast with powerful countries in the third millennium. We have to make sure that we deserve all the things that our ancestors have founded, and we must do good things for our country and sing of the sacred souls of Vietnamese heroes’ and heroines’ praises.

All Vietnamese at home and abroad, let’s hold our hands and let’s stay united as one. We will save our country, and turn it into a developed nation, which deserves the fame of Lac Hong-another name of the Vietnamese race. It’s our pride as the Vietnamese which excites patriotism within all Vietnamese people, especially the young generations, at home and abroad, to carry out a democratic revolution, to modernize our nation. Objective conditions of history help our young generations to have modern knowledge to fulfill transcendent scientific and technical revolution and make our country prosperous and powerful, to keep abreast with powerful countries in the third millennium.

VIỆT NAM NĂM NGÀN NĂM VĂN HIẾN

Giở trang Quốc sử trước đèn,                                                                                                  Truyền kỳ lịch sử bao phen thăng trầm                                                                                      Phục hưng dân tộc quyết tâm,                                                                                                      Việt Nam văn hiến tỏa trầm kỳ hương…

    Thời kỳ Triệu Vũ Đế và quốc gia Nam Việt là thời kỳ vàng son chói lọi của Việt tộc kể từ thời Kinh Dương Vương mở nước. Quốc gia Nam Việt chỉ tồn tại được một thế kỷ nhưng đã mở ra một thời đại mới: Thời đại độc lập tự chủ rạng rỡ của Việt tộc. Triệu Vũ Đế là một thiên tài lịch sử, bậc anh hùng khai quốc, vị hoàng đế đầu tiên của Việt tộc cùng thời với Hán Cao Tổ bên Tàu. Triệu Vũ Đế chính là niềm tự hào của Việt tộc nên đại thi hào Nguyễn Trãi đã trân trọng Triệu Vũ Đế và quốc gia Nam Việt trong áng văn bất hủ “Bình Ngô Đại cáo”, bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc:

“Chỉ nước Đại Việt ta từ trước                                                                                                          Mới có nền văn hiến ngàn năm                                                                                                    Sơn hà cương vực đã chia,                                                                                                                Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần                                                                                                                    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên                                                                                                    Mỗi bên hùng cứ một phương                                                                                                          Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau                                                                                                      Nhưng hào kiệt thời nào cũng có…”.

    Danh nho Nguyễn Trãi đã khẳng định là: “Duy ngã Đại Việt chi quốc, Thực vi văn hiến chi bang” có nghĩa là “Chỉ có nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền văn hiến ngàn năm…”. Một dân tộc có nền văn hiến là một dân tộc có một nền văn hóa cao với những điển chương định chế, những phong tục tập quán tốt đẹp, sinh hoạt tinh thần cao cả, hướng thượng đạt tới trình độ văn minh với quan niệm sống “Chân-Thiện-Mỹ”.

    Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc khai mở cho chúng ta nét văn hiến của một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất với một nền văn hóa cổ nhất của nhân loại. Truyền thuyết kể rằng khi Đế Minh phong cho Đế Nghi làm vua phương Bắc và Kinh Dương Vương làm vua phương Nam năm 2879 TDL thì xã hội lúc đó đã có văn hóa điển chương và đã có định chế xã hội với nền nếp kỷ cương tôn ti trật tự rồi. Thời đại Hùng Vượng đã đi vào định chế dựa trên nền tảng văn minh đạo đức nông nghiệp hẳn hòi qua truyền thuyết khởi nguyên dân tộc.

    Thật vậy, khi vua cha Đế Minh thương yêu muốn truyền ngôi cho Lộc Tục nhưng Lộc Tục không dám vâng mệnh để nhường ngôi cho anh là Đế Nghi. Đế Minh thấy vậy, phong cho Đế Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quy. Kinh Dương Vương lấy Long Nữ sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm lên ngôi lấy hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân dạy dân lễ nghĩa, đạo đức của một con người: “Bố lạc đã dạy dân cày cấy, ăn mặc”. Trong nước từ đây mới có thứ tự quân thần, tôn ti trật tự, xã hội mới có luân thường đạo lý giữa cha con: “Cha hiền từ, Con hiếu thảo,” đạo lý vợ chồng: “Chồng tín nghĩa, Vợ tiết trinh”.

    Truyền thuyết kể tiếp: Bố Lạc dặn dò các con: “Lên núi xuống biển, các con nhớ cưu mang giúp đỡ lẫn nhau. Trăm con cúi đầu vâng lời rồi từ biệt mà đi… Năm mươi con ở lại miền cao cùng suy cử tôn người anh lên ngôi vua, lấy hiệu là Hùng Vương…”. Trong kho tàng cổ tích Việt Nam, sự tích Trầu Cau cũng mang một ý nghĩa cao đẹp của đạo lý vợ chồng, tình anh em máu mủ ruột thịt nên vua Hùng đã phán truyền là trong lễ cưới hỏi phải có mâm trầu cau biểu trưng cho tiết nghĩa thủy chung chồng vợ. Tất cả đã nói lên nền tảng luân lý, phong tục của một dân tộc sống về nghề nông với nền văn minh đạo đức nông nghiệp.

    Theo sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên thì “Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Đế Minh đi tuần du phương Nam, đến dãy Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên nữ sinh ra Vương (Lộc Tục). Vương là bậc Thánh trí thông minh. Đế Minh yêu quý lạ, muốn cho nối ngôi. Vương cố nhường cho anh mình, không dám vâng mệnh nên Đế Minh lập Đế Nghi là con trưởng nối dòng trị phương Bắc và phong cho vua là Kinh Dương Vương, trị phương Nam, đặt tên nước là Xích Quỷ. Vương lấy con gái Chúa Động Đình tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm, nhà vua lấy con gái của Đế Lai là nàng Âu Cơ, sinh ra trăm trai. Tục truyền là sinh ra trăm trứng, ấy là Tổ của Bách Việt…”.[1]

    Hán tộc là tộc người du mục, sống về lý trí, thiên về sức mạnh nên bản chất của họ là xâm lược, là đế quốc bành trướng bá quyền. Lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lược, thôn tính để đồng hóa các dân tộc khác. Họ lại nhận là nước ở trung tâm thiên hạ, là con trời “Đại Hán” để trị vì thiên hạ. Vua Hán xưng là Thiên tử, triều Hán là Thiên triều nên xem các nước chung quanh là tứ di nghĩa là Man di mọi rợ gồm Bắc Địch, Nam Man, Đông Di và Tây Nhung (Khuyển Nhung).

    Trong suốt trường kỳ lịch sử, tuy bị Hán tộc xâm lấn phải bỏ trung nguyên xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành cái gọi là văn minh Trung Quốc. Vạn thế sư biểu, Người Thầy Muôn Đời của Hán tộc là Khổng Tử đã phải ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Khổng Tử khi viết lại Thi Kinh đã lấy phần “Chu Nam” và “Chiêu Nam” là những Phong dao Việt, luân thường đạo lý Việt trong Kinh Thi được Khổng Tử xem là “Chính Phong” để mở mang tâm hồn, giáo hóa dân Chu du mục. Sách Luận Ngữ ghi lại lời nói của Khổng Tử như sau: “Xem Kinh Thi có thể phấn khởi được ý chí. Xem xét được việc hay dở, hòa hợp được với mọi người, bày tỏ được nỗi sầu oán, gần thì học việc thờ cha, xa thì học việc thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông, cỏ cây…”.

     Trong Thi Kinh Tập truyện, Khổng Tử San định, Chu Hy (1130-1200), một học giả Hán chỉ nổi tiếng đã chú giải về Thi Kinh như sau “Theo thuyết xưa, thơ Nhị Nam (Chu Nam và Chiêu Nam) là thơ chính phong, ứng dụng những thơ ấy vào gia đình, làng xóm và nước nhà mà giáo hóa cả thiên hạ”.  Khổng Tử đã giảng giải cho Tử Lộ về sự khác biệt giữa 2 nền văn hóa Việt và Hán trong sách Trung Dung như sau: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử cư xử như vậy..! Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo hành xử như thế đó…”.[2]

    Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa. Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man mạnh được yếu thua, bất kể tình người, bất kể luân lý đạo đức. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn miệt thị Việt tộc là man di, các Thứ Sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu. Chính “Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những quy luật, trật tự cho xã hội phương Bắc. Chính vì vậy, sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là: “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy…”.

    Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút… tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính vì vậy, Hán Hiến Đế một vị vua của Hán tộc, đã phải thừa nhận: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông hun đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất!”. Ngay cả Tiền Hy Tộ sử quan triều Thanh với quan niệm Đại Hán đã sửa đổi nội dung của bộ Đại Việt Sử Lược, nhưng vẫn phải thừa nhận một thực tế là: “Người Việt phong tục thuần lương chân chất.”. Như vậy, nếu tính từ năm 2879 TDL là năm Kinh Dương Vương lên ngôi tính tới ngày nay 2018, Việt Nam đã có 2879+2018= 4.897 năm tức gần năm ngàn năm văn hiến.

    Giới nghiên cứu đã thống nhất quan điểm xác định văn hóa Hòa Bình là nền văn hóa cổ nhất của nhân loại và Việt Nam là quê hương của nền văn hóa Hòa Bình. Các nhà văn hóa nghiên cứu về triết học phương Đông, văn minh phương Đông đều xác nhận ý nghĩa và tầm quan trọng của văn hóa Việt Nam. Nhà văn hóa học Đông Nam Á, học giả Pière Gourou viện Viễn Đông Bác Cổ đã nhận định trung thực về nền văn hoá tiền sử ở Đông Nam Á nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng đã minh chứng dân tộc Việt đã có nền văn minh đạo đức như sau:

“Những cư dân tiền sử sống trong nền văn hóa thực vật ở Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng, một mặt là cư dân sớm định cư định canh, do đó sớm phát triển và đạt được trình độ văn minh. Mặt khác, đó là những cư dân hiếu hòa chứ không hiếu chiến, hiếu sinh chứ không hiếu sát”.[3]

    Giáo sư Wilhelm Solheim, Viện trưởng viện khoa học Đông Tây tại Honolulu đã kết luận: “Những hiện vật khảo cổ tìm thấy như trống đồng Đông Sơn mà 18 viện khảo cổ phương Tây đều đồng ý rằng nền văn minh trống đồng Đông Sơn chứng tỏ Việt Nam đã có nền văn hóa sớm nhất thế giới, cách nay trên 15 ngàn năm. Nền văn hóa đó bao trùm và ảnh hưởng trên toàn thế giới. Thực tế này phản bác mọi quan niệm cũ cho rằng văn minh thế giới xuất phát từ Phi Châu”.

    Việt tộc là cư dân sống về nghề nông, trồng lúa nước nên thiên về văn hóa, đạo đức, tâm linh. Dân tộc Việt là một dân tộc có truyền thống nhân đạo với đạo lý tôn trọng con người, lấy con người là mục đích tiên khởi và cùng đích cũng là phục vụ con người. Trong khi các dân tộc khác tôn thờ sùng kính thần linh thì chỉ có dân tộc Việt Nam trân trọng giá trị đích thực của con người nên những người có công với dân tộc, với làng xã thì sau khi chết cũng được tôn thờ như một “Nhân Thần” như những thần linh.

    Một viên Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương là học giả Couve De Pouvourville (1921-1926) đã phải thừa nhận truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam:

“Chúng ta thấy ở đây là cả một nền văn minh, mọi thứ được xây dựng từ lâu. Nghệ thuật, khoa học, kể cả khoa quản lý quốc gia đều phát triển mạnh. Luật pháp, phong tục, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hòa hợp với nhau, trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã được điều hòa và ngày càng hoàn hảo hơn. Những vết tích man rợ đã hết từ lâu.

    Dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức, trong khi người phương Tây còn ở trong tình trạng bán khai. Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói Thánh hiền, thương yêu nòi giống, tôn trọng lẽ phải, ghét xa hoa, không ham tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, sẵn sàng hy sinh… Đó là đức tính của người dân Việt. Tất cả người Việt Nam bình thường mà người ta gặp bất cứ nơi đâu cũng đều như thế”.

    Paul Mus, nhà nghiên cứu nổi tiếng về văn hoá Việt Nam đã viết: “Việt Nam đầy rẫy những triết gia hiểu biết theo nghĩa là những con người có chiều sâu tư tưởng, biết suy nghĩ trăn trở. Càng về đồng quê, thôn cùng xóm vắng thì càng nhiều, đó là xã hội lý tưởng của Platon mơ ước đã hiện thực ở Việt Nam từ lâu rồi”.

    Nền minh triết Việt khởi nguyên từ thần tổ kép Tiên Rồng, uyên nguyên của triết lý Âm Dương Việt cổ, tinh túy của triết học phương Đông. Âm Dương biểu tượng cho 2 mặt đối lập tương sinh tương khắc nhưng không dẫn đến triệt tiêu, hủy diệt lẫn nhau mà cùng nhau tương hoà theo lý đối lập thống nhất. Trong vũ trụ vạn vật muôn loài đều có 2 mặt đối lập với nhau nhưng vẫn cần thiết có nhau, tương hòa để tồn tại. Nếu thiếu một trong 2 yếu tố căn bản hoặc âm hoặc dương thì sẽ không có muôn loài muôn vật.

    Thực tế cuộc sống được chiêm nghiệm suốt chiều dài của lịch sử loài người, đó là tuy đối lập nhưng vẫn hài hòa, thống nhất trong đa dạng thì loài người mới tồn tại mãi tới ngày nay. Bất cứ muôn loài muôn vật muốn tồn tại phải “Tương Hòa” đó chính là đạo “Thái Hòa” của nền minh triết Việt Nam.

    Hòa hợp ngay tự bản chất mỗi vật, hòa hợp ngay chính bản thân mỗi người như thể xác với tâm hồn, tình cảm với lý trí, tâm với tính, hài hòa với thiên nhiên, hài hòa trong ứng xử giao tiếp với tha nhân, duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa dân tộc này với dân tộc khác để cùng tồn tại chứ không cực đoan, mưu đồ tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải cùng tôn trọng nhau, chấp nhận nhau dù có sự khác biệt. Phải chấp nhận thống nhất trong đa dạng, lấy yếu tố con người làm đích điểm để cùng chung sống trong hòa bình. Đó chính là triết thuyết Nhân bản Cộng tồn, lấy con người là chính để cùng chung sống trong hòa bình an lạc của nền minh triết Việt.

    Nhân loại đang trải qua thời kỳ khủng hoảng, bế tắc của tư tưởng nên hết chiến tranh ý hệ lại quay sang chiến tranh dân tộc và tôn giáo đe dọa sự sống còn của nhân loại. Chỉ có nền minh triết siêu việt nhân bản tâm linh Việt mới đưa nhân loại thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay để giải quyết vấn đề nhân sinh bước vào thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

[1]. Ngô Sĩ Liên:Đại Việt Sử Ký Toàn Thư bản Nội các quan bản Tập 1 được dịch, chú giải và hiệu đính bởi các dịch giả Ngô Đức Thọ, Hoàng văn Lâu, Ngô Thế Long, Hà văn Tấn Năm nhà xuất bản Khoa học xã hội cho xuất bản năm 1983.

[2].  Khổng Tử: Trung Dung, bài thứ 10, Tử Lộ vấn cường.

[3]. Pièrre Gourou: Pière Gourou: Le Tonkin, Hanoi 1931. Les paysans du delta Tonkinoises, Etude de Geographie Humane, Publ. BEFEO, XXVII, 1936.

        VIỆT NAM: DÂN TỘC CÓ LỊCH SỬ LÂU ĐỜI                                 

    Trước đây, chúng ta thường nói dân tộc Việt có hơn 4 ngàn năm lịch sử và Việt tộc từ phương Bắc di chuyển dần xuống phương Nam. Các sử gia Mác Xít viết sử theo nghị quyết, của đảng Cộng sản Việt Nam đã không dám nhắc gì đến phần đất của Việt tộc ở lãnh thổ Trung Quốc hiện nay. Họ tìm cách kéo lùi lịch sử lại cho phù hợp với quyển “Việt Sử Lược” mà bản duy nhất còn trong Tứ khố Toàn Thư triều Thanh đã bị sử quan Thanh triều là Tiền Hy Tộ sửa đổi, bóp méo lịch sử. Họ nhân danh khoa học lịch sử cho rằng Việt Nam mới có hơn 2 ngàn năm lịch sử. Đây là sự phản bội công lao xương máu của tiền nhân, phản bội dân tộc đê hèn ô nhục nhất trong lịch sử Việt.

    Trong khi đó, sự thật khách quan của lịch sử đã được giới nghiên cứu quốc tế trong hội nghị các nhà Trung Hoa học kể cả Trung Quốc và Đài Loan ở đại học Berkeley, California Hoa Kỳ năm 1978 công nhận là Việt tộc mà họ gọi là Di Việt cư trú đầu tiên tại Trung nguyên Trung Quốc bây giờ. Vào thời điểm đó, tri thức nhân loại còn ít nhiều hạn chế nên đã nhận định: “Không có đủ yếu tố để xác nhận chủng tộc nhưng Hán tộc đã tiếp thu văn hóa của Di Việt…”.

    Năm 1766 TDL, tộc Thương đánh đuổi nhà Hạ của Việt tộc và thành lập triều Thương đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lược, bành trướng xuống phương Nam. Chính sử Trung Quốc đã xác nhận là triều Ân đem quân đánh chiếm Xích Quy Phương, Tần Mục Công đánh đuổi Lạc Bộ Chuy năm 659 TDL và triều Tần, Hán đánh chiếm Lĩnh Nam, Nam Việt và các chi tộc Việt ở Tây Nam Trung Quốc và Nam Việt năm 111 TDL. Các chi tộc Việt phải rời bỏ phần đất trung nguyên Trung Quốc xuống trụ lại ở lãnh thổ Việt Nam bây giờ. Chính vì vậy nên trước đây các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng dân tộc Việt từ phương Bắc di chuyển dần xuống phương Nam. Thế nhưng, công trình khoa học nghiên cứu cấu trúc di truyền Genome DNA của một tộc người và công trình nghiên cứu nạn Biển Tiến của học giả lừng danh Stephen Oppenheimer được công bố trong tác phẩm “Thiên đàng ở phương Đông, Lục địa bị chìm đắm ở Đông Nam Á” đã làm đảo lộn mọi nhận thức từ xưa tới nay.[1]

    Khoa Di Truyền học đã chứng minh người Tiền Sử từ châu Phi tiến sang định cư ở Hòa Bình Đông Nam Á cách ngày nay khoảng từ 60 đến 70 ngàn năm và Đại Dương học cũng đã xác nhận là cách đây khoảng 8.000 năm, lần biển tiến gần đây nhất đã nhận chìm nền văn minh Đông Nam Á cổ đại. Lục địa Đông Nam Á thời đó gồm cả 2 đại lục: Đại lục Sundaland bao gồm lưu vực sông Cửu Long trải dài xuống Nam Dương và đại lục Nanhailand bao gồm lưu vực sông Hồng kéo dài tới bờ biển phiá Đông đảo Hải Nam ngày nay.

    Mực nước biển dâng cao đột ngột còn để lại ấn tích trong Kinh Thánh về nạn đại hồng thủy và truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh của Việt Nam. Mực nước biển dâng cao 150 mét tới đỉnh Việt Trì nên cư dân Hòa Bình Hoabinhian phải dời lên vùng cao để tránh nạn biển tiến. Những cư dân Hoabinhian này chính là những người tiền Việt (Proto-Viets) đã lên vùng núi cao Hòa Bình, Bắc Sơn và theo hướng Tây Bắc tiến lên Vân Nam, qua Ba Thục tức Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ để tiến tới vùng cao nguyên Tây Tạng nằm giữa hai dãy núi Hi Mã Lạp Sơn Himalaya và Côn Luân Kunlun.

    Cư dân Hòa Bình Hoabinhian Protoviets tức là người tiền Việt đã từ Nanhailand và Sundaland hội tụ về Bắc Việt Nam rồi tiếp tục tiến lên phía Bắc và cách đây 5.500 năm khi mực nước biển rút dần thì người Việt cổ lại tiến dần xuống vùng đồng bằng châu thổ 3 con sông lớn Hoàng Hà, Dương Tử, Cửu Long rồi tiến xuống dọc theo lưu vực sông Hồng, sông Mã trở về nơi đất Tổ xa xưa.

    Thực tế này đã được các nhà khoa học trường Viễn Đông Bác cổ xác định lộ trình thiên di của những người Việt cổ này căn cứ vào kết quả đo chỉ số sọ của các nhà Khảo Tiền sử. Người Việt thuộc loại sọ tròn, dung lượng sọ là 1341,48 và chỉ số sọ trung bình là 82.13 hoàn toàn khác biệt với Hán tộc (Tàu) sọ dài, dung lượng sọ là 1440 và chỉ số sọ là 76,51. Kết quả khảo tiền sử cho biết người Việt cổ từ vùng cao nguyên giữa 2 dãy núi cao nhất và cổ nhất là Hi Mã Lạp Sơn (Himalaya) và Côn Luân (Kunlun) tiến dần xuống vùng lưu vực đồng bằng châu thổ các con sông lớn là Hoàng Hà, Dương Tử, Cửu Long, sông Hồng.

    Kết quả của khoa Khảo Tiền sử được khoa Đại Dương học minh kiểm chứng là cách nay 5.500 năm, khi nước biển rút dần thì người Hoabinhian = Proto-Viets => Malaysian xuống định cư ở vùng đất phì nhiêu dọc lưu vực các con sông để khai khẩn canh tác. Khoa Khảo Tiền Sử cho biết cách nay khoảng 6 ngàn năm một nhánh người Việt cổ, từ thượng nguồn dọc theo lưu vực sông Dương Tử và Cửu Long xuống định cư ở vùng lòng chảo đất đỏ Dạ Lang vùng Ba Thục tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ.

    Sách cổ “Thượng Thư” gọi là vùng đất đỏ từ Tam giang Bắc gồm sông Hoàng, sông Vị và sông Lạc trở xuống tới Tam Giang Nam gồm sông Nguyên, sông Tương và sông Dương Tử là Xích Quy Phương còn gọi là Cửa Việt hay Giao Chỉ. Chữ “Phương” chỉ đòng đòng lúa hàm nghĩa cư dân nông nghiệp trồng lúa. Như vậy, Thủ lĩnh hai châu Kinh Dương đã lấy tên đất để đặt tên cho nước là “Xích Quy” hàm nghĩa là nước của cư dân trồng lúa ở vùng đất đỏ Xích Quy.[2]

    Tộc Chu là tộc người du mục mang dòng máu Thổ (Turc) và Mông Cổ tóc màu hung nên đã gọi người dân bị trị là Lê dân (dân tóc đen) và miệt thị các nước chung quanh là cửu quỷ. Các sử gia Hán tộc đã viết Xích Quy là Xích Quỷ để miệt thị dân tộc ta là tộc người man di mọi rợ. Ngay từ thời Thương kế tiếp là Chu, Hán tộc tự cho mình là “Thiên Triều,” vua Tàu xưng là Thiên Tử là con trời, thay trời hành đạo, nước Tàu ở trung tâm các nước nên lấy tên nước là Trung Quốc và miệt thị các tộc người xung quanh Trung Quốc là tứ di gồm: Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch và Nam Man.

    Theo kết quả của khoa Khảo Tiền Sử thì cách đây khoảng 5 ngàn năm, một nhánh người Việt cổ Malaysian tiến xuống vùng Tam Giang Bắc gồm 3 con sông Hoàng, sông Vị và sông Lạc. Tên con sông Lạc này viết với bộ “Chuy” chỉ loài chim đuôi ngắn vật biểu của người Việt cổ chi Âu Việt thờ chim ở tỉnh Thiểm Tây. Theo truyền thuyết thì đây chính là dòng Thần Nông phương Bắc đã thành lập các triều đại Đế Nghi, Đế Lai, Đế Du Võng…[3] Như vậy, kết quả của khoa Khảo Tiền Sử đã chứng minh tính hiện thực của truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc.

     Tư Mã Thiên, sử gia chính thống của Hán tộc đã phải thừa nhận một sự thực là “Việt tuy gọi là Man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy.”.[4] Chính Tư Mã Thiên đã lấy Đế Hoàng nguyên là một vị thần được nhân dân sùng kính ở Sơn Đông lên làm cộng chủ và viết là Hoàng Đế theo ngữ pháp Hán là người khai sáng lịch sử Trung Quốc.

    Trong khi đó, Chu Cốc Thành một sử gia Trung Quốc trong “Trung Quốc Thông Sử” đã thừa nhận: “Viêm tộc đã có mặt khắp nước Trung Hoa thời cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào nên được xem là chủ nhân phần đất Trung Quốc đầu tiên. Khi Viêm Việt đã định cư thì Hán tộc còn sống du mục ở vùng Tân Cương, Thanh Hải. Về sau, họ men theo Hoàng Hà tràn vào Hoa Bắc, chiếm đất của Việt tộc”. Nhóm “Nghi cổ phái” của nhà văn Quách Mạt Nhược cũng đã bác bỏ thời Tam Hoàng Ngũ Đế là của Trung Quốc vì những vị vua cổ đại không thấy ghi trong những mai rùa (Giáp cốt) đời Thương.

    Các nhân vật huyền sử từ Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, “Tam Hoàng Ngũ Đế” chỉ mới xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến Quốc là thời kỳ cực thịnh của các quốc gia Bách Việt. Chính vì vậy, Lương Khải Siêu cho rằng lịch sử Trung Quốc mới chỉ có hơn 4 ngàn năm. Đây là một sự thật lịch sử mà các học giả, các nhà nghiên cứu Trung Quốc không thể phản bác được.

    Như vậy, nếu căn cứ trên kết quả đo chỉ số sọ người Việt cổ của Khoa Tiền sử học thì nước ta có ít nhất là hơn 6 ngàn năm lịch sử.[5] Mặt khác, công trình nghiên cứu Đại Dương cũng như những kết qủa phân tích di truyền DNA thì người Tiền sử từ châu Phi đến vùng Đông Nam Á từ 60-85 ngàn năm trước. Như vậy, người cổ Đông Nam Á đã có mặt tại lưu vực sông Hồng sông Mã từ rất lâu và đã hình thành nền văn hóa Hòa Bình. Cư dân Hòa Bình chính là những người Tiền Việt Protoviets mà cho tới nay, giới khảo cổ học mới tìm thấy được người vượn ở Bình Gia (Lạng Sơn) và các dụng cụ bằng đá của người nguyên thủy vào thời kỳ đồ đá cũ ở núi Ðọ (Thanh Hóa) từ trên 30.000 năm trước.

    Khảo cổ học cũng đã tìm được những chiếc răng của người hóa thạch vào thời kỳ địa chất Pleistocene cách nay khoảng 300.000 năm. Khảo cổ học cũng đã tìm được di tích của đời sống của người nguyên thủy ở Sơn Vi (Lâm Thao, Vĩnh Yên), ở Bắc Sơn, Hòa Bình, ở Hang Muối và Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Họ chính là những người Tiền Việt (Hoabinhian-Protoviets).

     Kết quả mới nhất, thuyết phục nhất của các nhà Di Truyền học đã xác định người Hoabinhian-Protoviets, chủ nhân của nền văn hóa Hòa Bình được xem là cổ nhất của vùng Đông Nam Á nói riêng và nhân loại nói chung. Kết quả mới nhất về phân tích cấu trúc di truyền của nhà bác học Trung Quốc J.Y. Chu và 13 đồng nghiệp đã khẳng định rằng nguồn gốc của người Trung Quốc và người Á Ðông là do giống người Ðông Nam Á đi lên.[6] Việt Nam có Haplogroups chính gồm A, B, C, D và không có cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII/ tRNA.LYS nên các nhà di truyền học gọi là có “Đột biến đặc biệt Á Châu” (9bp deletation bettween CO/II tRNALYS genes,” bp= base pair).[7]

    Mặt khác, Ballinger và đồng nghiệp nghiên cứu dùng mtDNA, ghi nhận rằng chỉ số biến thiên F-value của người Việt cao nhất trong các sắc dân vùng Đông Nam Á. Người Việt có 1 tỷ lệ cao nhất về biến đổi di truyền trong dân tộc 0.236% và về Hinc II/ Hpal nên được xem là dân tộc cổ nhất Đông Nam Á nên là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất.

    Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu đã công nhận Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình và từ đây Mitochondrial DNA Á Châu (Asian Mitochondrial DNA) lan toả ra toàn vùng Đông Nam Á và cả châu Mỹ nữa. Cư dân Hoabinhian Protoviets này đã mang theo những phát minh quan trọng như nghề trồng lúa nước, thiên văn, chữ viết cổ (Khoa Đẩu), kỹ thuật hàng hải, kỹ thuật xây cất các đô thị đến nơi khác để hình thành những nền văn minh cổ đại trên thế giới như Trung Hoa, Ấn Độ và Trung Đông.

     Kết quả khoa học của khoa Di truyền học đã chứng minh là cư dân Trung Quốc ở miền Đông và miền Nam kể cả Đài Loan, cư dân Đông Nam Á gồm Miến Điện, Miên, Lào, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Brunei và Đông Timor, thổ dân Đa Đảo Polynesian, thổ dân Hawai, thổ dân Maya ở Trung và Nam Mỹ, Pima ở Bắc châu Mỹ có cùng Halogroups và có Đột biến châu Á Mitochondrial DNA (Asian Mitochondrial DNA). Vì vậy, Việt Nam được xem là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa.

    Từ những kết quả khoa học thuyết phục trên, ngày nay giới nghiên cứu xác định nền văn hóa Hòa Bình là nền văn hóa tối cổ của nhân loại, Hoabinhoid là một đại chủng của nhân loại và Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất

[1].  Stephen Oppenheimer: Eden in the East: The Drowned continent of South-East-Asia.

[2]. Âu Đại Nhậm: Bách Việt Tiên Hiền Chí, Trần Lam Giang dịch, Trung tâm Nghiên cứu Văn Hóa Việt Nam xuất bản 2010. Việt Nam Suối Nguồn Văn minh phương Đông của Du Miên trích dẫn, NXB TTNC Văn Hóa Việt Nam tr 223 và 224.

  1. Kinh Thi chép tên núi và sông vùng Tam Giang Bắc là Quy. Tích xưa kể lại rằng khi Đế Nghiêu gả 2 cô con gái về làm dâu ở nhà họ Ngu ở bến sông Vị, khuỷu sông Quy là “Vu Quy nhuế” nên ngày nay, chúng ta gọi ngày con gái về nhà chồng là lễ “Vu quy.”

[4]. Âu Đại Nhậm: Bách Việt Tiên Hiền Chí, Trần Lam Giang dịch, Trung tâm Nghiên cứu Văn Hóa Việt Nam xuất bản 2010. Việt Nam Suối Nguồn Văn minh phương Đông của Lê Thanh Hoa trích dẫn, NXB TTNC Văn Hóa Việt Nam tr 223 và 224.

  1. Có thể niên đại còn cao hơn nhiều nhưng vì khoa Khảo Tiền sử không thể đo chỉ số sọ của những sọ trên 6 ngàn năm vì đã bị mục rữa.

[6]. Dr Chu: Chu JY, et al. Genetic relationship of populations in China.

[7]. S.W. Ballinger& đồng nghiệp: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 p.139-45.

national geographic

                                                                       BẢN ĐỒ LỊCHSỬ TRUNG HOA                                                                                 Tạp chí National Geographic Hoa Kỳ 1991
– Trên bản đồ phần nhỏ tô đậm là lãnh thổ của triều Chu (Zhou), chữ CHU chỉ nước Sở, YUE nước Việt, Qin nước Tần và Shu chỉ nước Thục. Tộc Thương, Chu là tộc người du mục từ phía Tây Bắc tràn xuống đánh chiếm nhà Hạ của tộc Việt năm 1766 TDL.
– Cách đây hơn 7 ngàn năm, cư dân Malayo-Viets ở miền Nam sông Dương Tử là cư dân đầu tiên trên thế giới trồng lúa nước.
– Cách đây 6 ngàn năm (4.000 BC), nền văn hóa Ngưỡng Thiều và văn hóa miền duyên hải phía Đông thời đá mới của cư dân Malayo-Viets.
– Cách đây 5 ngàn năm (3.000 BC), cư dân Nam Trường Giang (Dương Tử) sản xuất ra tơ lụa và chạm trổ ngọc bích để trang điểm.

PHỤC HỒI SỰ THẬT LỊCH SỬ

VIỆT TỘC LÀ MỘT ĐẠI CHỦNG

    Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay. Dân tộc Việt đã phải chống lại 26 lần xâm lược của đế quốc Đại Hán xưa và Đế quốc mới Trung Cộng ngày nay và chịu đựng gần một ngàn năm giặc Tàu thống trị. Sau chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử năm 938 của Ngô Quyền đã mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỷ quyệt đã dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong cái gọi là “chính sử” của Trung Quốc.

    Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của gần một ngàn năm của sự đồng hóa nô dịch văn hóa khiến một số người chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Trình Bá Âu Đại Nhậm, trong tác phẩm “Bách Việt Tiên Hiền Chí” thời Minh đã viết: “Vốn xưa Cối Kê là đất của Việt, miêu duệ của vua Hạ Vũ cai trị đất này. Từ sau biến cố lìa tan, đến định cư trên miền duyên hải Giang Nam, kẻ làm Vương người làm Quân Trưởng, dòng dõi Bách Việt sinh sôi đông đảo, sống đời hạnh phúc, nức danh rạng rỡ ở đây.  

    Đất nước của các Quân Trưởng, xa đến tận Nam Hải, Quế Lâm. Từ Hán về sau, để tiện việc cất quân đánh chiếm đã vẽ họa đồ phân chia Việt thành châu, thành quận lấy lệ mà thôi. Tên đất cũng là tự ý đặt, sai khác khá nhiều với tên đích thực”.[1]

    Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc xâm lược bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mã để rồi sau đó thấy rằng hầu hết các phát minh đến từ Trung Quốc ở phương Đông. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

    Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc khiến chúng ta hoài nghi về nguồn gốc của dân tộc mình. Hàng loạt câu hỏi đặt ra như lịch sử Việt với huyền thoại Rồng Tiên hoang đường huyền hoặc vì thời buổi này ai mà tin người đẻ ra trứng rồi trứng lại nở ra người?

    Trước đây, một số sách lịch sử không tìm hiểu nghiên cứu về truyện họ Hồng Bàng nên cho rằng dòng Thần Nông phương Bắc là Trung Quốc, dân tộc ta là dòng Thần Nông phương Nam cùng một ông Tổ Thần Nông nên từ Tầu mà ra. Trên thực tế, Hán tộc là tộc người du mục thì làm sao có thể là con cháu của ông Tổ nghề trồng lúa nước Thần Nông?. Ngay cả danh từ trăm họ, bách tính bá tánh và các dòng họ Việt Nam do ảnh hưởng của sự nô dịch văn hoá nên cũng cho là của Tàu, từ Tàu di cư qua Việt Nam mà quên rằng chính truyền thuyết mẹ Âu sinh trăm trứng đã dẫn đến ý niệm trăm họ của tộc Việt.

    Biết bao vấn đề cần làm sáng tỏ vì sau gần một ngàn năm dưới ách thống trị của Tầu Hán với chủ trương thâm độc quỷ quyệt, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đã xuyên tạc bóp méo, sửa đổi lịch sử để đồng hoá dân ta. Có một thực tế đau lòng là sau gần một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ của giặc Tây khiến dân tộc chúng ta dường như mang mặc cảm thua kém văn minh Tàu, cái gì hay đẹp cũng nói là của Tàu, cái gì to lớn văn minh cũng bảo là của Tây… đã tạo nên cái tự ti mặc cảm của một dân tộc nhược tiểu.

    Ai trong chúng ta cũng đều biết rõ mình không phải là Tàu nhưng không dẫn ra những chứng cớ thuyết phục để chứng minh. Thậm chí, ảnh hưởng của sự nô dịch văn hóa khiến một số người tỏ ra hoài nghi tất cả những gì mới lạ cho dù đó là một công trình nghiên cứu có tính khoa học thuyết phục của các học giả ngoại quốc mà vẫn khư khư chấp nhận những tư tưởng nô lệ từ ngàn năm qua. Chính vì vậy, một học giả thời danh ngoại quốc J. Needham đã phải viết rằng: “Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật!”.

    Trong lịch sử nhân loại, không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung Quốc xuống phương Nam. Các nhà Việt Nam học khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam vẫn đặt ra 2 câu hỏi mà vẫn chưa được lý giải thỏa đáng, đó là tại sao triều đại nào của Trung Quốc cũng chủ trương xâm chiếm lãnh thổ và tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá và yếu tố nào đã giúp dân tộc Việt Nam tạo nên kỳ tích là sau gần 1 ngàn năm bị thống trị mà dân tộc Việt vẫn vùng lên giành lại được độc lập dân tộc?

     Tìm hiểu suy ngẫm lại toàn bộ tiến trình lịch sử thì chúng ta thấy ngoài lý do vị trí địa lý chiến lược và tài nguyên, có 2 nguyên do chính để Hán tộc phải tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá. Thứ nhất là Hán tộc đã lấy văn hóa Việt cải biến thành văn hóa Hán, văn minh Hán và lãnh thổ Trung Quốc ngày nay chính là địa bàn cư trú của tộc Việt mà Hán tộc đã xâm chiếm. Nguyên do thứ hai quan trọng hơn là quá nửa dân số Trung Quốc là người gốc Việt cổ. Đây là một nguy cơ tiềm tàng đe dọa sự sống còn của Trung Quốc nên triều đại nào, giới cầm quyền nào cũng chủ trương xâm lược tiêu diệt dân tộc chúng ta.

    Người Việt là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, mỗi chi tộc cư trú trên một địa bàn nằm rải rác trên khắp lãnh thổ Trung Quốc bây giờ và thường đánh lẫn nhau để giành quyền lãnh đạo nên cộng đồng Bách Việt bị phân hóa và suy yếu. Vì vậy, khi Hán tộc du mục thiện chiến từ Tây Bắc tràn xuống đánh chiếm các nước Việt một cách dễ dàng. Thời Xuân Thu Chiến Quốc hết Ngô đến Việt rồi Sở đánh lẫn nhau giành ngôi bá chủ trung nguyên, cuối cùng bị đế quốc Tần đánh đuổi phải chạy xuống phương Nam hội nhập vào phần còn lại của quốc gia Văn Lang ở Việt Nam bây giờ. 

    Chính hoàn cảnh lịch sử đã hun đúc lòng yêu nước thương nòi của con dân đất Việt, mỗi người Việt Nam sinh ra đã có một gene di truyền yêu nước thương nòi. Lãnh thổ Việt Nam hiện tại tập trung đồng bào thuộc các chi tộc Việt đã tạo thành một sức mạnh tổng lực để vùng lên quật khởi giành lại nền độc lập dân tộc sau gần 1 ngàn năm nô lệ vào đúng thời điểm Hán tộc phương Bắc suy yếu.

    Hán tộc là một tộc người du mục, bản chất hiếu chiến hiếu sát với tư tưởng chủ đạo “Độc tôn Đại Hán,” tự cho mình là trung tâm của thiên hạ nên ngay từ triều Thương, sau khi đánh đuổi nhà Hạ của tộc Việt đã chọn tên nước là Trung Quốc. Trung Quốc là nước trung tâm của thiên hạ, triều đình Trung Quốc là “Thiên Triều” trong khi các nước khác là chư hầu, vua Trung Quốc là Thiên tử.

    Sau khi đã xâm chiếm nhà Hạ và các nước Bách Việt, hết Thương rồi đến Chu đã xâm thực văn hóa, tiếp thu tinh hoa của nền văn minh Việt rồi cải biến thành văn hóa Hán. Từ mặc cảm tự ti của tộc người du mục, sau những chiến thắng Hán tộc trở nên tự tôn, cho rằng Hán tộc là siêu việt, là trung tâm nên đặt tên nước là Trung Quốc.

    Lịch sử đã chứng minh rằng Hán tộc đã tiếp thu văn hóa Việt, cải biến thành văn minh Trung Quốc rồi xem tất cả các nước là man di mọi rợ nên Hán sử viết tên của những dân tộc xung quanh họ kèm theo bộ khuyển (chó), bộ trãi (côn trùng), bộ mã (ngựa). Các sử gia Hán tộc với quan niệm: “Đại nhất thống” tự nhận là tộc người ưu việt, trung tâm của thế giới là cái rốn của nhân loại. Chủ trương trước sau như một của Đại Hán bành trướng là “Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy Tứ phương” nghĩa là: “Lấy ân huệ Trung Quốc để yên định bốn phương”. Đó là chủ trương bành trướng Đại Hán “Dĩ Hạ biến Di” nghĩa là lấy cái cao thượng, tao nhã của Đại Hán để cải hoá man di mọi rợ!

    Các công trình nghiên cứu văn hóa đã chứng minh Hán tộc  tiếp nhận văn hóa Việt, triều Chu  lấy chữ viết của  tộc Việt sửa đổi thành chữ Hán. Với sức mạnh của kẻ thống trị, Hán tộc đã triệt tiêu văn hóa, chữ viết Việt cổ bắt buộc phải nói và viết lối chữ Quan Thoại. Lợi dụng Hán tự là văn tự duy nhất, các sử gia Trung Quốc từ cổ đại đến nay đã xuyên tạc, bóp méo sự thật, sửa đổi cho phù hợp với sử quan Đại Hán để đánh đổ lòng tự hào dân tộc của các dân tộc bị trị để dễ bề thống trị và đồng hoá. Đó là chủ trương nhất quán, là bản chất bành trướng thâm độc của họ xuyên suốt dòng lịch sử từ xưa tới nay. Chính vì thế, lịch sử Trung Quốc là lịch sử của những cuộc chiến tranh xâm lược bành trướng, thôn tính và đồng hóa các dân tộc khác.

    Lịch sử Trung Quốc khởi từ triều Thương với lãnh thổ chỉ rộng bằng 2 tỉnh ngày nay mà bây giờ đã trở thành một đế quốc rộng lớn thống trị các dân tộc Mông, Mãn, Tạng và Hồi. Nhà Trung Hoa học Terrien De LaCouperie trong tác phẩm “China Before the Chinese” đã nhận định rằng đế quốc Trung Quốc đã thôn tính và đồng hóa 21 sắc dân khác.

    Chủ trương tiêu diệt văn hóa Việt của quân Minh được sử gia Trần Trọng Kim ghi lại trong như sau: “Triều Minh xóa sạch văn hóa và bản sắc người Việt, bắt người Việt phải sinh hoạt giống người Tàu, từ cách ăn mặc, học hành, đến việc cúng tế. Đàn ông Việt Nam bị hoạn thiến rất nhiều. Sách vở bị đốt phá, báu vật, sách quý và những người tài giỏi đều bị đem về Tàu. Các sách lịch sử, binh pháp có giá trị của Đại Việt được lưu truyền từ nhiều đời, đặc biệt là binh pháp đời Trần, đã bị thất truyền là do vậy. Trong số hơn 7600 nhân tài của Đại Việt trong đó có nhà chế tạo súng Hồ Nguyên Trừng, kiến trúc gia Nguyễn An bị bắt sang Tàu để phục vụ chính quyền nhà Minh, đồng hóa họ, sinh con đẻ cháu và chết luôn bên Tàu. Ngoài ra, triều Minh còn áp dụng hệ thống sưu cao thuế nặng, ra sức khai thác tài nguyên của Đại Việt đem về Trung Hoa”.[2]

    Đế quốc Trung Cộng chỉ mới xâm chiếm Tây Tạng từ năm 1959 đến nay mới có hơn một nửa thế kỷ mà Đức Đạt lai Lạt Ma của Tây Tạng đã ngậm ngùi cay đắng thốt lên: “Tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ và nhân cách của các thế hệ Tây Tạng, vốn quý giá hơn mạng sống của họ, nay đã gần như bị tiêu diệt ! Đảng cộng sản và nhà nước Trung Cộng đã biến Tây Tạng thành một “Địa ngục trần gian!”.

    Đã đến lúc phải trả lại lịch sử những gì của lịch sử. Dưới ánh sáng của chân lý khách quan, lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm bởi sức mạnh của kẻ thống trị. Kết quả của khoa Phân tích Di truyền hoàn toàn phù hợp với thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử kể cả truyền thuyết Rồng Tiên về thời kỳ dựng nước của Việt tộc.

    Chứng cớ khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau. Genome mã di truyền DNA của đại tộc Việt và Tàu Hán hoàn toàn khác nhau. Đặc biệt, Việt tộc và các dân tộc Đông Nam Á, kể cả người Trung Quốc ở miền Đông và miền Nam Trung Quốc có cùng một Haplotype A B C D và có yếu tố đột biến di truyền đặc biệt của châu Á trong khi Hán tộc không có yếu tố này.[3] Các công trình khoa học cũng xác định địa bàn cư trú của tộc người Malaysian=Malayo-Viets từ rặng Tần Lĩnh, hạ lưu sông Hoàng Hà ở Trung nguyên trải dài xuống tận vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới hạ lưu sông Hoàng Hà, phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt.

[1]. Âu Đại Nhậm: Bách Việt Tiên Hiền Chí, Trần Lam Giang dịch, Ban Tu Thư Thư viện Việt Nam ấn hành 2006. Việt Nam Suối Nguồn Văn minh phương Đông của Du Miên trích dẫn, NXB TTNC Văn Hóa Việt Nam tr 223.

[2]. Trần Trọng Kim: Việt Nam Sử Lược, NXB Tân Việt Sài Gòn tr 235.

[3].  S.W. Ballinger& đồng nghiệp: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45. “The greatest mtDNA diversity and the highest frequency of mtDNA with HpaI/HincII were observed in the Vietnamese…”

Advertisements

Ngày Tù Nhân Lương Tâm

LỊCH SỬ VIỆT

Ý nghĩa của ngày tù nhân lương tâm

Kính thưa
Quý vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo
Quý vị quan khách, Quý vị lãnh đạo các Hội đoàn Đoàn thể
Quý Đồng hương và quý cơ quan truyền thông báo chí,

Kính thưa quý vị,

Hôm nay là ngày kỷ niệm 70 năm ngày Liên Hiệp Quốc công bố bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền 10-12-1948, tuyên dương lý tưởng nhân bản cao đẹp của nhân loại, đồng thời cũng là ngày kỷ niệm năm thứ mười hai ngày thành lập hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền long trọng tuyên cáo trước toàn thể nhân loại rằng: “ Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền sống làm người, quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… để mọi người không còn nghèo khó và sợ hãi bạo quyền, nhân quyền phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người”.

Bản tuyên ngôn cũng là sự kết hợp tính nhân đạo thuộc nhiều nền văn minh trên thế giới, từ ý niệm về nhân phẩm của phương Đông đến các quyền con người, quyền công dân được đúc kết từ các bản Tuyên ngôn trước đó như: Habeas corpus của Anh quốc năm 1679, Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789 và 1793).

Ngày nay, nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba nhưng chỉ còn vài ba nước CS trong đó có nhà nước CSVN vẫn không tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Họ cho rằng không thể áp đặt quan niệm phương Tây vào những hoàn cảnh điều kiện khác nhau của mỗi nước để bao biện cho chế độ Cộng sản độc tài toàn trị mà thôi … Nhân loại văn minh đều tôn trọng giá trị nhân bản có tính phổ quát vì khi một người sinh ra thì họ đã là một người nên phải được hưởng đầy đủ những quyền căn bản của một con người, sau đó mới tới người đó sinh ra ở quốc gia nào và theo tôn giáo nào… Cho đến ngày nay mà nhà nước CHXHCNVN vẫn rêu rao là một nhà nước pháp quyền, có cả một rừng luật nên họ áp dụng luật rừng,  luật giang hồ, luật xã hội đen đối với đồng bào yêu nước ngay trong thời đại văn minh này.

Thưa quý vị, Liên Hiệp Quốc trên danh nghĩa là bảo vệ nhân quyền khắp nơi trên thế giới nhưng mỉa mai thay trên thực tế, các nước theo XHCN đã dùng thương mại vận động ngoại giao loby để những nước chà đạp nhân quyền như CHXHCNVN, CHNDTH vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ nên TT Hoa Kỳ, Donald Trump đã quyết định rút tên Hoa Kỳ ra khỏi Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, một cơ chế lỗi thời không hiệu quả… thay vào đó một hội nghị gồm 85 bộ trưởng ngoại giao các nước đã họp tại Washington DC để công bố một bản “Tuyên Bố Potomac” ngày 26-7-2018 để đối đầu trực diện với những vi phạm quyền tự do tôn giáo và tội ác diệt chủng, các tội ác ảnh hưởng đến một số đông người trên toàn thế giới.

Ngay sau khi Bản Tuyên Bố Potomac ra đời, nhà cầm quyền Thổ Nhĩ Kỳ phải trả tự do cho một mục sư công dân Hoa Kỳ, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc bước xuống tham gia vào cuộc biểu tình của người dân Venezuela tuyên bố ủng hộ nguyện vọng chính đáng của người dân Venezuela tranh đấu loại bỏ TT độc tài. Đặc biệt TT Hoa Kỳ Donald Trump đã đọc bài diễn văn nảy lửa lên án xã hội chủ nghĩa và kêu gọi mọi người trên toàn thế giới hãy cùng nhau loại bỏ cái chủ nghĩa độc tài, lỗi thời chỉ mang đến nghèo đói khốn khó cho người dân ở những nước nào theo chủ nghĩa CS… Chính vì vậy, khi đến Việt Nam tham dự Hội nghị Apec 2017, TT Hoa Kỳ Donald Trump đã ca ngợi tinh thần hào hùng bất khuất của Hai Bà Trưng đứng lên khởi nghĩa giành lại độc lập từ tay đế quốc Tàu Hán xưa… Sau đêm dài sống đời nô lệ của kiếp ngựa trâu dưới sự thống trị bạo tàn của tập đoàn Việt gian Cộng sản, toàn dân Việt Nam đang sống lại “Hào Khí Diên Hồng”, chắc chắn dân tộc Việt sẽ sản sinh ra những Bà Trưng Bà Triệu, những Quang Trung Thời đại để cứu dân cứu nước…

Đứng trước đại họa mất nước cận kề, toàn thể đồng bào trong nước chúng ta phải quyết tâm xuống đường đấu tranh giành lại quyền dân chủ tự do, quyền sống làm người để chống quân Tàu Cộng xâm lược trước khi đã quá muộn. Một khi toàn dân xuống đường đấu tranh ôn hòa bất bạo động mà nhà cầm quyền đàn áp đổ máu thì Hoa Kỳ và các nước dân chủ tự do cam kết trong Tuyên bố Potomac sẽ can thiệp trực tiếp như các cuộc cách mạng ở Ai Cập vừa qua để chuyển đổi lịch sử…

Thưa quý vị,

Hôm nay chúng ta tổ chức “Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam” chính là để để vinh danh những tù nhân chính trị, Tôn giáo đã đứng lên đấu tranh cho tự do, dân chủ sau ngày mất nước 30-4-1975. Chúng ta cùng tưởng niệm hơn 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam, những anh hùng dân tộc đã bị chế độ CS bất nhân, buôn dân bán nước đem ra pháp trường xử tử.  Thưa quý vị, Ngày Tù nhân Lương tâm Việt nam đã được sự  ủng hộ  nhiệt tình của 109 Hội đoàn, Đoàn thể  trong nước và  Hải ngoại cho “Ngày Tù Nhân Lương tâm Việt Nam” nên Quốc Hội Tiểu Bang California ngày 10-12-2012 đã vinh danh “NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM” đúng vào ngày “Quốc Tế Nhân Quyền” 10-12 hàng năm.

Ngày Tù nhân Lương Tâm năm 2017, chúng tôi đã trao 9 giải Dân Quyền cho các tù nhân Lương Tâm Trần Anh Kim, Trần Thị Nga, MS Nguyễn Trung Tôn, KS Phạm văn Trội, nhà báo Trương Minh Đức, PT Liên Đới Dân Oan, nhà văn Trần Đức Thạch, LS Võ An Đôn và LS Nguyễn Bắc Truyển…Đặc biệt, năm nay Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính trị và Tôn Giáo Việt Nam sẽ trao giải dân quyền và Cây Mùa Xuân Dân chủ để chia xẻ với những đồng bào bị đánh dã man và bị xử án nặng nề sau ngày 10-6-2018, ngày tổng biểu tình của toàn dân yêu nước chống cái gọi là Luật An ninh mạng, Luật Đặc Khu nhượng địa cho Tàu Cộng.

Kính Thưa Quý vị,

Trong không khí trang nghiêm này, chúng ta cùng thắp nén hương lòng tưởng nhớ và tri ân những anh hùng dân tộc, vinh danh những chiến sĩ dân chủ, giới nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các thanh niên sinh viên yêu nước và nhất là cuộc Tổng biểu tình ngày 10-6-2018 biểu dương sức mạnh của toàn dân chống luật Đặc Khu, luật an ninh mạng của tập đoàn Việt gian CS bất nhân hại dân bán nước. Đồng bào Việt Nam yêu nước trên toàn quốc sẽ xuống đường đấu tranh đòi dân chủ tự do, đòi cơm áo và quyền sống làm người, đòi lại tài sản đất đai đã bị tước đoạt để giải thể bạo quyền Cộng sản bất nhân hại dân bán nước…

Thưa Quý vị, Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ chế độ độc tài nào cũng phải xụp đổ khi quần chúng nhất loạt xuống đường chống độc tài tham nhũng, chống áp bức bất công để giành lại quyền sống làm người, quyền làm chủ đất nước. “Đại nghĩa tất thắng hung tàn, chí nhân phải thay cường bạo”, Tập đoàn Việt gian bán nước cũng sẽ chịu chung một số phận trong một ngày gần đây.

Trân trọng kính chào quý vị.

PHẠM TRẦN ANH.

 

 

Ý nghĩa của ngày tù nhân lương tâm

Ý nghĩa của ngày tù nhân lương tâm

Kính thưa

Quý vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo

Quý vị quan khách, Quý vị lãnh đạo các Hội đoàn Đoàn thể

Quý Đồng hương và quý cơ quan truyền thông báo chí,

Kính thưa quý vị,

Hôm nay là ngày kỷ niệm 70 năm ngày Liên Hiệp Quốc công bố bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền 10-12-1948, tuyên dương lý tưởng nhân bản cao đẹp của nhân loại, đồng thời cũng là ngày kỷ niệm năm thứ mười hai ngày thành lập hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền long trọng tuyên cáo trước toàn thể nhân loại rằng: “ Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền sống làm người, quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… để mọi người không còn nghèo khó và sợ hãi bạo quyền, nhân quyền phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người”.

Bản tuyên ngôn cũng là sự kết hợp tính nhân đạo thuộc nhiều nền văn minh trên thế giới, từ ý niệm về nhân phẩm của phương Đông đến các quyền con người, quyền công dân được đúc kết từ các bản Tuyên ngôn trước đó như: Habeas corpus của Anh quốc năm 1679, Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789 và 1793).

Ngày nay, nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba nhưng chỉ còn vài ba nước CS trong đó có nhà nước CSVN vẫn không tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Họ cho rằng không thể áp đặt quan niệm phương Tây vào những hoàn cảnh điều kiện khác nhau của mỗi nước để bao biện cho chế độ Cộng sản độc tài toàn trị mà thôi … Nhân loại văn minh đều tôn trọng giá trị nhân bản có tính phổ quát vì khi một người sinh ra thì họ đã là một người nên phải được hưởng đầy đủ những quyền căn bản của một con người, sau đó mới tới người đó sinh ra ở quốc gia nào và theo tôn giáo nào… Cho đến ngày nay mà nhà nước CHXHCNVN vẫn rêu rao là một nhà nước pháp quyền, có cả một rừng luật nên họ áp dụng luật rừng,  luật giang hồ, luật xã hội đen đối với đồng bào yêu nước ngay trong thời đại văn minh này.

Thưa quý vị, Liên Hiệp Quốc trên danh nghĩa là bảo vệ nhân quyền khắp nơi trên thế giới nhưng mỉa mai thay trên thực tế, các nước theo XHCN đã dùng thương mại vận động ngoại giao loby để những nước chà đạp nhân quyền như CHXHCNVN, CHNDTH vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ nên TT Hoa Kỳ, Donald Trump đã quyết định rút tên Hoa Kỳ ra khỏi Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, một cơ chế lỗi thời không hiệu quả… thay vào đó một hội nghị gồm 85 bộ trưởng ngoại giao các nước đã họp tại Washington DC để công bố một bản “Tuyên Bố Potomac” ngày 26-7-2018 để đối đầu trực diện với những vi phạm quyền tự do tôn giáo và tội ác diệt chủng, các tội ác ảnh hưởng đến một số đông người trên toàn thế giới.

Ngay sau khi Bản Tuyên Bố Potomac ra đời, nhà cầm quyền Thổ Nhĩ Kỳ phải trả tự do cho một mục sư công dân Hoa Kỳ, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc bước xuống tham gia vào cuộc biểu tình của người dân Venezuela tuyên bố ủng hộ nguyện vọng chính đáng của người dân Venezuela tranh đấu loại bỏ TT độc tài. Đặc biệt TT Hoa Kỳ Donald Trump đã đọc bài diễn văn nảy lửa lên án xã hội chủ nghĩa và kêu gọi mọi người trên toàn thế giới hãy cùng nhau loại bỏ cái chủ nghĩa độc tài, lỗi thời chỉ mang đến nghèo đói khốn khó cho người dân ở những nước nào theo chủ nghĩa CS… Chính vì vậy, khi đến Việt Nam tham dự Hội nghị Apec 2017, TT Hoa Kỳ Donald Trump đã ca ngợi tinh thần hào hùng bất khuất của Hai Bà Trưng đứng lên khởi nghĩa giành lại độc lập từ tay đế quốc Tàu Hán xưa… Sau đêm dài sống đời nô lệ của kiếp ngựa trâu dưới sự thống trị bạo tàn của tập đoàn Việt gian Cộng sản, toàn dân Việt Nam đang sống lại “Hào Khí Diên Hồng”, chắc chắn dân tộc Việt sẽ sản sinh ra những Bà Trưng Bà Triệu, những Quang Trung Thời đại để cứu dân cứu nước…

Đứng trước đại họa mất nước cận kề, toàn thể đồng bào trong nước chúng ta phải quyết tâm xuống đường đấu tranh giành lại quyền dân chủ tự do, quyền sống làm người để chống quân Tàu Cộng xâm lược trước khi đã quá muộn. Một khi toàn dân xuống đường đấu tranh ôn hòa bất bạo động mà nhà cầm quyền đàn áp đổ máu thì Hoa Kỳ và các nước dân chủ tự do cam kết trong Tuyên bố Potomac sẽ can thiệp trực tiếp như các cuộc cách mạng ở Ai Cập vừa qua để chuyển đổi lịch sử…

Thưa quý vị,

Hôm nay chúng ta tổ chức “Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam” chính là để để vinh danh những tù nhân chính trị, Tôn giáo đã đứng lên đấu tranh cho tự do, dân chủ sau ngày mất nước 30-4-1975. Chúng ta cùng tưởng niệm hơn 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam, những anh hùng dân tộc đã bị chế độ CS bất nhân, buôn dân bán nước đem ra pháp trường xử tử.  Thưa quý vị, Ngày Tù nhân Lương tâm Việt nam đã được sự  ủng hộ  nhiệt tình của 109 Hội đoàn, Đoàn thể  trong nước và  Hải ngoại cho “Ngày Tù Nhân Lương tâm Việt Nam” nên Quốc Hội Tiểu Bang California ngày 10-12-2012 đã vinh danh “NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM” đúng vào ngày “Quốc Tế Nhân Quyền” 10-12 hàng năm.

Ngày Tù nhân Lương Tâm năm 2017, chúng tôi đã trao 9 giải Dân Quyền cho các tù nhân Lương Tâm Trần Anh Kim, Trần Thị Nga, MS Nguyễn Trung Tôn, KS Phạm văn Trội, nhà báo Trương Minh Đức, PT Liên Đới Dân Oan, nhà văn Trần Đức Thạch, LS Võ An Đôn và LS Nguyễn Bắc Truyển…Đặc biệt, năm nay Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính trị và Tôn Giáo Việt Nam sẽ trao giải dân quyền và Cây Mùa Xuân Dân chủ để chia xẻ với những đồng bào bị đánh dã man và bị xử án nặng nề sau ngày 10-6-2018, ngày tổng biểu tình của toàn dân yêu nước chống cái gọi là Luật An ninh mạng, Luật Đặc Khu nhượng địa cho Tàu Cộng.

Kính Thưa Quý vị,

Trong không khí trang nghiêm này, chúng ta cùng thắp nén hương lòng tưởng nhớ và tri ân những anh hùng dân tộc, vinh danh những chiến sĩ dân chủ, giới nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các thanh niên sinh viên yêu nước và nhất là cuộc Tổng biểu tình ngày 10-6-2018 biểu dương sức mạnh của toàn dân chống luật Đặc Khu, luật an ninh mạng của tập đoàn Việt gian CS bất nhân hại dân bán nước. Đồng bào Việt Nam yêu nước trên toàn quốc sẽ xuống đường đấu tranh đòi dân chủ tự do, đòi cơm áo và quyền sống làm người, đòi lại tài sản đất đai đã bị tước đoạt để giải thể bạo quyền Cộng sản bất nhân hại dân bán nước…

Thưa Quý vị, Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ chế độ độc tài nào cũng phải xụp đổ khi quần chúng nhất loạt xuống đường chống độc tài tham nhũng, chống áp bức bất công để giành lại quyền sống làm người, quyền làm chủ đất nước. “Đại nghĩa tất thắng hung tàn, chí nhân phải thay cường bạo”, Tập đoàn Việt gian bán nước cũng sẽ chịu chung một số phận trong một ngày gần đây.

Trân trọng kính chào quý vị.

PHẠM TRẦN ANH.

 

 

TT Donald Trump Cương Quyết bảo vệ Thương mại Công bằng

Trong tuần này, TT Trump đã áp đặt các mức thuế mới đối với các mặt hàng nhập cảng như máy giặt gia dụng và các bản điện thu nhận năng lượng mặt trời.

Ông còn không tới 90 ngày nữa để quyêt định có nên áp dụng luật thuế mới cho các hàng nhập cảng như nhôm, thép, và ông cũng sẽ phải quyết định có nên rút Hoa Kỳ ra khỏi hiệp ước NAFTA với Canada và Mễ Tây Cơ không, nếu ông không cảm thấy hài lòng với kết quả đàm phán nhằm tu chính lại hiệp định thương mại này.

Ngoài ra, tổng trưởng thương mại Wilbur Ross cũng đã đọc bài diễn văn, nhằm đưa ra những chính sách thương mại, cũng tại Diễn Đàn này. Ông Wilbur Ross nói rằng “lãnh vực thách thức kế đến” chính là ngành kỹ thuật của Trung Quốc.

Vào hôm thứ tư rồi, khi nói chuyện với các ký giả, ông Wilbur Ross nói rằng “nhiều quốc gia rất giỏi khi hùng biện về thương mại tự do, nhưng trên thực tế thì áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch một cách cực đoan. Đó chính là vấn đề mà tổng thống quyết tâm đối phó.”

TrungQuốc đã hỗ trợ mạnh mẽ đàng sau hậu trường của các ngành trí thông minh nhân tạo, xe hơi điện và các con chips điện tử. Họ bơm tiền vào để tạo ra các công ty vô địch với ảnh hưởng toàn cầu.

Tổng trưởng Wilbur Ross cũng nói thêm: “Đó là những sự đe dọa trực tiếp, và sự đe dọa trực tiếp này được thực hiện bằng các đòi hỏi chuyển giao công nghệ, bằng sự không tôn trọng quyền sở hữu sản phẩm trí tuệ, và bằng tình báo thương mại, dưới nhiều hình thức xấu xa và tồi tệ.”

Phải chăng hai bài nói chuyện của TT Trump và tổng trưởng Wilbur Ross là những dấu hiệu tuyên chiến về chiến tranh thương mại mở đầu năm 2018 này tại Davos.

Nguyễn Dương (Cali Today)</strong><img src=”https://www.vntv.online/wp-content/uploads/2018/01/Trump-Davos-300×169.jpg&#8221; alt=”” width=”300″ height=”169″ class=”alignnone size-medium wp-image-3783″ />

Tuyên Bố chung Ấn Độ Asean

Biển Đông: Ấn Độ – ASEAN yêu cầu giải quyết tranh chấp theo luật quốc tế
Trọng Thành Đăng ngày 26-01-2018 Sửa đổi ngày 26-01-2018 13:52
media
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi ( giữa ) chụp ảnh lưu niệm với các lãnh đạo ASEAN tại thượng đỉnh New Delhi 25/01/2018.
Handout / AFP
Ấn Độ và ASEAN vừa có cuộc họp thượng đỉnh lịch sử, với việc lần đầu tiên New Delhi mời toàn bộ 10 lãnh đạo khối các nước Đông Nam Á tham dự lễ kỉ niệm Ngày Cộng Hòa Ấn Độ. Trong bản « Tuyên bố chung Delhi », được công bố hôm qua, 25/01/2018, hai bên đặc biệt nhấn mạnh rằng các tranh chấp tại Biển Đông phải được giải quyết thể theo luật pháp quốc tế.

Hợp tác về « chính trị và an ninh » là lĩnh vực được hai bên quan tâm trước hết. Trong Tuyên bố chung Delhi, Ấn Độ và ASEAN tái khẳng định vai trò trung tâm của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á trong kiến trúc an ninh quốc tế đang hình thành tại khu vực, với nguyên tắc « rộng mở, minh bạch, không loại trừ ai và dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế ».

Thông cáo chung khẳng định « tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định an toàn hàng hải và an ninh, tự do hàng hải và hàng không trong khu vực » nói chung, và mọi tranh chấp cần được « giải quyết bằng con đường hòa bình », thể theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, mà trong đó Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 là một trụ cột.

Biển Đông là khu vực địa chiến lược duy nhất được Ấn Độ và ASEAN nêu tên trong văn bản nói trên. Tuyên bố chung Delhi khẳng định ủng hộ việc thực thi « hoàn toàn và đầy đủ » Tuyên Bố về Ứng Xử của Các Bên ở Biển Đông (gọi tắt là DOC) và kêu gọi các bên liên quan sớm hoàn tất Bộ Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông (COC), nhằm phòng ngừa và tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các xung đột tại khu vực này.

Tuyên bố chung Delhi cũng thúc đẩy các hợp tác về kinh tế giữa Ấn Độ và ASEAN trong khuôn khổ không gian thương mại tự do song phương, « bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên trên biển tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương », tăng cường hợp tác về giao thông đường bộ, đường biển và hàng không, công nghệ tin học. Trong số các hợp tác văn hóa xã hội, hợp tác đào tạo Anh ngữ, cổ vũ cho các quan hệ văn hóa, văn minh lâu đời giữa các nước Đông Nam Á và Ấn Độ, nhất là tại khu vực đồng bằng sông Mê Kông, được chú ý hàng đầu.

LỊCH SỬ VIỆT 1

NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT PHẠM TRẦN ANH

3 phút ago

2 Views
 

LỜI GIỚI THIỆU

Ông Phạm Trần Anh là một người anh em kết nghĩa của tôi, tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh và đã dấn thân tranh đấu cho dân chủ ngay thời còn sinh viên. Anh có một tấm lòng rộng rãi tốt bụng, hay giúp đỡ mọi người. Anh có trình độ nhận thức cao, có đầy đủ chí khí và tinh thần nhiệt huyết, phong cách bình dị, sống gần gũi với anh em, rất thông cảm với anh em bạn tù đặc biệt là những người nghèo khổ bệnh hoạn và anh em đồng bào thiểu số. Anh thường lui tới an ủi tâm sự với những anh em có trình độ thấp hoặc khốn khó, bơ vơ trong tù. Anh đã từng leo rào vào ăn uống với anh em bị bệnh lao trong trại tù Xuân Lộc mà không sợ bị lây nhiễm hoặc bị cùm còng kỷ luật của công an Cộng Sản…

Tháng 5 năm 1996, ông Phạm Trần Anh và tôi đã cùng Thượng Tọa Thích Trí Siêu, Thầy Nguyễn Viết Huân dòng Đồng Công, giáo sư Nguyễn Mạnh Bảo Cao Đài, cụ Nguyễn văn Đấu Phật Giáo Hòa Hảo đã đấu tranh chống lao động và học tập chính trị. Chúng tôi đã biến lớp học chính trị của Cộng Sản trong tù thành diễn đàn đấu tranh công khai đòi dân chủ tự do, đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp của cái gọi là nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đòi quyền sống tối thiểu của con người …

Nhân danh hội Bảo vệ Tù nhân Chính trị bao gồm các thành viên đủ màu sắc tôn giáo đứng lên đấu tranh và cùng ký tên gửi Kháng Thư tới Liên Hiệp quốc. Bản Kháng Thư đã được Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và Uỷ Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam đưa ra trước Phân ban Nhân quyền Liên Hiệp quốc như sau: “Ngày 27 tháng 5 năm 1996, tập thể tù nhân chính trị tại trại Z30A K1 đã biểu tình đưa kiến nghị đòi cải thiện chế độ lao tù theo đúng như những quy định trong điều 36 về những quy định tối thiểu về việc đối xử tù nhân của Liên Hiệp quốc. Tất cả tù nhân chính trị đã ký tên gồm Đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: TT Thích Thiện Minh, Đại diện Thiên Chúa giáo: Thầy Nguyễn Viết Huân Dòng Đồng Công, đại diện Cao Đài: GS Nguyễn văn Bảo, đại diện Phật Giáo Hòa Hảo cụ Nguyễn văn Đấu và Hội Bảo vệ Tù nhân Chính trị Việt Nam: Huỳnh Hưng Quốc tức Phạm Trần Anh …”. Cũng thời gian này, anh em tù nhân chính trị tại trại tù Xuân Phước cũng đứng lên đấu tranh đòi dân chủ nhân quyền cùng viết lên thiên sử ca kiêu hùng ngay trong các trại tù khổ sai của chế độ Cộng sản.

Trải qua nhiều năm dài chung sống trong tù, ông luôn luôn giữ trọn khí tiết và tình nghĩa, tôi vô cùng trân trọng mặc dù trong thời gian tù tội ông cũng gặp những nghịch cảnh thương đau như bao nhiêu người tù khác khi người vợ thân yêu của mình vì thời gian xa cách và hoàn cảnh cuộc sống đã quyết định chia tay… Ông không nói gì về việc này, không có vẻ buồn phiền gì nhưng thỉnh thoảng tôi bắt gặp ông ngồi trầm ngâm với điếu thuốc trên tay, đôi mắt đăm chiêu nhìn về phương trời xa vắng. Tôi hiểu và thương ông nhiều hơn. Tuy là người tu hành nhưng nhưng tôi cũng hiểu rằng, người chiến sĩ cách mạng cũng là một con người bình thường, ngoài lý tưởng cao đẹp còn mang tâm hồn của một người nghệ sĩ lãng mạn và còn là một người chồng người cha. Nếu không yêu nước thương dân, không có một chút lãng mạn bất cần đời, bất cần thân thể thì làm sao dám đánh đổi cuộc đời mình với những rủi ro bất trắc kể cả với cái chết. Tôi chưa kịp hỏi và an ủi anh thì như hiểu được ý tôi nên ông nói ngay: “Thầy Ba đừng bận tâm nhiều. Đây là chuyện đời thường, chuyện nhỏ mà …”. Tôi nói ngay “Bộ ông không buồn à?”. Ông chậm rãi trả lời: “Buồn thì có buồn chứ, mình là con người mà chứ có phải cỏ cây gỗ đá gì đâu nhưng cũng may, nói theo thi sĩ Tản Đà thì mình đã có một mối tình lớn, mối tình với đất nước dân tộc thì sá gì một mối tình con! Phải thế không thầy Ba?”. Tuy ông nói vậy nhưng trong thâm tâm tôi vẫn hiểu và thương anh nhiều. Mai kia, nếu còn sống sót trở về sau một thời gian tù ngục bằng nửa đời người, anh sẽ sống trong cô đơn với những nỗi ưu phiền chồng chất. Chắc chắn là ông sẽ phải đương đầu hoặc tìm cách ẩn nhẫn với một kẻ thù nguy hiểm luôn rình rập mưu hại người yêu nước. Tôi luôn luôn tin tưởng một người có nghị lực và ý chí cao như ông sẽ vượt qua tất cả những khúc khuỷu gập ghềnh, cam go nguy hiểm chờ đợi từng ngày từng giờ để vươn lên, vượt qua tất cả. Suốt chín năm sống ngoài xã hội nhưng thực sự là một nhà tù vĩ đại ông đã phải đương đầu với biết bao khó khăn cản trở nhưng ông vẫn nhẫn nại, âm thầm tiếp xúc với quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo và các chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ trong nước để vận động thành lập Hội Ái hữu Tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam trước khi lên đường sang Hoa Kỳ đoàn tụ với gia đình, đồng thời dành hết tâm sức để hoàn thành một công trình lớn tìm về “Cội nguồn Dân tộc”, một đóng góp to lớn cho dân tộc Việt. Công trình nghiên cứu vô giá của ông rất đáng khâm phục, thật xứng đáng là con dân nước Việt, con cháu của dòng giống Rồng Tiên. Tôi nghĩ tới câu nói của người xưa thật là đúng với con người nặng lòng với đất nước này: “Đi một mình không thẹn với bóng, ngủ một mình không thẹn với chăn vì đã giữ vẹn một tinh thần cao đẹp tinh khiết!”.

Mãi đến tháng 9 năm 2006, sau nhiều lần tìm cách ngăn cản nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải để ông xuất ngoại đoàn tụ với gia đình sau hơn 29 năm xa cách. Ông được Hội Đồng Cố Vấn và Giám Sát Hội Ái hữu Tù nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam trao phó nhiệm vụ Phó Hội trưởng Đặc trách ngoại vụ kiêm Chủ tịch Hội đồng Điều hành Hải ngoại của Hội. Hội đang sưu tầm danh sách hàng trăm tù nhân chính trị bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam xử tử hình và xuất bản tập Thơ Tù “Bất khuất” để giới thiệu với đồng bào trong và ngoài nước những đóng góp hi sinh của tù nhân chính trị và tôn giáo Việt Nam.

Trong ý hướng đó, chúng tôi xin mời quý đồng bào đọc những vần thơ của anh em tù nhân chính trị viết từ tận đáy địa ngục trần gian tuy lắm đoạn trường nhưng vẫn thể hiện tinh thần bất khuất vô song của những người Việt Nam yêu nước đấu tranh cho quyền sống làm người: quyền dân chủ, tự do thực sự, để nhân dân Việt Nam được ấm no hạnh phúc thực sự.

THÍCH THIỆN MINH
Hội Trưởng Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN.